USS Wilkes-Barre (CL-103)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Wilkes-Barre
Tàu tuần dương USS Wilkes-Barre
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Wilkes-Barre
Đặt tên theo: Wilkes-Barre, Pennsylvania
Hãng đóng tàu: New York Shipbuilding Corporation, Camden, New Jersey
Đặt lườn: 14 tháng 12 năm 1942
Hạ thủy: 24 tháng 12 năm 1943
Đỡ đầu bởi: Grace Shoemaker Miner
Nhập biên chế: 1 tháng 7 năm 1944
Xuất biên chế: 9 tháng 10 năm 1947
Xóa đăng bạ: 15 tháng 1 năm 1971
Danh hiệu và
phong tặng:
4 × Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Đánh chìm như một mục tiêu, 1972
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Cleveland
Trọng tải choán nước: 11.800 tấn Anh (12.000 t) (tiêu chuẩn)
14.131 tấn Anh (14.358 t) (đầy tải)
Độ dài: 600 ft (180 m) (mực nước)
610 ft 1 in (185,95 m) (chung)
Sườn ngang: 66 ft 4 in (20,22 m)
Độ cao: 113 ft (34 m)
Mớn nước: 20 ft (6,1 m)
Động cơ đẩy: 4 × turbine GE hơi nước hộp số
4 × nồi hơi ống nước Babcock & Wilcox đốt dầu, áp lực 634 psi
4 × trục
công suất 100.000 hp (75.000 kW)
Tốc độ: 33 hải lý một giờ (61 km/h; 38 mph)
Tầm xa: 14.500 nmi (26.850 km; 16.690 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.266
Vũ trang:

12 × pháo 6 in (150 mm)/47 caliber trên tháp pháo ba nòng Mark 16 (4×3);
12 × pháo đa dụng 5 in (130 mm)/38 caliber (6×2);
28 × pháo phòng không Bofors 40 mm (6×4, 2×2);

10 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Bọc giáp: đai giáp chính: 3,25–5 in (83–130 mm);
sàn tàu: 2 in (51 mm);
tháp pháo: 1,5–6 in (38–150 mm);
bệ tháp pháo: 6 in (150 mm);
tháp chỉ huy: 2,25–5 in (57–130 mm)
Máy bay mang theo: 4 × thủy phi cơ SOC Seagull/Vought OS2U Kingfisher
Thiết bị bay: 2 × máy phóng

USS Wilkes-Barre (CL-103) là một tàu tuần dương hạng nhẹ của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp Cleveland được hoàn tất trong hoặc ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, và là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Mỹ được đặt theo thành phố Wilkes-Barre thuộc tiểu bang Pennsylvania. Wilkes-Barre đã phục vụ tại Mặt trận Thái Bình Dương từ khi đưa vào hoạt động cho đến khi chiến tranh kết thúc. Giống hầu hết các tàu chị em cùng lớp, nó ngừng hoạt động không lâu sau đó và được đưa về lực lượng dự bị. Wilkes-Barre bị đánh chìm như một mục tiêu vào năm 1972.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Wilkes-Barre được đặt lườn vào ngày 14 tháng 12 năm 1942 tại xưởng tàu của hãng New York Shipbuilding Corporation tại Camden, New Jersey. Nó được hạ thủy vào ngày 24 tháng 12 năm 1943, được đỡ đầu bởi Bà Grace Shoemaker Miner, phu nhân vị bác sĩ nổi tiếng tại Wilkes-Barre, và được đưa ra hoạt động tại Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 1 tháng 7 năm 1944 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Robert L. Porter, Jr..

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh Thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất việc trang bị, Wilkes-Barre tiến hành chuyến đi chạy thử máy tại vịnh Chesapeake và tại vịnh Paria, Trinidad trước khi quay trở về Philadelphia để hiệu chỉnh sau thử máy. Lên đường vào ngày 23 tháng 10, chiếc tàu tuần dương mới tiến hành huấn luyện đang khi trên đường đi kênh đào Panama, băng qua kênh đào vào ngày 27 tháng 10 và đi đến San Diego, California, nơi nó được tiếp liệu và tiếp đạn. Sau các cuộc thực hành tác xạ ngoài khơi đảo San Clemente, California, nó lên đường đi Hawaii vào ngày 10 tháng 11. Wilkes-Barre đi đến Trân Châu Cảng vào ngày 17 tháng 11, tiến hành các đợt thực tập tại vùng biển Hawaii trong các ngày 1924 tháng 1123 tháng 12 trước khi rời Oahu vào ngày 14 tháng 12 hướng đến khu vực quần đảo Caroline. Sau khi đi đến Ulithi, Wilkes-Barre gia nhập Đội tuần dương 17 và lên đường vào ngày 30 tháng 12 trong thành phần hộ tống cho Lực lượng Đặc nhiệm 38 dưới quyền chỉ huy của Phó đô đốc John S. McCain.

Máy bay của Lực lượng Đặc nhiệm 38 đã tấn công các mục tiêu tại Đài Loan và phía Nam quần đảo Ryukyu, rồi sau đó nhắm vào các mục tiêu Nhật Bản trên đảo Luzon để hỗ trợ cho cuộc đổ bộ lên hòn đảo thuộc Philippines này. Lực lượng Đặc nhiệm 38 tung ra đợt tấn công thứ hai vào các vị trí Nhật Bản tại Đài Loan vào ngày 9 tháng 1 năm 1945, trước khi đi qua eo biển Bashi trong đêm 910 tháng 1 hướng vào biển Nam Trung Quốc ngăn ngừa mối đe dọa của lực lượng tàu nổi đối phương vốn có thể can thiệp vào cuộc đổ bộ trong vịnh Lingayen. Vào ngày 12 tháng 1, ngày mà máy bay của hải quân đã đánh chìm 127.000 tấn tàu hải quân và tàu buôn đối phương tại khu vực Đông Dương, Wilkes-Barre cùng các tàu chị em trong Đội tuần dương 17 được cho tách khỏi Đội Đặc nhiệm 38.2 để trở thành Đội Đặc nhiệm 34.5, với nhiệm vụ đối phó với lực lượng tàu nổi đối phương được báo cáo hiện diện ngoài khơi vịnh Cam Ranh. Tuy nhiên, máy bay trinh sát từ các tàu tuần dương không tìm thấy dấu vết của đối thủ, nên Wilkes-Barre cùng phần còn lại của Đội tuần dương 17 lại gia nhập cùng Lực lượng Đặc nhiệm 38.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Wilkes-Barre được tặng tưởng bốn Ngôi sao chiến đấu cho thành tích hoạt động trong Thế Chiến II.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 24°36′36″B 81°45′47″T / 24,6101°B 81,763°T / 24.6101; -81.7630