Đại Tân sinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đại Tân sinh (Cenozoic, đọc là "sen-o-dô-íc"; hay đôi khi được viết là Caenozoic tại Vương quốc Anh), có nghĩa là "sự sống mới" (từ tiếng Hy Lạp καινός kainos = mới + ζωή zoe = sự sống, dịch qua tiếng Hoa 新 xīn = tân + 生 shēng = sinh), là đại gần đây nhất trong số ba đại địa chất kinh điển. Một số sách tiếng Việt gọi đại này đại Kainozoi. Nó bắt đầu khoảng 65,5 triệu năm trước kể từ khi diễn ra sự kiện tuyệt chủng trong giai đoạn kỷ Phấn trắng-phân đại Đệ tam vào cuối thời kỳ của kỷ Phấn trắng (Cretaceous) đánh dấu sự biến mất của các loài khủng long cuối cùng và là sự kết thúc của Đại Trung sinh (Mesozoic). Đại Tân sinh vẫn đang diễn ra hiện nay.

Các kỷ trong Đại Tân sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Tân sinh được chia thành ba kỷ lớn, là kỷ Paleogen, kỷ NeogenKỷ Đệ tứ,[1] và các kỷ này trong lượt của mình lại được chia thành các thế.

  • Kỷ Palaeogen (Cổ Đệ tam hay Đệ tam Hạ) bao gồm ba thế là:
  • Kỷ Neogen (Tân Đệ tam hay Đệ tam Thượng) bao gồm bốn thế là:
  • Kỷ Đệ tứ gồm hai thế là:

Thế Toàn tân (Holocen) vẫn đang diễn ra. Về mặt lịch sử, đại Tân sinh cũng đã từng được chia thành hai phân đại là phân đại Đệ tam (từ thế Paleocen tới thế Pliocen) và Đệ tứ (các thế Pleistocen và Holocen), mặc dù hiện nay phần lớn các nhà địa chất không còn công nhận cách chia này.

Sự sống trong đại Tân sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Tân sinh là thời đại của động vật có vú. Trong đại Tân sinh, động vật có vú đã chia nhánh từ một vài dạng tổng quát, nhỏ và đơn giản thành một tập hợp đa dạng các loài động vật sống trên đất liền, trong lòng đại dương và những động vật biết bay. Đại Tân sinh cũng có thể coi là thời đại của các thảo nguyên, hoặc thời đại của sự đồng phụ thuộc giữa thực vật có hoa và côn trùng. Các loài chim cũng có sự tiến hóa một cách cơ bản trong đại này.

Kiến tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt địa chất học, Đại Tân sinh là thời gian các lục địa đang di chuyển đến các vị trí như hiện tại. Australia-New Guinea đang tách ra từ Pangea vào đầu Creta, trôi về phía bắc, và cuối cùng va vào Đông Nam Á; Nam Cực di chuyển đến vị trí hiện tại về phía cực nam; Đại Tây Dương mở rộng, và sau đó Nam Mỹ gắn vào Bắc Mỹ qua eo đất Panama.

Tiểu lục địa Ấn Độ va vào châu Á 55  -  45 triệu năm về trước hình thành Himalaya; Arabia va vào Á-Âu, đóng lại đại dương Tethys và tạo ra dãy Zagros vào khoảng 35 triệu năm về trước.[2]

Xem thêm 10[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ International Commission on Stratigraphy (23 tháng 8 năm 2016). “International Stratigraphic Chart” (PDF). Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2010.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |year= / |date= mismatch (trợ giúp)
  2. ^ Allen, M. B.; Armstrong, H. A. (2008). “Arabia-Eurasia collision and the forcing of mid Cenozoic global cooling”. Palaeogeography Palaeoclimatology Palaeoecology 265 (1–2): 52–58. doi:10.1016/j.palaeo.2008.04.021. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • British Caenozoic Fossils, 1975, The Natural History Museum, London.
Liên đại Hiển sinh
Đại Cổ sinh Đại Trung sinh Đại Tân sinh
Đại Tân sinh
Kỷ Paleogen Kỷ Neogen Kỷ Đệ tứ