Beast (ban nhạc)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ BEAST (ban nhạc))
Bước tới: menu, tìm kiếm
BEAST
비스트
BEAST performing at Lotte Giant 2010 Special Concert.jpg
Beast biểu diễn tại Lotte Giants 2010 Special Concert
(Trái sang phải) Yoon Doo-joon (trưởng nhóm), Son Dong-woon, Lee Gi Kwang, Yang Yo-seob, Jang Hyun-seung, Yong Jun-hyung
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh B2ST
Nguyên quán Hàn Quốc
Thể loại K-pop, dance, R&B
Năm hoạt động 2009-nay
Hãng đĩa Cube Entertainment (Hàn Quốc), Universal Music Group (quốc tế)
Website cubeent.co.kr/beast
www.universal-music.co.jp/beast/
Thành viên hiện tại
Yoon Doo-joon
Yong Jun-hyung
Yang Yo-seob
Lee Gi-kwang
Son Dong-woon
Thành viên cũ
Jang Hyun-seung

Beast (tiếng Hàn: 비스트; thường được viết là BEAST hay B2ST, cách điệu thành ∀ΔΣ - viết tắt tên của nhóm bằng tiếng Hàn 비스트) là nhóm nhạc nam gồm 5 thành viên người Hàn Quốc thuộc quyền quản lí công ty Cube Entertainment. Các thành viên hiện tại của nhóm là Doo-joon, Jun-hyung, Yo-seob, Ki-kwang, Dong-woon. Thành viên Hyun-seung chính thức rời nhóm vào ngày 19 tháng 4 năm 2016[1].

Beast đã cho ra hai album phòng thu tiếng Hàn, bảy mini-album tiếng Hàn, một album phòng thu tiếng Nhật và rất nhiều đĩa đơn khác. Họ ra mắt lần đầu bằng việc phát hành mini-album đầu tiên Beast Is The B2ST vào ngày 16 tháng 10 năm 2009. Năm 2011, nhóm ra mắt album đầy đủ đầu tiên có tên "Fiction and Fact'"[2], thắng ba cúp liên tiếp trên M! Countdown của đài Mnet cho đĩa đơn chủ đề là Fiction. Cùng năm đó, Beast ra mắt thị trường Nhật Bản bằng đĩa đơn "Shock (phiên bản tiếng Nhật)".

Beast thu hút sự chú ý do các thành viên từng tham gia vào thị trường âm nhạc nhưng không thu được thành công. Có phương tiện truyền thông gọi Beast là "một nhóm gồm các vật liệu tái chế".[3] Tuy vậy, nhóm đã gặt hái thành công thương mại và lời khen từ giới phê bình, đoạt giải Bonsang tại Seoul Music Awards trong cả hai năm 2011 và 2012. Nhóm cũng giành giải Nghệ sĩ của năm (Daesang) tại Melon Music Awards và giải Album của năm cho album "Fiction and Fact" tại Gaon Chart Awards quý 2 năm 2011. Bài hát "Fiction" thắng giải Daesang "Bài hát của năm" tại KBS Music Festival 2011.

Lịch sử nhóm[sửa | sửa mã nguồn]

2009–2010: Ra mắt và album Shock of the New Era[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi Beast ra mắt, các phương tiện truyền thông Hàn Quốc đưa tin rằng Cube Entertainment sẽ giới thiệu một nhóm nhạc nam có tên là "B2ST", phát âm là "Beast".[4] Tên gọi được đổi thành "Beast" trước khi nhóm ra mắt nhưng nhóm vẫn giữ nguyên cách viết kiểu cách "B2ST" trong các ấn phẩm quảng bá của mình.[5] Câu lạc bộ người hâm mộ của Beast có tên là "B2uty", đọc là "Beauty", gợi nhớ đến truyện cổ tích Beauty and the Beast ("Người đẹp và quái thú").

Tháng 10 năm 2009, Beast diễn lần đầu tại sân khấu MTV GongGae Hall và hát live lần đầu trong chương trình Music Bank của đài KBS với ca khúc "Bad Girl".[5][6] Nhóm phát hành mini-album đầu tiên - Beast Is the B2ST - gồm năm bài hát.Beast thắng giải thưởng đầu tiên - Tân binh của tháng 12 - do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Hàn Quốc) trao tặng.[7]

Đầu năm 2010, Beast quảng bá đĩa đơn thứ hai mang tên "Mystery" từ mini-album mới của nhóm. Doanh số bán mini-album là 40.000 bản.[8]

Tháng 1 năm 2010, Beast và nhóm nhạc nữ cùng công ty là 4minute ký hợp đồng với hãng ghi âm Universal Music Group nhằm quảng bá ra thị trường quốc tế và phát hành album,[9] đồng thời bắt đầu đợt quảng bá tầm vóc quốc tế lần đầu tiên ra Đài Loan cùng 4minute.[10] Nhóm giành Giải thưởng Người mới xuất sắc nhất cùng nhóm nhạc T-araAfter School tạo lễ trao giải Seoul Music Awards lần thứ 19 vào tháng 2 năm 2010.[11]

Beast tại Mnet 20's Choice Awards vào tháng 8 năm 2010

Beast phát hành mini-album thứ hai với tên gọi Shock of the New Era vào tháng 3 năm 2010; ca khúc chủ đề là "Shock". Album này ra mắt sớm hơn một ngày so với kế hoạch do bị rò rỉ trên Youtube.[12] Nhóm ghi dấu lần đầu tiên đạt vị trí số một trên Mnet M! Countdown với bài hát "Shock".[13] Album nhanh chóng tiêu thụ được 20.000 bản tại Hàn Quốc[14] và được chứng nhận Đĩa Vàng tại Singapore.[15] Những lời nhận xét về ca khúc chủ đề "Shock" miêu tả bài hát là sự kết hợp của những giọng ca đầy sức mạnh cùng âm nhạc mạnh ảnh hưởng của thể loại rock, đồng thời là sự chuyển hướng khỏi giai điệu pop của đĩa đơn đầu tiên. Người ta cũng khen ngợi phần vũ đạo phức tạp của "Shock" trong các màn biểu diễn live.[16][17][18]

Trong đợt quảng bá ca khúc "Shock", nhóm có biểu diễn lại bản ballad "Despite Holding On" (붙잡고도, Butjapgodo, của nhóm nhạc Hàn Quốc Noel) cùng dàn nhạc giao hưởng. Nhóm được công nhận là nhóm nhạc nam có khả năng ca hát xuất sắc.[19] Tháng 4 năm 2010, bản kỹ thuật số của bài hát "Easy" từ album Shock of the New Era được phát hành dưới tên gọi "Easy (Sincere Ver.)". Phiên bản này sử dụng các nhạc cụ dây và dương cầm, ngược với các nhạc cụ âm hưởng hip-hop và nhạc điện tử trong phiên bản gốc của bài hát.[20]

Tháng 8 năm 2010, Beast đoạt giải Đĩa Vàng từ Singapore, MalaysiaThái Lan nhân dịp "2010 Summer CUBE Stars Party" ở Seoul.[21] Beast và 4minute cũng trở thành những nhóm nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên được mời biểu diễn trong màn mở đầu Singapore Youth Olympics.[22] Tại Mnet 20's Choice Awards 2010, nhóm đạt giải Cool Star Award[23] Nhạc sĩ nhạc R&B người Mỹ Omarion xuất hiện bất ngờ với tư cách khách mời trên sân khấu cùng với Beast khi nhóm nhận giải thưởng. Trước đó Omarion đã mời Beast biểu diễn cùng với anh sau khi Omarion xem clip Beast biểu diễn vũ đạo bài "Ice Box" của anh trên Youtube.[24]

2010: Mastermind, Lights Go On AgainMy Story[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 9 năm 2010, Beast phát hành đĩa đơn "Jumeogeul Kkwak Jwigo" (주먹을 꽉 쥐고) lấy từ mini-album thứ ba của nhóm mang tựa đề Mastermind (phát hành ngày 28 tháng 9 năm 2010[25]). Bài hát nhận được sự chú sý từ công chúng nhờ khả năng hát xuất sắc mà nhóm thể hiện được.[26] Ngày 8 tháng 10 năm 2010 - một tuần sau ngày comeback - Beast xếp ở vị trí đầu tiên trong Music Bank của KBS với bài hát "Soom" (숨, nghĩa là "hơi thở") trong album Mastermind.[27] Ngày 23 tháng 10 năm 2010, Beast là một trong những người nhận giải Nghệ sĩ châu Á mang tầm ảnh hưởng" vốn được trao cho những ai giành được sự chú ý nhiều nhất tại châu Á trong năm đó.[28]

Ngày 3 tháng 11 năm 2010, Beast mở hàng cho phép đặt hàng trước mini-album thứ tư mang nhan đề Lights Go On Again.[29] Album leo vào top 5 trên các bảng xếp hạng âm nhạc của Mnet vào ngày 8 tháng 11 năm 2010; ca khúc chủ đề "Lead" ra mắt ở ngay vị trí đầu bảng trong khi các bài hát còn lại trong mini-album thì lần lượt nắm giữ các vị trí số 2, 3, 4 và 5. Theo trang web đánh giá doanh số Hanteo thì doanh số bán ra của mini-album này đạt thành công to lớn và đứng đầu trong bảng thống kê.[30]

2011: Ra mắt tại Nhật, Would Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm đã biểu diễn 2 bài hát ''Shock'' và ''Soom'' và được trao giải thưởng Bonsang tại lễ trao giải Seoul Music lần thứ 20 vào ngày 20 tháng 1 năm 2011 [31]. BEAST cũng được xếp thứ 40 trong danh sách Forbes's Korea Celebrity 40 vào ngày 24 tháng 2, 2011.[32] Single tiếng Nhật đầu tiên "Shock", được phát hành vào ngày 16 tháng ba năm 2011, và đứng vị trí số 2 trên bảng xếp hạng hàng tuần của Oricon. [33] Tuy nhiên, do trận động đất Tohoku năm 2011, tất cả lên kế hoạch quảng bá tại Nhật cho single của họ đã bị hủy bỏ.

BEAST phát hành full album tiếng Hàn đầu tiên của họ vào ngày 17 tháng 5 năm 2011 với tựa đề Fiction and Fact.[34] ca khúc của họ "On Rainy Days", phát hành dưới dạng kỹ thuật số trước khi phát hành album của họ, chiến thắng lần đầu tiên vào ngày KBS Music Bank 27, 2011. 2 single tiếng Nhật, "Bad girl" của họ, được phát hành vào ngày 15 tháng 6 năm 2011.

2012: International Tour- Beautiful Show, Midnight Sun[sửa | sửa mã nguồn]

Trong năm 2012, Beast đã tổ chức một tour diễn quốc tế, "Beautiful Show", tại 17 thành phố ở 12 quốc gia khác nhau từ châu Á, châu Âu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Ca khúc của họ ''Hateful Person'' cũng đã được sử dụng làm nhạc nền cho một bộ phim truyền hình Hàn Quốc, "Big".

Ngày 11 tháng 7 lúc nửa đêm KST, B2ST đã tổ chức một sự kiện "Hang Out On Live Air'' trên trang Google+ của mình để kỷ niệm 1000 ngày kể từ khi debut vào năm 2009. Họ đã nói chuyện với người hâm mộ từ 50 quốc gia và tiết lộ thông tin về sự trở lại của họ.Mặc dù đó là một đêm live-streaming muộn, nhiều người hâm mộ vẫn theo dõi để ủng hộ cho B2ST.

Vào ngày 21, B2ST phát hành mini album thứ 5 Midnight Sun. Gần một giờ sau khi mini-album của họ đã được phát hành, MV "Beautiful Night" đã được phát hành trên kênh YouTube chính thức của B2ST. Trên 26 Tháng bảy 2012 lúc 23:00, họ đã tổ chức một concert tại Gwanghwamun Plaza, với 4.000 khán giả để quảng bá mini album thứ năm của họ Midnight Sun, và buổi concert đã được phát sóng trên chương trình âm nhạc Inkigayo của đài SBS. [35] [36] Ngày 16 tháng 8, B2ST đã giành chiến thắng trên M! Countdown với "Beautiful Night", và đạt được vị trí đứng đầu trên bảng xếp hạng trong ba tuần liên tiếp.

2013: Will you be okay & ''Hard To Love, How To Love''[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29 tháng năm 2013, Beast phát hành 1 single kỹ thuật số mang tên '' Will You Be Okay?", Một bản ballad được viết bởi thành viên Yong Junhyung.

Vào ngày 11, Cube Entertainment tiết lộ tên của album'' Hard to Love, How to love'', và ngày phát hành của album, 19 tháng 7, thông qua Twitter của họ. Vào ngày 12, tiết lộ bài hát chủ đề của album là "Shadow (Geurimja)", và một bức ảnh teaser. Ngày 15 Tháng Bảy, tracklist của album, bao gồm tám bài hát cũng đã được tiết lộ [37] và vào ngày hôm sau, tháng Bảy 16, video teaser cho "Shadow" đã được phát hành trên tài khoản YouTube chính thức của nhóm. Ngày 19 tháng 7, MV chính thức ''Shadow'' được phát hành.

2014: Good luck, Time[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 16 tháng sáu năm 2014, Beast phát hành mini album thứ sáu Good Luck của họ và giành No.1 trên nhiều chương trình âm nhạc.

Vào ngày 05 Tháng Mười 2014, Beast đã ra mắt mini-album mang tên Time thứ 7, với một teaser video được đăng trên kênh YouTube chính thức của họ.Album được phát hành vào ngày 20 tháng 10 năm 2014, với bài hát chủ đề 12:30'.

2015: Album Ordinary[sửa | sửa mã nguồn]

BEAST phát hành mini album thứ tám Ordinary vào ngày 27 tháng 7. Bài hát chủ đề là "YeY" và phát hành MV cho bài hát chủ đề và MV cho bài hát pre-released ''Gotta Go To Work''. Khi "Gotta Go To Work" được phát hành, lập tức all-kill tất cả những bảng xếp hạng và nhận được rất nhiều phản hồi tích cực từ cư dân mạng. Tuy nhiên, bài hát chủ đề "YeY" có vẻ không được may mắn như thế. Tuy không all-kill như những lần comeback trước, nhưng cũng đã đem về cho BEAST 4 chiếc cúp từ những đợt quảng bá trên các sân khấu âm nhạc cuối tuần. Lần comeback này không gặt hái được nhiều thành công như trước.

Ngày 16 tháng 11 , Beast phát hành album ''The Last Word'' bằng tiếng Nhật.

2016 - Hiện tại: Hyunseung rời nhóm, Highlight[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 9 tháng 3 năm 2016, BEAST cho ra mắt album tiếng Nhật mang tên Guess Who?. Album bao gồm những bài hát tiếng Nhật đã cho ra mắt từ đầu năm 2015 đến khi ra mắt bài hát cuối cùng tên với album - "Guess Who?"

Ngày 19 tháng 4, Cube Entertainment xác nhận Hyunseung rời nhóm. [38] Lí do đưa ra là khác biệt về phong cách âm nhạc. BEAST sẽ tiếp tục hoạt động với năm thành viên và Hyunseung sẽ trở thành một nghệ sĩ solo.

Ngày 4 tháng 7, BEAST trở lại với đội hình 5 thành viên cùng album phòng thu thứ ba mang tên Highlight với bài hát chủ đề là "Ribbon". BEAST cũng đồng thời quảng bá bài hát pre-released là "Butterfly". Như hiệu ứng thành công từ những ca khúc pre-released trước kia của BEAST, ca khúc "Butterfly" khi ra mắt đã all-kill trên các bảng xếp hạng âm nhạc trực tuyến. Khi album được phát hành, ca khúc "Ribbon" đứng đầu bảng xếp hạng, tiếp đến là "Butterfly", và các thứ tự còn lại là những bài hát khác trong album. Tuy nhiên, có vẻ như đợt quảng bá này không thành công lắm. Sau 3 tuần quảng bá trên các chương trình âm nhạc cuối tuần, ca khúc chỉ mang về 2 chiếc cúp.

Danh sách thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày sinh Vị trí
Latinh Hangul
Yoon Doo Joon 윤두준 4 tháng 7, 1989 (27 tuổi) Trưởng nhóm, Hát phụ, Rap phụ
Yong Jun Hyung 용준형 19 tháng 12, 1989 (26 tuổi) Rap chính
Yang Yo Seob 양요섭 5 tháng 1, 1990 (26 tuổi) Hát chính
Lee Gi Kwang 이기광 30 tháng 3, 1990 (26 tuổi) Nhảy chính, Hát phụ, Gương mặt đại diện
Son Dong-woon 손동운 6 tháng 6, 1991 (25 tuổi) Hát phụ, Maknae

Thành viên cũ[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày sinh Vị trí
Latinh Hangul
Jang Hyun-seung 장현승 3 tháng 9, 1989 (26 tuổi) Hát dẫn, Nhảy dẫn

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Video âm nhạc
2009 Bad Girl
2010 Shock
Take Care of My Girlfriend (Say No)
Mystery
Breath
Beautiful
2011 Shock (Japanese Version)
Fiction
Bad Girl (Japanese Version)
2012 Beautiful Night
Midnight -Hoshi wo Kazoeru Yoru-
2013 I'm Sorry
Shadow
How To Love
2014 Adrenaline (Japanese Version)
No More
Good Luck
Kimi wa dou/ How about you (Japanese version)
12:30
2015 Gotta Go To Work
YeY
2016 Butterfly
Ribbon

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng
2009

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Hàn Quốc): Giải Âm nhạc Tân binh (tháng 12)[7]

2010
2011
2012

Golden Disk Awards[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Lần thứ Đề cử Giải thưởng Kết quả
2010 25 Giải Người mới Samsung Yepp[47][48] Đoạt giải
2011 26 "Fiction and Fact" Disk Bonsang Đoạt giải
Giải Biểu tượng K-pop CeCi Đoạt giải
Giải Quốc tế MSN[49] Đoạt giải
2012 27th "Midnight Sun" Giải Được mến mộ rộng rãi Đề cử
Giải Album đĩa Đoạt giải
Giải Nghệ sĩ xuất sắc nhất JTBC Đoạt giải

Mnet Asian Music Awards[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Lần Đề cử Giải thưởng Kết quả
2010 12 "Shock" Nhóm nhạc nam xuất sắc nhất Đề cử
Màn biểu diễn vũ đạo xuất sắc nhất của nam Đề cử
2011 13 "Fiction" Màn biểu diễn vũ đạo xuất sắc nhất của nam [42] Đoạt giải
Màn biểu diễn vũ đạo xuất sắc nhất của nam Đề cử
2012 14 "Beautiful Night" Màn biểu diễn vũ đạo xuất sắc nhất của nhóm nhạc nam[50] Đề cử
Nhóm nhạc nam toàn cầu xuất sắc nhất [50] Đề cử
Bài hát của năm [51] Đề cử
Nghệ sĩ của năm Đề cử

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “장현승, 결국 비스트 탈퇴..솔로 가수로 활동(공식입장 전문)” (bằng tiếng Hàn). Naver. 19 tháng 4, 2016. Truy cập 19 tháng 4, 2016. 
  2. ^ (tiếng Hàn)“BEAST, ‘Fiction’ striking emphasis ‘unusual movement’ receiving attention”. TVDaily. Ngày 18 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2011. 
  3. ^ “비스트, 재활용 그룹이라 불리던 과거 어땠나 – 손에 잡히는 뉴스 눈에 보이는 뉴스 – 뉴스엔”. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2012. 
  4. ^ (tiếng Hàn)“B2ST Official Website”. Cube Entertainment. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2009. 
  5. ^ a ă (tiếng Hàn)“B2ST changes their name to BEAST, ready for their debut on the 15th”. Newsen. Ngày 14 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2009. 
  6. ^ (tiếng Hàn) “BEAST: "After the Showcase on the 15th, we cannot hide our tears". Newsen. Ngày 17 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2009. 
  7. ^ a ă (tiếng Hàn) “BEAST wins the December Rookie Music Award”. Newsen. Ngày 27 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2009. 
  8. ^ (tiếng Hàn)“BEAST, 'Hit Debut Album Sells 40,000 Copies'. SPN Edaily. Ngày 10 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2010. 
  9. ^ (tiếng Hàn)“4MINUTE-BEAST are going international! CUBE-Universal strategic signing ceremony”. Newsen. Ngày 5 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2011. 
  10. ^ (tiếng Hàn)“BEAST, Taiwan promotions without Lee KiKwang, why?”. Newsen. Ngày 21 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2010. 
  11. ^ a ă (tiếng Hàn)“T-ara, After School and BEAST awarded newcomer awards at 19th High1 Seoul Music Awards”. Newsen. Ngày 3 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2010. 
  12. ^ (tiếng Hàn)“Release of BEAST's new album put forward by a day "Currently looking for the source of leakage”. Newsen. Ngày 28 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2010. 
  13. ^ (tiếng Hàn)“Beast in Tears of Joy – "We Love All You Fans" in after Receiving their First Win”. Newsen. Ngày 25 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2010. 
  14. ^ (tiếng Hàn)“BEAST's 2nd Mini Album tops Hanteo Album Sales Chart 10 days to their Comeback!”. Newsen. Ngày 10 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2010. 
  15. ^ (tiếng Hàn)“Beast, First visit to Singapore but already made it into the Gold Disk category”. Sports Chosun. Ngày 25 tháng 6 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2010. 
  16. ^ (tiếng Hàn)“Will the 'Newcomer Group' BEAST Become the Best? 'Why is There Such An Anticipation For Their Comeback?'. Newsen. Ngày 23 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2010. 
  17. ^ (tiếng Hàn)“BEAST's 2nd Mini Album, 'Shock of the New Era'. Interpark. Ngày 22 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2011. 
  18. ^ (tiếng Hàn)“BEAST's Shocking Transformation of the Powerful Charismatic 'Shock' VTach Dance is the Center of Attention”. Newsen. Ngày 3 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2010. 
  19. ^ (tiếng Hàn)“BEAST's Surprising Transformation As Ballad Singers”. OSEN. Ngày 2 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2010. 
  20. ^ (tiếng Hàn)“Followup hit? BEAST releases new sincere version of song ‘Easy’”. Newsen. Ngày 29 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010. 
  21. ^ (tiếng Hàn)“BEAST and 4minute Are Awarded the Golden Disk Award”. Asiae News. Ngày 10 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2010. 
  22. ^ “BEAST & 4minute to stand on Singapore Olympic stage as first Korean artists”. Sports Chosun. 10 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2010. 
  23. ^ a ă “BEAST wins the Smoothie King Cool Star Award on 2010 Mnet 20's Choice Awards”. Star News. Ngày 26 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2010. 
  24. ^ (tiếng Hàn)“BEAST gains attention with a "love call" from Omarion”. The Star. Ngày 27 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010. 
  25. ^ (tiếng Hàn)“Even Twitter is paying attention to BEAST's comeback”. Newsen. Ngày 28 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2010. 
  26. ^ (tiếng Hàn)“BEAST gains explosive feedback after revealing their new song from their album”. The Star. Ngày 18 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010. 
  27. ^ (tiếng Hàn)“BEAST 'Soom' places first on Music Bank only after a week since comeback”. My Star News. Ngày 8 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010. 
  28. ^ a ă “4Minute.B2ST, will be appearing in 'Asia Song Festival'. Yonhap News. Ngày 6 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010. 
  29. ^ (tiếng Hàn)“BEAST's 4th album 'Lights Go On Again' preorder sales start”. Newsen. Ngày 3 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010. 
  30. ^ (tiếng Hàn)“Expect a storm of vigor from BEAST's comeback with 'Beautiful'. Newsen. Ngày 9 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2010. 
  31. ^ “30”. 
  32. ^ “31”. 
  33. ^ “32”. 
  34. ^ “33”. 
  35. ^ “34”. 
  36. ^ “35”. 
  37. ^ “35”. 
  38. ^ “37”. 
  39. ^ (tiếng Hàn)“Cyworld Digital Music Award”. Cyworld. Tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2010. 
  40. ^ “B2ST, IU, and Orange Caramel among winners at ‘11th Korea Visual Arts Festival'. Star News (bằng tiếng Hàn). Ngày 30 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2010. 
  41. ^ a ă “Beast Wins Bonsang Award at Seoul Music Awards after Winning Newcomer Award Last Year”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Ngày 20 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  42. ^ a ă [1]
  43. ^ '한류별들 총집합' 2011 대한민국 대중문화예술상 – 연예 – 스포츠서울닷컴”. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2011. 
  44. ^ a ă “[포토엔]비스트 ‘멜론뮤직어워드 대상 영광 만세로~!’ – 손에 잡히는 뉴스 눈에 보이는 뉴스 – 뉴스엔”. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2011. 
  45. ^ “KARA, B2ST, and more win at 7th annual ‘Asia Model Awards’”. TVDaily. 19 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012. 
  46. ^ a ă “2012 Soompi Gayo Award Results”. Soompi. Ngày 31 tháng 12 năm 2012. 
  47. ^ “Beast, Secret, Sistar Sweeps the Golden Disk Newcomer Awards”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Ngày 9 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2011. 
  48. ^ (tiếng Hàn)“2010 Golden Disk Awards”. Golden Disk Awards. Ngày 9 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2011. 
  49. ^ “비스트, 골든디스크 MSN 인터내셔널상 수상”. Truy cập 29 tháng 4 năm 2015. 
  50. ^ a ă “[MAMA] Nominees for the 2012 MAMA Announced”. 2012 Mnet Asian Music Award. Mnet Media Corp. 23 tháng 10 năm 2012. Truy cập 25 tháng 10 năm 2012. 
  51. ^ “[MAMA] Nominees for the 2012 MAMA Announced”. 2012 Mnet Asian Music Award. Mnet Media Corp. 23 tháng 10 năm 2012. Truy cập 25 tháng 10 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Các trang chính thức