USS Portsmouth (CL-102)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Portsmouth
Tàu tuần dương USS Portsmouth
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Portsmouth
Đặt tên theo: Portsmouth, New Hampshire hoặc Portsmouth, Virginia
Hãng đóng tàu: Newport News Shipbuilding, Newport News, Virginia
Đặt lườn: 28 tháng 6 năm 1943
Hạ thủy: 20 tháng 9 năm 1944
Nhập biên chế: 25 tháng 6 năm 1945
Xuất biên chế: 15 tháng 6 năm 1949
Xóa đăng bạ: 15 tháng 1 năm 1971
Số phận: Bị bán để tháo dỡ, 1974
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Cleveland
Trọng tải choán nước: 11.800 tấn Anh (12.000 t) (tiêu chuẩn)
14.131 tấn Anh (14.358 t) (đầy tải)
Độ dài: 600 ft (180 m) (mực nước)
610 ft 1 in (185,95 m) (chung)
Sườn ngang: 66 ft 4 in (20,22 m)
Độ cao: 113 ft (34 m)
Mớn nước: 20 ft (6,1 m)
Động cơ đẩy: 4 × turbine GE hơi nước hộp số
4 × nồi hơi ống nước Babcock & Wilcox đốt dầu, áp lực 634 psi
4 × trục
công suất 100.000 hp (75.000 kW)
Tốc độ: 33 hải lý một giờ (61 km/h; 38 mph)
Tầm xa: 14.500 nmi (26.850 km; 16.690 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.266
Vũ trang:

12 × pháo 6 in (150 mm)/47 caliber trên tháp pháo ba nòng Mark 16 (4×3);
12 × pháo đa dụng 5 in (130 mm)/38 caliber (6×2);
28 × pháo phòng không Bofors 40 mm (6×4, 2×2);

10 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Bọc giáp: đai giáp chính: 3,25–5 in (83–130 mm);
sàn tàu: 2 in (51 mm);
tháp pháo: 1,5–6 in (38–150 mm);
bệ tháp pháo: 6 in (150 mm);
tháp chỉ huy: 2,25–5 in (57–130 mm)
Máy bay mang theo: 4 × thủy phi cơ SOC Seagull/Vought OS2U Kingfisher
Thiết bị bay: 2 × máy phóng

USS Portsmouth (CL–102) là một tàu tuần dương hạng nhẹ của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp Cleveland được hoàn tất trong hoặc ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, và là chiếc tàu chiến thứ ba của Hải quân Mỹ được đặt cái tên này. Portsmouth được đưa vào hoạt động quá trễ để có thể tham gia cuộc chiến tranh, và giống như hầu hết các tàu chị em cùng lớp, nó ngừng hoạt động không lâu sau đó và được đưa về lực lượng dự bị. Portsmouth bị tháo dỡ vào năm 1974.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Portsmouth được đặt lườn vào ngày 28 tháng 6 năm 1943 tại xưởng tàu của hãng Newport News Shipbuilding & Dry Dock Company tại Newport News, Virginia. Nó được hạ thủy vào ngày 20 tháng 9 năm 1944, được đồng đỡ đầu bởi Bà Marian M. Dale và Bà Sarah B. Leigh, và được đưa ra hoạt động vào ngày 25 tháng 6 năm 1945 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Heber B. Brumbaugh.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chạy thử máy tại vùng biển ngoài khơi Cuba, Portsmouth được cho đặt căn cứ nhà tại Norfolk, Virginia, và hoạt động cùng với Lực lượng Phát triển Chiến thuật cho đến mùa Xuân năm 1946. Vào tháng 5, nó khởi hành cho một chuyến viếng thăm thiện chí đến Châu Phi, ghé thăm Cape Town, Lagos, Freetown, Monrovia, DakarCasablanca trước khi đi đến Địa Trung Hải, viếng thăm NaplesPalermo trước khi quay trở về nhà.

Ngày 25 tháng 11, Portsmouth lại lên đường quay trở lại Địa Trung Hải. Đến Naples vào ngày 7 tháng 12, con tàu vòng qua bán đảo để đi đến Trieste vào cuối tháng, và nó đã tuần tra tại khu vực Adriatic cho đến tháng 2 năm 1947 vào giai đoạn xảy ra các biến động chính trị tại đây. Trong tháng tiếp theo, nó quay lại Trieste trong hai tuần trước khi lên đường quay trở về Hoa Kỳ vào tháng 4. Đến tháng 11, chiếc tàu tuần dương lại lên đường hướng sang phía Đông đến Địa Trung Hải, rồi quay trở về Boston để đại tu vào 11 tháng 3 năm 1948. Sau khi hoàn tất việc sửa chữa, nó tiến hành các hoạt động thực hành tại vùng bờ Đông cũng như đưa lực lượng Hải quân Dự bị trong chuyến đi huấn luyện đến vùng biển Caribbe.

Vào ngày 9 tháng 3 năm 1949, nó đi vào Xưởng hải quân Philadelphia để chuẩn bị ngừng hoạt động. Portsmouth được cho xuất biên chế vào ngày 15 tháng 6 năm 1949 và được đưa về Hạm đội Dự bị Đại Tây Dương. Tên của nó được cho rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 15 tháng 1 năm 1971, và con tàu bị bán để tháo dỡ vào năm 1974. Hai trong số các động cơ chính của nó vẫn tiếp tục phục vụ cho đến ngày nay tại cơ sở MARF cho lò phản ứng hạt nhân nguyên mẫu S7G tại Ballston Spa, New York.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]