Chủ đề:Truyền hình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm


Cổng tri thức truyền hình

Phòng biên tập chương trình
Truyền hình là một phương thức truyền phát và thu nhận tín hiệu hình ảnhâm thanh trong một khoảng cách rất xa. Theo ghi nhận của Hailee Fleck, nhà khoa học người Nga Constantin Perskyi là người đã có công tạo ra từ "television" (tele: xa, vision: nhìn thấy) năm 1900. Chiếc TV ngày nay đã phát triển qua nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên gắn liền với TV cơ điện tử của các nhà khoa học tiên phong John Logie Baird (người Scotland), và Paul Gottlieb Nipkow. Kế đến là TV điện tử sử dụng ống tia Catốt với chất lượng hình ảnh tốt hơn thế hệ trước, thời gian hoạt động lâu và có tính ứng dụng cao. Công lao quan trọng này thuộc về hai nhà phát minh Alan Archibald Campbell-Swinton (người Anh) và Boris Rosing (người Nga), họ đã làm việc độc lập năm 1907, nhưng nhà khoa học Mỹ Philo Farnsworth được cho là người đầu tiên sáng chế chiếc TV điện tử hoạt động được bằng việc tiến hành các thí nghiệm chứng minh rõ ràng năm 1928.

Năm 1928 ghi nhận bước phát triển của hệ thống truyền hình quét cơ và mãi đến năm 1936 là hệ thống truyền hình quét điện tử. Từ thập niên 1950, truyền hình trắng đen và truyền hình màu kỹ thuật truyền phát mặt đất lần lượt được giới thiệu. Sau này, chúng ta có truyền hình cáp, truyền hình kỹ thuật sốtruyền hình độ nét cao. Truyền hình cáp thu và phát thông tin qua hệ thống cáp ngầm hoặc qua các vệ tinh đến các hộ gia đình.

Thông tin thêm...


Bài viết chọn lọc

Công thức 1, còn gọi là Thể thức 1 hay F1, là cấp độ đua xe bánh hở cao nhất theo định nghĩa của Liên đoàn Ô tô Quốc tế (FIA). "Công thức" trong tên gọi là để chỉ một loạt quy định mà tất cả người và xe tham gia phải tuân thủ. Mùa giải vô địch thế giới F1 bao gồm một chuỗi các cuộc đua, được biết đến với tên Grands Prix, thường được tổ chức tại những đường đua được xây dựng riêng, cũng có một số ít trường hợp là trên những con đường trong thành phố, cuộc đua nổi tiếng nhất trong số đó là Monaco Grand PrixMonte Carlo. Xe hơi Công thức 1 khi đua với tốc độ cao nhất có thể lên tới 360 km/h (225 mph) với vòng quay máy lên tới 19000 vòng/phút. Những chiếc xe này có khả năng kéo gấp 5 lần trọng lực tại một số khúc cua. Hiệu suất của xe phụ thuộc rất nhiều vào điện tử, khí động lực học, nhípbánh xe. Động cơ và phần truyền động của xe Công thức 1 hiện đại là một trong số những bộ phận cơ khí phải chịu áp lực lớn nhất trên hành tinh.

Châu Âu là cái nôi của Công thức 1; tất cả các đội đấu đều có trụ sở tại đó và khoảng một nửa cuộc đua tổ chức tại đó. Cụ thể đã có 13 tay đua vô địch và 32 đội đua chiến thắng đến từ khu vực này. Tuy nhiên trong những năm gần đây, phạm vi cuộc đua đã mở rộng đáng kể và Grands Prix giờ đây được tổ chức tại mọi nơi trên Trái đất. Một số cuộc đua ở châu Âu dần chuyển sang các cuộc đua tại các châu lục khác, nhất là châu Á như: Bahrain, Trung Quốc, Malaysia, Thổ Nhĩ Kỳ, và Singapore (năm 2008); sắp đến Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhấtẤn Độ sẽ đăng cai. Trong số 18 cuộc đua vào năm 2008, có 9 cuộc đua là ở bên ngoài châu Âu.

Công thức 1 là một sự kiện truyền hình lớn, với hàng triệu người theo dõi mỗi cuộc đua trên khắp thế giới. Là môn thể thao đắt đỏ nhất thế giới, hiệu ứng kinh tế của nó là rất rõ ràng, và những trận chiến tài chính và chính trị đã xảy ra ở nhiều nơi. Trung bình khoảng 55 triệu người trên thế giới theo dõi trực tiếp các cuộc đua Công thức 1. Lịch sử và sự phổ biến của môn thể thao này đã khiến cho nó trở thành một môi trường buôn bán hiển nhiên, dẫn đến sự đầu tư cao từ những nhà tài trợ, chuyển thành ngân sách cực lớn dành cho các đội đua. Vài đội đua đã phá sản hoặc bán cho công ty khác từ năm 2000. Ví dụ gần đây nhất về điều này là đội đua Super Aguri đã bị từ chối không cho tham gia Giải Grand Prix Tây Ban Nha và sau đó phải giải tán do thiếu nguồn tiền sau khi nỗ lực thu hút tài trợ bất thành.

[[|...đề cử]]


Hình ảnh chọn lọc

Chảo parabol
Tác giả: Bogdan

Đây là hình ảnh chiếc ăngten có dạng chảo parabol được thiết kế với mục đích truyền phát và thu nhận tín hiệu từ các vệ tinh. Với chủng loại ăngten dùng cho truyền hình vệ tinh này, chúng ta có thể bắt được những bước sóng ngắn; kích thước của loại này không cố định và thay đổi tuỳ theo nhu cầu của người sử dụng.


Bạn có biết


Tin tức truyền hình

Tin tức truyền hình - Wikinews
Wikinews-logo.svg
  • 01-06: Disney trình chiếu serie phim mới, Pucca
  • 14-06: Không chốn dung thân, bộ phim giành được nhiều giải thưởng và đề cử hàn lâm ra mắt trên kênh HBO
  • 19-06: Ra mắt chương trình Ai thông minh hơn học sinh lớp 5?.
  • Nhóm nhảy Diversity giành ngôi quán quân cuộc thi Britain's Got Talent
  • Nhóm nhạc Aqua của thập niên 90 tái xuất qua đĩa đơn Back to the 80's
  • Các phim khởi chiếu trong tháng: Đêm kinh hoàng 2, Trở lại tuổi 17, State of Play, Hannah Montana: The Movie...
  • Home, bộ phim tài liệu được trình chiếu toàn thế giới ngày 05-06


Nhân vật chọn lọc

Cảnh trong phim Sabrina, năm 1956
Audrey Hepburn (1929-1993) là một diễn viên truyền hìnhđiện ảnh huyền thoại của những năm 1950 & 1960. Qua các cuộc bầu chọn, bà thường được xem là một trong những phụ nữ đẹp nhất thế kỷ 20. Audrey Hepburn đi vào lịch sử điện ảnh như một trong những diễn viên tài năng nhất. Bà đặc biệt thành công với các bộ phim hài lãng mạn.

Audrey Hepburn bước chân vào nghệ thuật với mong muốn trở thành một diễn viên múa, nhưng sau đó lại thành công ở lĩnh vực sân khấu vào cuối những năm 1940. Vai diễn trong vở Gigi (1951) trên sân khấu Broadway đã mở cửa cho Audrey vào nghệ thuật điện ảnh. Tới năm 1953, bộ phim Roman Holiday đem lại cho cô giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Là ngôi sao huyền thoại của điện ảnh của những thập niên 1950 và 1960, Audrey Hepburn tham gia nhiều bộ phim nổi tiếng như Sabrina, My Fair Lady, Breakfast at Tiffany's và giành bốn đề cử Oscar khác. Năm 1967, vào tuổi 38, Audrey Hepburn hầu như kết thúc sự nghiệp diễn xuất.

Audrey Hepburn đi vào lịch sử điện ảnh như một trong những diễn viên tài năng nhất. Bà đặc biệt thành công với các bộ phim hài lãng mạn. Năm 1999, Viện phim Hoa Kỳ đã xếp Audrey Hepburn đứng thứ 3 trong số 25 nữ diễn viên huyền thoại của Danh sách 100 ngôi sao điện ảnh của Viện phim Mỹ, chỉ sau Katharine HepburnBette Davis. Với phong cách riêng biệt, đẹp cả trên màn ảnh lẫn ngoài cuộc sống, Audrey Hepburn được xem như một biểu tượng lớn của thời trang. Bà từng tạo nên những trào lưu mốt, ảnh hưởng tới xu hướng ăn mặc của nữ giới toàn thế giới. Bà còn là nguồn cảm hứng sáng tạo cho Hubert de Givenchy, nhà tạo mẫu nổi tiếng và cũng là bạn thân. Những năm cuối đời, Audrey trở thành một nhà hoạt động nhân đạo, được biết tới với vai trò Đại sứ thiện chí của UNICEF.


Thể loại

Thể loại truyền hình


Cần trợ giúp


Dự án Wikipedia

Dự án chính

Giải tríTruyền hìnhÂm nhạc
Điện ảnhTruyện tranhBóng đá

WikiProjects
Tiểu dự án

DisneyTokusatsu