Ananke (vệ tinh)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Ananke
Ananké.jpg
Khám phá
Khám phá bởi S. B. Nicholson
Ngày khám phá ngày 28 tháng 9 năm 1951
Đặc trưng quỹ đạo
Cận điểm quỹ đạo 12.567.000 km
Viễn điểm quỹ đạo 29.063.500 km
Bán kính 21.280.000 km[1]
Độ lệch tâm 0,24[1]
Chu kỳ quỹ đạo 610,45 d (1.680 a)[1]
Tốc độ vũ trụ cấp 1 2.367 km/s
Độ nghiêng quỹ đạo 148,89° (tới Hoàng đạo)
149,9° (tới xích đạo Sao Mộc)[1]
vệ tinh của sao Mộc
Đặc trưng vật lý
Bán kính trung bình 14 km[2]
Diện tích bề mặt ~2500 km2
Thể tích ~11,500 km3
Khối lượng 3,0×1016 kg
Mật độ khối lượng thể tích 2,6 g/cm3 (assumed)
Hấp dẫn bề mặt 0,010 m/s2 (0,001 g)
Tốc độ vũ trụ cấp 2 ~0,017 km/s
Suất phản chiếu 0,04 (assumed)[2]
Nhiệt độ ~124 K

Ananke ( /əˈnæŋk/ ə-NANG-kee; tiếng Hy Lạp: Ανάγκη) là một vệ tinh tự nhiên dị hình chuyển động nghịch hành của Sao Mộc. Nó được khám phá bởi Seth Barnes Nicholson tại Đài quan sát núi Wilson vào năm 1951[3] và được đặt tên theo Ananke trong thần thoại, hiện thân của Necessity, và là mẹ của Moirai (Fates) bởi thần Zeus. Dạng tính từ của cái tên này là Anankean.

Ananke nhận được cái tên hiện tại[4] vào năm 1975;[5] trước đó, nó đơn giản được gọi là Jupiter XII. Nó đôi khi được gọi là "Adrastea"[6] từ năm 1955 đến năm 1975 (Adrastea giờ là tên của một vệ tinh khác của sao Mộc).

Ananke được lấy để đặt tên cho nhóm Ananke, gồm các vệ tinh dị hình chuyển động nghịch hành quay xung quanh sao Mộc từ 19,3 đến 22,7 Gm, ở một độ nghiêng vào khoảng 150°.[2]

Quỹ đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Ananke quay quanh sao Mộc ở một quỹ đạo nghịch hành có độ lệch tâm lớn và độ nghiêng lớn. Tám vệ tinh dị hình quay quanh sao Mộc đã được phát hiện kể từ năm 2000 cũng có những quỹ đạo tương tự. Các chỉ số quỹ đạo là kể từ tháng 1 năm 2000. Chúng vẫn liên tục thay đổi do các sự nhiễu loạn mặt trời và các hành tinh. Biểu đồ mô tả quỹ đạo của Ananke trong mối liên hệ với các vệ tinh dị hình chuyển động nghịch hành khác của sao Mộc. Độ lệch tâm của những quỹ đạo đã được chọn thì được biểu thị bởi các đoạn màu vàng (kéo dài từ cận điểm quỹ đạo tới viễn điểm quỹ đạo). Vệ tinh thông thường ngoài cùng Callisto cũng được đặt vào trong biểu đồ để có sự tham chiếu.

Với những số liệu về quỹ đạo và đặc điểm vật lý đã biết cho tới giờ, Ananke được coi là tàn tích lớn nhất[7] của một vụ va chạm ban đầu đã tạo nên nhóm Ananke.[8][9]

Đặc điểm vật lý[sửa | sửa mã nguồn]

Ở trong phổ điện từ nhìn thấy được, Ananke xuất hiện trung tính với màu đỏ nhạt (chỉ mục màu B-V=0.90 V B-V=0.90 V-R=0.38).

Phổ điện từ hồng ngoại cũng giống như các thiên thạch loại P nhưng với một dấu hiệu có khả năng của nước.[10]

Các vệ tinh dị hình chuyển động nghịch hành của Sao Mộc.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Jacobson, R. A. (2000). “The Orbits of Outer Jovian Satellites”. Astronomical Journal 120 (5): 2679–2686. Bibcode:2000AJ....120.2679J. doi:10.1086/316817. 
  2. ^ a ă â Sheppard, S. S., Jewitt, D. C., Porco, C.; Jupiter's Outer Satellites and Trojans Lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2007, tại Wayback Machine., in Jupiter: The Planet, Satellites and Magnetosphere, edited by Fran Bagenal, Timothy E. Dowling, William B. McKinnon, Cambridge Planetary Science, Vol. 1, Cambridge, UK: Cambridge University Press, ISBN 0-521-81808-7, 2004, pp. 263-280
  3. ^ Nicholson, S. B. (1951). “An unidentified object near Jupiter, probably a new satellite”. Publications of the Astronomical Society of the Pacific 63 (375): 297–299. Bibcode:1951PASP...63..297N. doi:10.1086/126402. 
  4. ^ Nicholson, S.B. (tháng 4 năm 1939). “S. B. Nicholson declines to name the satellites of Jupiter he has discovered”. Publications of the Astronomical Society of the Pacific 51 (300): 85–94. Bibcode:1939PASP...51...85N. doi:10.1086/125010. 
  5. ^ Marsden, B. G. (ngày 7 tháng 10 năm 1974). “Satellites of Jupiter”. IAUC Circular 2846. 
  6. ^ Payne-Gaposchkin, Cecilia; Katherine Haramundanis (1970). Introduction to Astronomy. Englewood Cliffs, N.J.: Prentice-Hall. ISBN 0-13-478107-4. 
  7. ^ Sheppard, S.S.; Jewitt, D.C. (2003). “An abundant population of small irregular satellites around Jupiter” (PDF). Nature 423 (6937): 261–263. Bibcode:2003Natur.423..261S. PMID 12748634. doi:10.1038/nature01584. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2006. 
  8. ^ Nesvorný, D.; Beaugé, C.; Dones, L. (2004). “Collisional Origin of Families of Irregular Satellites”. The Astronomical Journal 127 (3): 1768–1783. Bibcode:2004AJ....127.1768N. doi:10.1086/382099. 
  9. ^ Grav, Tommy; Holman, M. J.; Gladman, B. J.; Aksnes, K. (2003). “Photometric survey of the irregular satellites”. Icarus 166 (1): 33–45. Bibcode:2003Icar..166...33G. arXiv:astro-ph/0301016. doi:10.1016/j.icarus.2003.07.005. 
  10. ^ Grav, Tommy; Holman, Matthew J. (2004). “Near-Infrared Photometry of the Irregular Satellites of Jupiter and Saturn”. The Astrophysical Journal 605 (2): L141–L144. Bibcode:2004ApJ...605L.141G. arXiv:astro-ph/0312571. doi:10.1086/420881. 

Nguồn

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]