USS Montpelier (CL-57)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Montpelier
Tàu tuần dương USS Montpelier tại Efate, New Hebrides, 22 tháng 4 năm 1943
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Montpelier
Đặt tên theo: Montpelier, Vermont
Hãng đóng tàu: New York Shipbuilding
Đặt lườn: 2 tháng 12 năm 1940
Hạ thủy: 12 tháng 2 năm 1942
Đỡ đầu bởi: Bà William F. Carry
Nhập biên chế: 9 tháng 9 năm 1942
Xuất biên chế: 24 tháng 1 năm 1947
Xóa đăng bạ: 1 tháng 3 năm 1959
Danh hiệu và
phong tặng:
13 × Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Bị bán để tháo dỡ 1960
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Cleveland
Trọng tải choán nước: 11.800 tấn Anh (12.000 t) (tiêu chuẩn)
14.131 tấn Anh (14.358 t) (đầy tải)
Độ dài: 600 ft (180 m) (mực nước)
608 ft 4 in (185,42 m) (chung)
Sườn ngang: 66 ft (20 m)
Độ cao: 113 ft (34 m)
Mớn nước: 20 ft (6,1 m)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước hộp số General Electric
4 × nồi hơi ống nước Babcock & Wilcox đốt dầu, áp lực 634 psi
4 × trục
công suất 100.000 hp (75.000 kW)
Tốc độ: 33 hải lý một giờ (61 km/h; 38 mph)
Tầm xa: 14.500 nmi (26.850 km; 16.690 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.255 (70 sĩ quan, 1.115 thủy thủ)
Vũ trang:

12 × pháo 6 in (150 mm)/47 caliber trên tháp pháo ba nòng Mark 16 (4×3);
12 × pháo đa dụng 5 in (130 mm)/38 caliber (6×2);
28 × pháo phòng không Bofors 40 mm (6×4, 2×2);

10 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Bọc giáp: đai giáp chính: 3,25–5 in (83–127 mm);
sàn tàu: 2 in (51 mm);
tháp pháo: 1,5–6 in (38–152 mm);
bệ tháp pháo: 6 in (150 mm);
tháp chỉ huy: 2,25–5 in (57–127 mm)
Máy bay mang theo: 4 × thủy phi cơ Curtis SOC-1 Seagull
Thiết bị bay: 2 × máy phóng

USS Montpelier (CL-57) là một tàu tuần dương hạng nhẹ của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp Cleveland được hoàn tất trong hoặc ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Tên của nó được đặt theo thành phố Montpelier thuộc tiểu bang Vermont, và nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Mỹ mang cái tên này. Montpelier được đưa ra hoạt động vào tháng 7 năm 1942, và đã phục vụ trong nhiều chiến dịch tại Mặt trận Thái Bình Dương. Giống hầu hết các tàu chị em cùng lớp, nó ngừng hoạt động không lâu sau khi chiến tranh kết thúc, được đưa về lực lượng dự bị và không bao giờ hoạt động trở lại. Montpelier bị tháo dỡ vào đầu những năm 1960.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Montpelier được đặt lườn vào ngày 2 tháng 12 năm 1940 tại xưởng đóng tàu của hãng New York Shipbuilding CorporationCamden, New Jersey. Nó được hạ thủy vào ngày 12 tháng 2 năm 1942, được đỡ đầu bởi Bà William F. Carry, và được đưa ra hoạt động vào ngày 9 tháng 9 năm 1942, dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Leighton Wood.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

1943[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi hành từ Norfolk, Virginia, Montpelier đi đến Nouméa, New Caledonia vào ngày 18 tháng 1 năm 1943, nơi Chuẩn Đô đốc Aaron S. Merrill chọn nó làm soái hạm cho Hải đội Tuần dương 12. Vào ngày 25 tháng 1, nó đi đến Efate, New Hebrides, căn cứ nhà mới trong những tháng hoạt động tiếp theo. Trong khi thực hiện một đợt càn quét chung quanh Guadalcanal đang bị bao vây, nó tham gia trận chiến quần đảo Rennell vào ngày 29 tháng 1, ttrận hải chiến cuối cùng của Chiến dịch Guadalcanal.

USS Montpelier trước khi được tái trang bị vào năm 1944.

Montpelier đã hỗ trợ cho cuộc đổ bộ lên quần đảo Russell vào ngày 21 tháng 2. Trong đêm 56 tháng 3, nó bắn phá ác liệt sân bay Vila‑Stanmore ở Kolombangara thuộc quần đảo Solomon, và giúp vào việc đánh chìm một tàu khu trục đối phương trong trận chiến eo biển Blackett. Nó cùng với ba tàu tuần dương khác đã bắn phá đảo Poporang trong đêm 2930 tháng 6 nhằm chuẩn bị cho cuộc chiếm đóng New Georgia. Trong đêm 1112 tháng 7, nó bắn phá Munda, cho phép binh lính tiếp tục công cuộc chinh phục New Georgia. Nó tuần tra chung quanh khu vực New Georgia trong bốn tháng tiếp theo nhằm ngăn cản sự triệt thoái lực lượng Nhật Bản.

Sau một chuyến đi đến Sydney, Australia, Montpelier gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 39 trong vai trò soái hạm của đơn vị này trong cuộc chiếm đóng các đảo TreasuryBougainville. Vào ngày 1 tháng 11, nó bắn phá các sân bay Buka‑Bonis ở mũi cực Bắc Bougainville, cùng tấn công các công trình phòng ngự trên các đảo Poporang và Ballale. Đang khi bảo vệ các tàu vận chuyển trong đêm 2 tháng 11, Lực lượng Đặc nhiệm 39, chỉ bao gồm các tàu tuần dương và tàu khu trục, đã đối đầu với một lực lượng hải quân Nhật Bản mạnh trong trận chiến vịnh Nữ hoàng Augusta. Kết quả là một chiến thắng rõ ràng cho phía các tàu chiến Mỹ dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Merrill. Trận chiến này đã đẩy lùi một cuộc tấn công vốn sẽ trở thành một thảm họa cho lực lượng đổ bộ lên Bougainville. Ngoài việc trợ giúp vào việc phá hủy một tàu chiến, các xạ thủ của Montpelier còn bắn rơi năm máy bay đối phương.

1944[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 15 đến ngày 19 tháng 2 năm 1944, Montpelier hỗ trợ cho cuộc đổ bộ lên quần đảo Green thuộc cụm Quần đảo Bismarck. Đến tháng 3, nó săn đuổi tàu bè đối phương tại phía Nam Truk rồi tham gia cuộc chiếm đóng Emirau, bắt đầu bắn phá Saipan vào ngày 14 tháng 6 để hỗ trợ cho cuộc chiếm đóng quần đảo Mariana. Nó gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 58 và tham gia Trận chiến biển Philippine trong các ngày 1921 tháng 6. Trong cuộc đụng độ mang tính quyết định này, những liên đội không lực trên các tàu sân bay Nhật Bản đã hầu như bị xóa sổ. Montpelier quay trở lại Mariana tiếp tục việc bắn phá Saipan, TinianGuam. Nó rời khu vực Mariana vào ngày 2 tháng 8 quay trở về Hoa Kỳ để đại tu.

Dàn pháo chính của Montpelier đang bắn trong Trận chiến vịnh Nữ hoàng Augusta

Quay trở lại chiến trường vào ngày 25 tháng 11, Montpelier tham gia một đội đặc nhiệm ngoài khơi vịnh Leyte. Trong khi di chuyển tuần tra bảo vệ ngoài khơi vịnh, nó bị hư hại nhẹ bởi một cuộc tấn công cảm tử kamikaze vào ngày 27 tháng 11.[1] Nó cũng đã đánh trả nhiều cuộc tấn công kamikaze khác, bắn rơi bốn máy bay đối phương.

1945[sửa | sửa mã nguồn]

Khẩu đội 40 mm bên mạn phải

Bắt đầu từ ngày 12 tháng 12 năm 1944, Montpelier hỗ trợ cho các bãi đổ bộ trong cuộc chiếm đóng Mindoro. Chống trả lại các cuộc tấn công kamikaze, nó bảo vệ cho các tàu chở quân đổ bộ trong vịnh Lingayen vào tháng 1 năm 1945. Đến tháng 2, nó hỗ trợ cho các hoạt động ngoài khơi cảng Mariveles Harbor, CorregidorPalawan, rồi từ ngày 14 đến ngày 23 tháng 4, nó hỗ trợ cho cuộc đổ bộ lên Mindanao. Từ căn cứ của nó tại vịnh Subic, nó lên đường đi đến vịnh Bruney thuộc Borneo, đến nơi vào ngày 9 tháng 6. Từ ngày 17 tháng 6 đến ngày 2 tháng 7, nó hoạt động ngoài khơi các giếng dầu tại Balikpapan, hỗ trợ cho các tàu quét mìn, các đội phá hoại ngầm dưới nước và các lực lượng đổ bộ. Binh lính Australia rất ngưỡng mộ việc bắn phá tiêu diệt vị trí đối phương, vốn đã tiết kiệm nhiều sinh mạng của phe Đồng Minh. Vào cuối tháng 7 và đầu tháng 8, Montpelier thực hiện ba đợt càn quét chống tàu bè đối phương trong biển Đông.

Sau chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Montpelier vào năm 1945, ảnh chụp từ trên không

Khi chiến sự kết thúc, Montpelier thả neo ngoài khơi Wakayama, Nhật Bản, giúp đỡ vào việc nhanh chóng di tản các tù binh chiến tranh Đồng Minh. Sau một lượt khảo sát các con tàu Nhật Bản còn sống sót, một phần thủy thủ đoàn đã lên bờ viếng thăm Hiroshima. Vào ngày 18 tháng 10, nó hỗ trợ cho việc đổ bộ lực lượng chiếm đóng tại Matsuyama. Montpelier khởi hành từ Hiro Wan để rời vùng biển Nhật Bản vào ngày 15 tháng 11 hướng sang vùng Bờ Đông. Từ vùng Tây Thái Bình Dương, điểm dừng đầu tiên của MontpelierHawaii, rồi đến San Diego, California trước khi hướng về phía Nam để băng qua kênh đào Panama đến điểm dừng sau cùng là New York.

Nó trình diện để hoạt động cùng với Hạm đội Đại Tây Dương vào ngày 11 tháng 12, và đến ngày 1 tháng 7 năm 1946 được điều phục vụ cùng với Hạm đội 16. Montpelier được cho ngừng hoạt động và đưa về lực lượng dự bị tại Philadelphia vào ngày 24 tháng 1 năm 1947. Nó được cho rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 1 tháng 3 năm 1959, và được bán cho hãng Bethlehem Steel Co. để tháo dỡ vào ngày 22 tháng 1 năm 1960.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Montpelier được tặng thưởng 13 Ngôi sao Chiến đấu do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.

Những hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cressman, Robert (2000). “Chapter VI: 1944”. The official chronology of the U.S. Navy in World War II. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 9781557501493. OCLC 41977179. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2007. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fahey, James J. (1991) [1960]. Pacific War Diary: 1942 - 1945, The Secret Diary of an American Sailor. New York: Houghton Mifflin. ISBN 0395640229. OCLC 11631185.  Tác giả mô tả lại kinh nghiệm của một thủy thủ trên chiếc Montpelier trong chiến tranh

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]