USS Little Rock (CL-92)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Little Rock (CLG-4).jpg
Tàu tuần dương USS Little Rock ngoài khơi Naples, Ý, ngày 31 tháng 7 năm 1967
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Little Rock
Đặt tên theo: Little Rock, Arkansas
Hãng đóng tàu: William Cramp and Sons Shipbuilding Co., Philadelphia, Pennsylvania
Đặt lườn: 6 tháng 3 năm 1943
Hạ thủy: 27 tháng 8 năm 1944
Đỡ đầu bởi: Bà Sam Wassell
Nhập biên chế: 17 tháng 6 năm 1945
Tái biên chế: 3 tháng 6 năm 1960
Xuất biên chế: 24 tháng 6 năm 1949
tháng 10 năm 1976
Xếp lớp lại: CLG-4 23 tháng 5 năm 1957
CG-4, 1 tháng 7 năm 1975
Tân trang: 1957 - 1960
Xóa đăng bạ: 22 tháng 11 năm 1976
Số phận: Tặng cho Công viên Hải quân và Quân sự hạt Buffalo và Erie, Buffalo, New York
Tình trạng: Tàu bảo tàng
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Cleveland
Trọng tải choán nước: 11.800 tấn Anh (12.000 t) (tiêu chuẩn)
14.131 tấn Anh (14.358 t) (đầy tải)
Độ dài: 600 ft (180 m) (mực nước)
610 ft 1 in (185,95 m) (chung)
Sườn ngang: 66 ft 4 in (20,22 m)
Độ cao: 113 ft (34 m)
Mớn nước: 20 ft (6,1 m)
Động cơ đẩy: 4 × turbine GE hơi nước hộp số
4 × nồi hơi ống nước Babcock & Wilcox đốt dầu, áp lực 634 psi
4 × trục
công suất 100.000 hp (75.000 kW)
Tốc độ: 33 hải lý một giờ (61 km/h; 38 mph)
Tầm xa: 14.500 nmi (26.850 km; 16.690 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.266
Vũ trang:

12 × pháo 6 in (150 mm)/47 caliber trên tháp pháo ba nòng Mark 16 (4×3);
12 × pháo đa dụng 5 in (130 mm)/38 caliber (6×2);
28 × pháo phòng không Bofors 40 mm (6×4, 2×2);

10 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Bọc giáp: đai giáp chính: 3,25–5 in (83–127 mm);
sàn tàu: 2 in (51 mm);
tháp pháo: 1,5–6 in (38–152 mm);
bệ tháp pháo: 6 in (150 mm);
tháp chỉ huy: 2,25–5 in (57–127 mm)
Máy bay mang theo: 4 × thủy phi cơ SOC Seagull/Vought OS2U Kingfisher
Thiết bị bay: 2 × máy phóng
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Galveston
Trọng tải choán nước: 15.205 tấn Anh (15.449 t)
Độ dài: 610 ft (190 m)
Sườn ngang: 66 ft (20 m)
Mớn nước: 25 ft (7,6 m)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước hộp số
4 × nồi hơi ống nước áp lực 634 psi
4 × trục
công suất 100.000 shp (75.000 kW)
Tốc độ: 32,5 hải lý một giờ (60,2 km/h; 37,4 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.395
Vũ trang:

3 × pháo 6 in (150 mm)/47 caliber (1×3);
2 × pháo đa dụng 5 in (130 mm)/38 caliber (1×2);

2 × bệ phóng tên lửa đất-đối-không Talos (1×2)

USS Little Rock (CL-92/CLG-4/CG-4) là một tàu tuần dương hạng nhẹ của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp Cleveland được hoàn tất trong hoặc ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, và là một trong số sáu chiếc của lớp này được cải biến thành tàu tuần dương tên lửa điều khiển vào cuối những năm 1950. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Mỹ được đặt theo thành phố Little Rock thuộc tiểu bang Arkansas. Little Rock được đưa ra hoạt động vào tháng 6 năm 1945, quá trễ để có thể tham gia chiến tranh; và sau vài năm phục vụ tại bờ Đông, vùng biển Carribe và khu vực Địa Trung Hải, giống như hầu hết các tàu chị em cùng lớp, nó ngừng hoạt động và được đưa về lực lượng dự bị vào năm 1949.

Sau gần mười năm bị bỏ không, Little Rock là một trong số ba chiếc lớp Cleveland được cải biến thành tàu tuần dương tên lửa điều khiển thuộc lớp Galveston. Việc cải biến bao gồm tháo dỡ toàn bộ vũ khí phía đuôi tàu để trang bị hệ thống tên lửa đất-đối-không Talos, đồng thời nó cũng cải biến để phục vụ như soái hạm, nên đã mở rộng cấu trúc thượng tầng phía trước và tháo dỡ hầu hết vũ khí phía mũi. Little Rock được cho tái hoạt động trở lại vào năm 1960 với ký hiệu lườn mới CLG-4 (và từ năm 1975CG-4).

Trong vai trò mới, Little Rock hoạt động rộng rãi tại khu vực Địa Trung Hải, thường là trong vai trò soái hạm của Đệ Lục hạm đội. Nó được cho ngừng hoạt động lần cuối cùng vào năm 1975 và trở thành một tàu bảo tàng tại Buffalo, New York. Little Rock hiện là thành viên duy nhất còn lại của lớp tàu tuần dương Cleveland.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Little Rock được đặt lườn vào ngày 6 tháng 3 năm 1943 tại xưởng tàu của hãng William Cramp and Sons Shipbuilding Co. ở Philadelphia, Pennsylvania. Nó được hạ thủy vào ngày 27 tháng 8 năm 1944, được đỡ đầu bởi Bà Sam Wassell, và được đưa ra hoạt động vào ngày 17 tháng 6 năm 1945 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân William E. Miller.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

1945 - 1949[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chạy thử máy tại vùng biển ngoài khơi Cuba và dọc theo bờ biển Đại Tây Dương, Little Rock khởi hành từ Newport, Rhode Island vào ngày 21 tháng 10 năm 1945 hướng sang Nam Mỹ. Sau chuyến đi đến các nước Châu Mỹ La Tinh kéo dài năm tháng, chiếc tàu tuần dương quay trở về Norfolk vào ngày 23 tháng 3 năm 1946. Trong hai tháng tiếp theo sau, nó tiến hành các cuộc thực tập ngoài khơi bờ Đông và tại vùng biển Caribbe trước khi lên đường đi sang Châu Âu vào ngày 4 tháng 6. Sau khi hoạt động cùng với Đệ Lục hạm đội suốt mùa Hè, Little Rock quay trở về Norfolk vào ngày 27 tháng 9 năm 1946.

Từ tháng 9 năm 1946 cho đến năm 1949, chiếc tàu tuần dương thực hành ngoài khơi bờ Đông, tham gia cơ động huấn luyện tại vùng biển Caribbe và đi sang Địa Trung Hải vào các năm 19471948. Little Rock được cho xuất biên chế vào ngày 24 tháng 6 năm 1949 và được đưa về Hạm đội Dự bị Đại Tây Dương tại New York.

Cải biến thành tàu tuần dương tên lửa điều khiển[sửa | sửa mã nguồn]

Sau gần mười năm bỏ không, Little Rock được xếp lại lớp với ký hiệu lườn mới CLG-4 vào ngày 23 tháng 5 năm 1957, và bắt đầu được cải biến một cách sâu rộng thành một tàu tuần dương tên lửa điều khiển thuộc lớp Galveston. Công việc tái trang bị bao gồm việc thay thế các tháp pháo chính phía sau bằng một dàn phóng tên lửa đất-đối-không Talos. Little Rock được cho nhập biên chế trở lại tại Philadelphia vào ngày 3 tháng 6 năm 1960 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân J. O. Phillips. Chiếc tàu tuần dương tiến hành chạy thử máy huấn luyện tại vùng biển Caribbe, bắn thử nghiệm kiểu vũ khí Talos mới, chuẩn bị gia nhập hạm đội của Hải quân đang được phát triển nhanh chóng bởi những con tàu trang bị tên lửa điều khiển có khả năng mang đầu đạn hạt nhân.

1961 - 1976[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi hành từ Philadelphia vào ngày 9 tháng 2 năm 1961, Little Rock lên đường cho chuyến đi đầu tiên sang Châu Âu trong vai trò mới. Sau sáu tháng hoạt động cùng Đệ Lục hạm đội và các đơn vị khác trong khối NATO, chiếc tàu tuần dương tên lửa quay trở về Norfolk vào tháng 9. Đang khi hoạt động tại vùng biển Caribbe, vào ngày 18 tháng 11 năm 1961, Little Rock được lệnh đi đến vùng biển ngoài khơi Santo Domingo như một công cụ duy trì sự ổn định của Cộng hòa Dominica, sau khi đất nước này rơi vào tình trạng rối loạn do sự tranh giành quyền lực, vốn nảy sinh do khoảng trống chính trị sau khi lãnh tụ Rafael Trujillo bị ám sát.

Trong bốn năm tiếp theo Little Rock thực hiện chuyến đi hàng năm sang khu vực Địa Trung Hải, hoạt động cùng Đệ Lục hạm đội. Nó thay phiên cho chiếc Springfield trong vai trò soái hạm của Đệ Lục hạm đội từ tháng 5 đến tháng 12 năm 1963, khi nó duy trì hòa bình tại khu vực Nam Âu và Trung Đông. Trong thời gian giữa các đợt bố trí sang Địa Trung Hải, nó hoạt động ngoài khơi bờ Đông Hoa Kỳ, tại vùng biển Caribbe và tại Bắc Âu cùng các đơn vị khối NATO khác.

Little Rock đã ở lại khu vực bờ Đông trong năm 1966 để đại tu và huấn luyện ôn tập. Sang năm 1967, nó thay phiên cho chiếc Springfield trong vai trò soái hạm của Đệ Lục hạm đội đặt căn cứ tại Rota, Tây Ban Nha; rồi sau đó chuyển căn cứ nhà đến Gaeta, Ý. Trong những chuyến rời khỏi Gaeta, nó tham gia các cuộc tập trận tại Địa Trung Hải cũng như đưa vị đô đốc hạm đội viếng thăm các cảng nước ngoài. Khi cuộc Chiến tranh sáu ngày năm 1967 nổ ra, nó di chuyển về phía Đông Địa Trung Hải như là tàu chỉ huy của các tàu chiến thuộc khối NATO tại khu vực. Khi chiếc USS Liberty bị lực lượng Israel tấn công, Little Rock đã lập tức đi đến để trợ giúp và là chiếc tàu thứ hai đến hiện trường. Nó thiết lập một vùng an ninh và trợ giúp y tế cho những thành viên thủy thủ đoàn của Liberty bị thương. Trong một cuộc tập trận vào giữa năm 1970, nó va chạm với một tàu khu trục Hy Lạp, và bị hư hại phần mũi. Mũi tàu được sửa chữa tạm thời tại Malta. Đến tháng 9, nó quay trở về Hoa Kỳ và trải qua một đợt đại tu lớn tại xưởng hải quân Boston từ tháng 11 năm 1970 đến mùa Xuân năm 1971. Sau một đợt huấn luyện ôn tập, nó quay trở lại vai trò soái hạm của Đệ Lục hạm đội.

Vào ngày 5 tháng 6 năm 1975, Little Rock tham gia những lễ hội đánh dấu việc khai thông trở lại kênh đào Suez. Là chiếc thứ ba trong đoàn tàu diễu hành, nó đã băng qua phần phía Bắc của kênh đào từ Port Said đến Ismaïlia, thể hiện sự tích cực đóng góp của Hoa Kỳ vào nền hòa bình của Ai Cập và vùng Trung Đông. Sau đó, Little Rock viếng thăm cảng Alexandria, Ai Cập; rồi sau đó băng ngang Địa Trung Hải viếng thăm Dubrovnik thuộc Nam Tư, vốn còn là một nước cộng sản vào lúc đó.

Không lâu sau khi hệ thống tên lửa đất-đối-không Talos được cho ngừng hoạt động, và đang khi vạch kế hoạch cho một đợt đại tu hiện đại hóa và trang bị vũ khí mới hơn, một tai nạn trong phòng nồi hơi trong lúc con tàu đang di chuyển tại Địa Trung Hải đã bộc lộ tình trạng vật chất rất kém trong hệ thống động lực của nó. Việc sửa chữa được tiến hành đủ để cho con tàu quay trở lại Norfolk, và Little Rock được chuẩn bị để cho ngừng hoạt động vào mùa Xuân năm 1976.

Tàu bảo tàng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi được cho ngừng hoạt động, Little Rock được đưa đến Buffalo, New York, nơi nó được mở ra cho công chúng tham quan như một tàu bảo tàng tại Công viên Hải quân và Quân đội Buffalo.

Những hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]