CSAT

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bài thi đánh giá năng lực vào đại học năm 2018 đã bắt đầu. (làm mới)

CSAT
Hangul대학수학능력시험
Hanja大學修學能力試驗
Romaja quốc ngữDaehak suhak neungnyeok siheom
McCune–ReischauerTaehak suhak nŭngnyŏk sihŏm
CSAT
Giấy dự thi kỳ thi đại học năm 2008
Phiếu thông báo điểm thi đại học năm 2008.
Quang cảnh trước cổng trường diễn ra kỳ thi đánh giá năng lực vào đại học năm 2017.

CSAT (tiếng Anh: College Scholastic Ability Test, tiếng Hàn: 대학수학능력시험Hanja: 大學修學能力試驗 âm Hán Việt: "Đại học tu học năng lực thí nghiệm"; còn gọi tắt là Suneung (수능) tức "tu năng") là kỳ thi chung chuẩn hóa nhằm đánh giá năng lực để được nhận vào các trường đại học tại Hàn Quốc từ năm 1994. Kỳ thi nằm dưới sự quản lý của Viện Giáo trình và Đánh giá Hàn Quốc (KICE, Korean Institute of Curriculum and Evaluation).[1][2]

Kỳ thi thường tổ chức vào tháng 11 nhưng tùy theo năm mà ngày thi chính thức có thể thay đổi; từ năm 1994 đến 2006, CSAT luôn được tổ chức vào ngày thứ tư của tuần thứ ba song đến năm 2007, kỳ thi được tổ chức vào ngày thứ Năm của tuần thứ hai.[3] Vào năm 2017, do có sự thay đổi nhẹ trong số phần thi và nội dung thi nên ngày thi chính thức được hoãn lại đến ngày thứ Năm của tuần thứ ba của tháng 11.

CSAT đóng góp một phần quan trọng trong nền giáo dục Hàn Quốc và được tin rằng sẽ quyết định tương lai của mỗi thí sinh. Vào ngày thi diễn ra, mọi hoạt động diễn ra tại Hàn Quốc đều bắt đầu trễ hơn bình thường. Sàn chứng khoán được mở cửa trễ hơn, học sinh học tiểu học hay bậc trung học cơ sở (cấp II) thường sẽ được học trễ hơn. Để hạn chế việc ùn tắc giao thông ảnh hưởng đến các thí sinh, các tuyến tàu điện và phương tiện công cộng được mở sớm hơn và thường xuyên hơn để đón thí sinh. Đặc biệt vào phần thi Nghe hiểu, tất cả các máy bay đều bị hạn chế nhằm tạo điều kiện tối đa cho thí sinh. Ngoài ra, thí sinh còn được hộ tống bởi cảnh sát nếu đi trễ. Trong tổng số thí sinh tham dự thi hằng năm, trung bình có khoảng 20% thí sinh thi lại. CSAT được đánh giá cao trên thế giới vì tính hiệu quả và thực tài của bài thi.

Cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

CSAT được bắt đầu tổ chức vào năm 1994 để thay thế kỳ thi tuyển sinh đại học trước đó tại Hàn Quốc. Mục đích việc thay thế kỳ thi này nhằm hạn chế lối học chay, học vẹt của học sinh để vượt qua kỳ thi và thay vào đó khuyến khích kĩ năng tư duy phân tích trên các lĩnh vực ngôn ngữ, toán học, tiếng Anh, môn chuyên của học sinh (ban đầu chỉ có các môn tự nhiên và xã hội và từ năm 2004 đã có thêm môn nghề), ngoại ngữ thứ hai và Hán tự (bắt đầu có từ năm 2000). Kỳ thi được dự tính tổ chức hai lần một năm, vào tháng 8 và tháng 11 nhưng đợt thí tháng Tám có ít thí sinh tham dự kể từ kỳ thi tuyển sinh đại học trước đó nên khi chuyển qua CSAT, kỳ thi chỉ được tổ chức một lần trong năm vào tháng 11.

Kỳ thi CSAT[sửa | sửa mã nguồn]

Bài thi được xây dựng dựa trên sách giáo khoa chuẩn của toàn quốc. KICE là cơ quan duy nhất và chính thức xây dựng bài thi, in đề thi, chấm và sửa đề thi và giám sát quá trình xây dựng bài thi. Quá trình xây dựng các câu hỏi được xây dựng trên một hội đồng chung, bao gồm 2 thành phần:

  1. Các giáo sự đại học
  2. Các giáo viên trung học.

Nhóm gồm các giáo sư đại học nắm quyền trong việc tạo dựng các câu hỏi trong đề thi song trong một số trường hợp, và đặc biệt từ năm 2000 trở đi, các giáo viên trung học cũng đồng thời được tham gia vào việc tạo dựng các câu hỏi cho bài thi.

Các câu hỏi bài thi được xem xét lại bởi các giáo viên trung học trước khi được chính thức đưa vào bài thi. Vào năm 2012, có 696 giáo viên và giáo sự tham gia vào quá trình xây dựng đề thi. Mỗi người tham gia vào quá trình này được trả trung bình khoảng 300 dollar một ngày.

Từ năm 2016, các môn thi bao gồm:

  1. Quốc ngữ
  2. Toán học
  3. Ngôn ngữ Anh
  4. Lịch sử Hàn Quốc
  5. Các môn Khoa học Xã hội, Khoa học Tự nhiên, Nghề
  6. Ngoại ngữ / Hán tự

Thí sinh có thể chọn từ tất cả hoặc một vài môn trong năm môn/nhóm môn trên. Riêng phần thi Quốc ngữ và Toán học được chia thành hai phần: A và B. Thí sinh được quyền chọn phần nào để dự thi. Tuy nhiên, thí sinh chỉ được chon một phần B trong số hai môn và việc chon môn Quốc ngữ B và Toán học B bị nghiêm khắc hạn chế.

Các môn Khoa học Xã hội được tiếp tục chia thành các môn:

  1. Đạo đức và Cuộc sống
  2. Đạo đức và Tư tưởng
  3. Địa lý Hàn Quốc
  4. Địa lý Thế giới
  5. Lịch sử Đông Á
  6. Lịch sử Thế giới
  7. Luật và Chính trị
  8. Xã hội và Văn hóa
  9. Kinh tế - Tài chính

Thí sinh được chọn tối đa 2 môn trong số 10 môn trên.

Các môn Khoa học Tự nhiên được tiếp tục chia thành các môn:

  1. Vật lý 1
  2. Hóa học 1
  3. Sinh học 1
  4. Khoa học Trái đất 1
  5. Vật lý 2
  6. Hóa học 2
  7. Sinh học 2
  8. Khoa học Trái đất 2

Thí sinh cũng đồng thời được chọn 2 môn trong số 8 môn trên.

Các môn nghề và tự chọn gồm:

  1. Nông nghiệp
  2. Công nghiệp
  3. Thương nghiệp và Thông tin
  4. Hàng hải và Hải dương học
  5. Nữ công Gia chánh và Kinh doanh

Thí sinh phải chọn một môn thi. Tuy nhiên, thí sinh chỉ được tham gia khảo thí chỉ khi thí sinh đã hoàn thành 80% thời lượng của bài thi này.

Ngoài môn Ngôn ngữ Anh ra, thí sinh được quyền chọn thêm một môn ngoại ngữ thứ 2, bao gồm các môn:

  1. Tiếng Pháp 1
  2. Tiếng Đức 1
  3. Tiếng Tây Ban Nha 1
  4. Tiếng Hoa 1
  5. Tiếng Nhật 1
  6. Tiếng Nga 1
  7. Tiếng Ả Rập 1
  8. Tiếng Việt cơ bản
  9. Hán tự

Sau kỳ thi, hội đồng coi thi sẽ thu lại các bài thi, scan và bắt đầu chấm. Việc chấm điểm, bao gồm việc phúc khảo và in kết quả kéo dài khoảng một tháng.

Bài thi được thực hành cực kỳ nghiêm túc và các hoạt đồng thường ngày đều phải đuơc hạn chế hoặc dời thời gian. Không thí sinh nào và giám khảo nào được mang điện thoại di động, sách báo, thức ăn và tất cả những thứ có thể khiến thí sinh mất tập trung. Ngoài ra, việc trao đổi giữa các giám khảo, mở cửa sổ, đứng trước bàn thi của thí sinh đều bị nghiêm cấm. Các giám kháo được yêu cầu không được làm bất kỳ thứ gì có thể khiến cho thí sinh phân tâm

Nội dung thi[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung các bài thi CSAT[4]
  • Quốc ngữ (trước đây là Ngữ văn), 45 câu, tổng cộng 100 điểm, 80 phút (08:40~10:00)
  • Toán học, 30 câu (gồm 9 câu hỏi chủ quan), tổng 100 điểm, 100 phút (10:30~12:10)
    • Phần 'Ga': Tích phân và vi phân 2, Hình học và Vector, Xác suất và Thống kê
    • Phần 'Na': Toán học 2, Vi phân và tích phân 1, Xác suất và Thống kê
  • Tiếng Anh (trước đây là Ngoại ngữ), 45 câu hỏi (gồm 17 câu nghe), tổng cộng 100 điểm, 70 phút (13:10~14:20)
  • Lịch sử Hàn Quốc và Khoa học xã hội/Khoa học/Giáo dục dạy nghề, mỗi phần 20 câu, mỗi phần 50 điểm, 102 phút (14:50~16:32)
    • Lịch sử Hàn Quốc (phần bắt buộc)
    • Khoa học Xã hội (Chọn tối đa: 2 lĩnh vực bên dưới)
      • Đạo đức và tư tưởng, đạo đức và cuộc sống
      • Lịch sử thế giới, lịch sử Đông Á
      • Địa lý Hàn Quốc, địa lý thế giới
      • Luật và chính trị, Kinh tế, Xã hội và Văn hóa
    • Khoa học (Chọn tối đa: 2 lĩnh vực bên dưới)
      • Vật lý 1, Hóa học 1, Sinh học 1, Khoa học Trái đất 1, Vật lý 2, Hóa học 2, Sinh học 2, Khoa học Trái đất 2
    • Giáo dục dạy nghề (Chọn tối đa: 2 lĩnh vực bên dưới)
      • Hiểu biết về nông nghiệp, kỹ thuật nông nghiệp cơ bản, công nghiệp tổng quát, soạn thảo cơ bản, kinh tế thương mại, nguyên lý kế toán, hiểu biết về hải dương học, công nghiệp vận chuyển thủy sản cơ bản, phát triển con người, hiểu biết về ngành công nghiệp phục vụ đời sống
  • Ngoại ngữ hoặc danh tác và chữ Trung Quốc, 30 câu, tổng cộng 50 điểm, 40 phút (17:00~17:40)
    • Tiếng Ả-Rập, tiếng Trung Quốc, danh tác Trung Quốc, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nhật, tiếng Nga, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Việt (tùy chọn 1 ngôn ngữ)

Số lượng thí sinh dự thi[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nghiên cứu của Viện Giáo trình và Đánh giá Hàn Quốc

  • 1993 ~ 1997 (giáo trình giảng dạy thứ 5)
Phân chia Lần 1 năm 1993 Lần 2 năm 1993 1994 1995 1996 1997
Người nộp đơn 742,668 750,181 781,749 840,661 824,368 885,321
Người dự thi 716,326 726,634 757,488 809,867 795,338 854,272
Phần trăm 96.5% 96.9% 96.9% 96.3% 96.5% 96.5%
  • 1998 ~ 2003 (Giáo trình giảng dạy thứ 6)
Phân chia 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
Người nộp đơn 868,643 896,122 872,297 739,129 675,759 673,585
Người dự thi 832,223 868,366 850,305 718,441 655,384 642,583
Phần trăm 96.7% 96.9% 97.5% 97.2% 97.0% 95.3%
  • 2004 ~ 2015 (Giáo trình giảng dạy thứ 7, giáo trình sửa đổi 2007 và 2009)[5]
Năm 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015
Người nộp đơn 610,257 593,806 588,899 584,934 588,839 677,834 712,227 693,634 668,527 650,747 640,619 631,184
Người dự thi 574,218 554,345 551,884 550,588 559,475 638,216 668,991 648,946 620,723 606,813 594,617 585,332
Phần trăm 94.1% 93.4% 93.7% 94.1% 95.0% 94.2% 93.9% 93.6% 92.9% 93.2% 92.9% 92.7%
  • 2016 ~ 2019 (Giáo trình sửa đổi năm 2011)
Năm 2016 2017 2018 2019
Người nộp đơn 605,988
Người dự thi 552,297
Phần trăm 91.1%

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Member Research Institute”. NRCS. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2013. 
  2. ^ “대학⌒수학⌒능력⌒시험大學修學能力試驗”. NAVER Corp. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2013. 
  3. ^ “2017년 대학수학능력시험부터 문과 • 이과 구분 폐지 검토…한국사 필수”. Sportworldi.com. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2013. 
  4. ^ “대학입학예비고사[preliminary college entrance examination,大學入學豫備考査]”. Doosan Cooperation. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2013. 
  5. ^ Tuy nhiên, trong năm học 2012 và 2013, chỉ có lĩnh vực toán và ngôn ngữ được phản ánh trong nội dung của chương trình sửa đổi năm 2007 đã được thực hiện.