USS Miami (CL-89)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Miami
Tàu tuần dương USS Miami
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Miami
Hãng đóng tàu: Cramp Shipbuilding Co., Philadelphia, Pennsylvania
Đặt lườn: 2 tháng 8 năm 1941
Hạ thủy: 8 tháng 12 năm 1942
Đỡ đầu bởi: Bà C. H. Reeder
Nhập biên chế: 28 tháng 12 năm 1943
Xuất biên chế: 30 tháng 6 năm 1947
Xóa đăng bạ: 1 tháng 9 năm 1961
Danh hiệu và
phong tặng:
6 × Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Bị bán để tháo dỡ 26 tháng 7 năm 1962
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Cleveland
Trọng tải choán nước: 11.800 tấn Anh (12.000 t) (tiêu chuẩn)
14.131 tấn Anh (14.358 t) (đầy tải)
Độ dài: 600 ft (180 m) (mực nước)
610 ft 1 in (185,95 m) (chung)
Sườn ngang: 66 ft 4 in (20,22 m)
Độ cao: 113 ft (34 m)
Mớn nước: 20 ft (6,1 m)
Động cơ đẩy: 4 × turbine GE hơi nước hộp số
4 × nồi hơi ống nước Babcock & Wilcox đốt dầu, áp lực 634 psi
4 × trục
công suất 100.000 hp (75.000 kW)
Tốc độ: 33 hải lý một giờ (61 km/h; 38 mph)
Tầm xa: 14.500 nmi (26.850 km; 16.690 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.266
Vũ trang:

12 × pháo 6 in (150 mm)/47 caliber trên tháp pháo ba nòng Mark 16 (4×3);
12 × pháo đa dụng 5 in (130 mm)/38 caliber (6×2);
28 × pháo phòng không Bofors 40 mm (6×4, 2×2);

10 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Bọc giáp: đai giáp chính: 3,25–5 in (83–127 mm);
sàn tàu: 2 in (51 mm);
tháp pháo: 1,5–6 in (38–152 mm);
bệ tháp pháo: 6 in (150 mm);
tháp chỉ huy: 2,25–5 in (57–127 mm)
Máy bay mang theo: 4 × thủy phi cơ SOC Seagull/Vought OS2U Kingfisher
Thiết bị bay: 2 × máy phóng

USS Miami (CL-89) là một tàu tuần dương hạng nhẹ của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp Cleveland được hoàn tất trong hoặc ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, và là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Mỹ được đặt theo thành phố Miami thuộc tiểu bang Florida. Miami đã phục vụ tại Mặt trận Thái Bình Dương từ khi đưa vào hoạt động cho đến khi chiến tranh kết thúc. Giống hầu hết các tàu chị em cùng lớp, nó ngừng hoạt động không lâu sau đó và được đưa về lực lượng dự bị. Miami bị tháo dỡ vào năm 1962.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Miami được đặt lườn vào ngày 2 tháng 8 năm 1941 tại xưởng tàu của hãng Cramp Shipbuilding Co. tại Philadelphia, Pennsylvania. Nó được hạ thủy vào ngày 8 tháng 12 năm 1942, được đỡ đầu bởi Bà C. H. Reeder, phu nhân thị trưởng thành phố Miami, và được đưa ra hoạt động tại Xưởng hải quân Norfolk vào ngày 28 tháng 12 năm 1943 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân John G. Crawford.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch quần đảo Mariana – 1944[sửa | sửa mã nguồn]

Sau các đợt chạy thử máy tại vùng biển Caribbe và huấn luyện dọc theo bờ Đông Đại Tây Dương, chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ mới khởi hành từ Boston vào ngày 16 tháng 4 năm 1944, có sự tháp tùng của các con tàu chị em cùng lớp VincennesHouston, để đi sang Thái Bình Dương. Chúng đi ngang qua kênh đào PanamaSan Diego, đến Trân Châu Cảng vào ngày 6 tháng 5. Miami tham gia cùng lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay nhanh vào tháng 6 cho các cuộc không kích xuống Saipan, Tinian, Rota, Guam, Paganquần đảo Bonin nhằm hỗ trợ cho Chiến dịch quần đảo Mariana.

Trong tháng 7, Miami hoạt động về phía Tây quần đảo Mariana cùng các tàu sân bay khi chúng hỗ trợ gần cho các lực lượng trên bộ chiếm các hòn đảo. Vào đầu tháng 8, nó hỗ trợ cho các cuộc tấn công Iwo JimaHaha Jima thuộc quần đảo Bonin trước khi di chuyển đến Eniwetok để bảo trì. Các tàu sân bay trong nhóm của nó đã tấn công PeleliuAngaur thuộc quần đảo Palau vào ngày 7 tháng 9, rồi ném bom các mục tiêu tại Philippines từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 9. Trong các đợt tấn công này, máy bay trinh sát của nó đã bốn lần giúp vào việc giải cứu phi công Mỹ bị bắn rơi trong vùng biển đối phương. Chiếc tàu tuần dương tiếp tục hỗ trợ các cuộc tấn công tại Palau và Philippines cho đến khhi quay trở về Saipan vào ngày 29 tháng 9 để tiếp liệu.

Miami khởi hành từ Ulithi cho các cuộc tấn công lên Okinawa vào các ngày 10-14 tháng 10. Trong khi đội đặc nhiệm của nó chịu đựng các cuộc không kích trong đêm 12/13 tháng 10, các xạ thủ của Miami đã bắn rơi chiếc máy bay đối phương đầu tiên và trợ giúp vào việc bắn rơi một chiếc khác. Máy bay từ các tàu sân bay đã tấn công các mục tiêu trên đảo Luzon trong ngày 18 tháng 10.

Trận chiến vịnh Leyte - 1944[sửa | sửa mã nguồn]

Nhịp điệu của cuộc chiến tranh tại Thái Bình Dương ngày càng tăng nhanh. Vào ngày 20 tháng 10, Đệ Thất hạm đội cho đổ bộ lực lượng Lục quân của Đại tướng Douglas MacArthur lên đảo Leyte nhằm hoàn thành lời hứa của ông đối với Philippine: "Tôi sẽ trở lại". Nhận thức được tầm quan trọng chiến lược có tính quyết định của quần đảo Philippine, Nhật Bản tung ra mọi lực lượng sẵn có cho một cuộc tổng phản công nhằm đẩy lùi cuộc đổ bộ. Lực lượng hải quân vẫn còn rất mạnh mẽ của họ hội tụ vào vịnh Leyte từ ba hướng khác nhau: một lực lượng phía Bắc di chuyển phía trên Luzon để thu hút chủ lực của Đệ Tam hạm đội về phía Bắc ra khỏi chiến trường chính, một lực lượng trung tâm thoát ra từ eo biển San Bernandino rồi cặp theo bờ biển đảo Samar hướng về phía Leyte, và một lực lượng phía Nam thoát ra theo ngã eo biển Surigao để vây và tiêu diệt lực lượng đổ bộ trong vịnh. Các hoạt động tiếp theo mà Hải quân Hoa Kỳ tiến hành trong chiến dịch này được các sử gia gọi chung thành Trận chiến vịnh Leyte.

Hoạt động cùng với đội đặc nhiệm dưới quyền Chuẩn đô đốc Gerald F. Bogan, Miami bảo vệ cho các tàu sân bay Intrepid, Hancock, Bunker Hill, CabotIndependence trong trận hải chiến vĩ đại này. Máy bay từ các tàu sân bay đã phát hiện và tung ra đòn không kích mạnh mẻ nhắm vào lực lượng trung tâm Nhật Bản tại biển Sibuyan trong ngày 24 tháng 10, đánh chìm thiết giáp hạm Musashi và làm hư hại nặng tàu tuần dương Myōkō đến mức nó phải rút lui khỏi trận chiến. Toàn bộ lực lượng trung tâm phải quay đầu để tổ chức lại đội hình, nhưng cũng đủ khiến Đô đốc William F. Halsey, Jr., Tư lệnh Đệ Tam hạm đội, tin rằng chúng phải rút lui do thiệt hại nặng.

Khi được tin về việc Lực lượng phía Bắc của Nhật Bản xuất hiện ngoài khơi Luzon xế chiều ngày hôm đó, Đô đốc Halsey ra lệnh cho các tàu sân bay di chuyển hết tốc độ lên phía Bắc để tấn công. Miami tháp tùng lực lượng này khi chúng đánh chìm bốn tàu sân bay đối phương cùng nhiều tàu hộ tống. Khi Halsey biết được tin tức lực lượng trung tâm đối phương đã quay mũi một lần nữa và băng qua eo biển San Bernandino, đe dọa các tàu bè thuộc lực lượng đổ bộ ngoài khơi các bãi đổ bộ ở Leyte, ông ra lệnh cho đội đặc nhiệm của Bogan tiến về phía Nam để giải cứu. Tuy nhiên, lực lượng trung tâm hùng mạnh của Nhật Bản đã bị ngăn chặn và đẩy lùi bởi một nhóm nhỏ tàu chiến Hoa Kỳ: ba tàu khu trục, bốn tàu khu trục hộ tống và sáu tàu sân bay hộ tống. Dù sau, Miami và các tàu cùng đi cũng bắt kịp tàu khu trục Nhật Nowaki ngay lối ra vào eo San Bernandino, đánh chìm nó bằng hỏa lực phối hợp của các tàu tuần dương và tàu khu trục.

Các chiến dịch tiếp theo - 1944-1945[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tham gia các cuộc tấn công bằng tàu sân bay xuống Philippine trong tháng 11, Miami gặp phải một cơn bão trong khi rút lui về phía Đông Luzon vào ngày 18 tháng 12. Sáng hôm đó, một thủy phi cơ của con tàu bị sóng quét xuống biển, và đến xế trưa lườn tàu bị hư hại do uốn cong. Khi cơn bão dịu đi vào ngày hôm sau, chiếc tàu tuần dương tham gia tìm kiếm những người sống sót của những con tàu bị hư hỏng hoặc chìm.

Đến tháng 1 năm 1945, Miami tham gia các cuộc tấn công bằng tàu sân bay xuống Đài Loan, Luzon, Đông Dương, dọc theo bờ biển Nam Trung Quốc, đảo Hải NamHong Kong. Nó băng qua eo biển Balintang tại Luzon vào ngày 20 tháng 1 năm 1945; và trong khi tham gia một đợt không kích xuống Đài Loan vào ngày hôm sau, nó phát hiện một máy bay Mitsubishi A6M Zero của đối phương bên trên đội hình và đã bắn rơi. Vào ngày 1 tháng 2, lực lượng đặc nhiệm tiến sát đến chính quốc Nhật Bản cho một đợt không kích xuống các mục tiêu tại khu vực Tokyo. Vào giữa tháng 3, Miami bắt đầu hoạt động về phía Đông Okinawa, và tiếp tục hiện diện tại đây đánh trả nhiều đợt không kích của đối phương cho đến tận cuối tháng 4, khi nó lên đường quay về Hoa Kỳ để đại tu.

Rời Ulithi vào ngày 10 tháng 5 năm 1945, Miami ghé qua Trân Châu Cảng vào ngày 17 tháng 5 trước khi đi đến San Francisco vào ngày 24 tháng 5, nơi nó ở lại cho đến khi cuộc xung đột kết thúc. Chiếc tàu tuần dương quay trở lại Trân Châu Cảng vào ngày 25 tháng 8; rồi trong tháng 9tháng 10, nó hoạt động tại khu vực quần đảo Ryūkyū tiếp nhận sự đầu hàng của các đảo nhỏ về phía Bắc Okinawa. Sau một chuyến viếng thăm ngắn Yokosuka, Nhật Bản, nó lên đường hướng đến quần đảo Caroline, đi đến Truk vào ngày 11 tháng 11, tiến hành một cuộc khảo sát những thiệt hại do ném bom xuống căn cứ hải quân nổi tiếng tại đây.

Sau chiến tranh – 1945-1947[sửa | sửa mã nguồn]

Được lệnh quay trở về nhà vào ngày 25 tháng 11, Miami về đến Long Beach vào ngày 10 tháng 12. Nó hoạt động ngoài khơi bờ biển California trong nhiệm vụ huấn luyện hải quân dự bị cho đến khi được cho ngừng hoạt động vào ngày 30 tháng 6 năm 1947, và được đưa về Hạm đội Dự bị Thái Bình Dương. Tên của nó được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 1 tháng 9 năm 1961 và nó được bán cho hãng Nicholai Joffe Corp. tại Beverly Hills, California, vào ngày 26 tháng 7 năm 1962 để tháo dỡ.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Miami được tặng tưởng sáu Ngôi sao chiến đấu cho thành tích hoạt động trong Thế Chiến II.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]