An Viên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

An Viên

Hành chính
TỉnhHưng Yên
HuyệnTiên Lữ
Thành lập1995[1]
Địa lý
Tọa độ: 20°40′40″B 106°06′17″Đ / 20,67778°B 106,10472°Đ / 20.67778; 106.10472Tọa độ: 20°40′40″B 106°06′17″Đ / 20,67778°B 106,10472°Đ / 20.67778; 106.10472
Diện tích5,59 km²[2]
Dân số (1999)
Tổng cộng7747 người[2]
Mật độ1386 người/km²
Khác
Mã hành chính12355[2]

An Viên là một thuộc huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, Việt Nam.

Xã An Viên có diện tích 5,59 km², dân số năm 1999 là 7747 người,[2] mật độ dân số đạt 1386 người/km².

Cầu Bằng[sửa | sửa mã nguồn]

Là cây cầu bắc qua sông, cũng là con kênh dẫn nước cho nông dân làm lúa và hoa màu. Cầu này cũng chứng kiến sự thảm sát của thực dân pháp với người dân thôn Nội Lễ. Cụ thể là năm 1953 khi lính pháp về tuần tra ở thôn Nội Lễ, như thường tình thì các Già làng ra tiếp đón ở cây cầu này, lính Pháp lã đạn giết chết gần chục người ở đây, sau đó còn vào làng giết chết thêm chục người dân nữa, có gia đình ko kịp chạy bị giết hết cả trẻ con và người già lính Pháp cũng không tha.

Miếu, đình Nội Lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Miếu Nội Lễ và Đình Nội Lễ Thờ Tướng nhà Đinh Trần Ứng Long, người có sáng kiến chặt tre đan thuyền, phỏng theo cách đan thúng đã phá được căn cứ của quân Đỗ Cảnh Thạc giúp Đinh Bộ Lĩnh lập ra nhà nước Đại Cồ Việt trong lịch sử. Trần Ứng Long còn được hậu thế tôn vinh là ông Tổ nghề đan thuyền và nghề sơn.

Đền Đậu An[sửa | sửa mã nguồn]

Đền Đậu An là nơi thờ Ngọc Hoàng Thượng đế cùng các thiên thần. Truyền thuyết dân gian thì Ngọc Hoàng Thượng đế vốn người trần, có tên húy là Trương Hữu Nhân, là Trang chủ Trương Gia Loan. Vì có tính khiêm nhường và kiên nhẫn, ông được gọi là Trương Bách Nhẫn; do hay giúp đỡ người khác, tu luyện thành tiên nên ông được gọi là Đại Quý Nhân. Trương Hữu Nhân có một vợ họ Vương, tức Tây Vương Mẫu và có chín con trai.

Theo thần tích đền Đậu An, vào trước Công Nguyên có Thiên tiên, Địa tiên mở cổng trời xuống hướng dẫn nhân dân khai phá vùng sình lầy, dạy cách săn bắn, hái lượm và trồng lúa nước. Ngoài ra, còn có Ngũ lão tiên ông huy động dân làng khai hoang, diệt trừ thú dữ và dựng Thụy Ứng quán thờ để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Sau này, Thụy Ứng quán được xây dựng mở rộng trở thành quần thể di tích mang tên gọi đền Đậu An như ngày nay.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 57/1995/CP
  2. ^ a ă â b “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]