Chiến tranh Nguyên-Nhật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chiến tranh Nguyên-Nhật
Một phần của Mông Cổ xâm chiếm Đông Ácác chiến dịch của Hốt Tất Liệt
Mōko Shūrai Ekotoba.jpg
samurai Suenaga đối diện mũi tên và bom của quân Mông Cổ và Triều Tiên
Thời gian 1274, 1281
Địa điểm Bắc Kyūshū, Nhật Bản
Kết quả Chiến thắng quyết định của Nhật Bản
Tham chiến
Nhật Bản Đế quốc Mông Cổ
Chỉ huy và lãnh đạo
Imperial Seal of Japan.svg Thiên hoàng Kameyama
Mitsuuroko.svg Hōjō Tokimune
So clan mon2.svg Shōni Sukeyoshi
Japanese Crest daki Gyouyou.svg Ōtomo Yoriyasu
So clan mon2.svg Shōni Tsuneyasu
So clan mon2.svg Shōni Kageyasu
Japanese crest narabi Takanoha.svg Kikuchi Takefusa
Japanese crest narabi Takanoha.svgTakezaki Suenaga
Michiyasu Shiroishi
Japanese Crest Hita Suhama.svg Fukuda Kaneshige
Hidari mitsudomoe.svg Tōgō Korechika
Hida Nagamoto
Mitsui Yasunaga
So clan mon2.svg Sō Sukekuni
Ageha-cho.svg Taira no Kagetaka
Sashi Husashi
Sashi Nao
Sashi Tōdō
Sashi Isamu
Ishiji Kane
Ishiji Jirō
Japanese Crest Matura mitu Hosi.svg Yamashiro Kai
Nguyên Mông:
Hốt Tất Liệt
Holdon
Cao Ly:
Cao Ly Nguyên Tông
Kim Bang-gyeong
Lực lượng
1274: 2.000-6.000[1]
1281: 40.000 (?)
Quân tiếp viện bởi Rokuhara Tandai: 60.000 (đã không đến)
1274: một lực lượng của quân người Mông Cổ, người Hánngười Triều Tiên, con số lên đến 23.000–39.700 người[2]
với 600–800 tàu (300 tàu lớn và 400–500 tàu nhỏ hơn)
1281: hai lực lượng của Mông Cổ, Hán và Triều Tiên với quân số lên đến 100.000 và 40.000 người
với 3.500 và 900 tàu (lần lượt)
Thương vong và tổn thất
1274/1281: Minimal[cần dẫn nguồn] 1274: 13.500[3]–22.500[cần dẫn nguồn]
1281: 100.000[4]–130.500[cần dẫn nguồn]

20.000–30.000 bị bắt[5]

Mông Cổ xâm lược Nhật Bản (元寇 (Nguyên khấu) Genkō?) diễn ra năm 1274 và năm 1281 là những nỗ lực quân sự chủ yếu của Hốt Tất Liệt nhằm chinh phục quần đảo Nhật Bản sau khi Cao Ly quy phục làm chư hầu. Cuối cùng là một thất bại, những nỗ lực xâm lược có tầm quan trọng lịch sử vĩ mô bởi vì họ đặt ra một giới hạn cho việc bành trướng của người Mông Cổ và xếp hạng như các sự kiện xác định quốc gia trong lịch sử của Nhật Bản.

Cuộc xâm lược Mông Cổ được coi là tiền thân của cuộc chiến tranh thời kỳ đầu hiện đại. Một trong những đổi mới công nghệ đáng chú ý nhất trong chiến tranh là sử dụng bom nổ ném tay.[6]

Các cuộc xâm lăng được đề cập đến trong nhiều tác phẩm hư cấu, và những sự kiện sớm nhất mà từ kamikaze ("thần phong") được sử dụng rộng rãi, có nguồn gốc từ hai cơn bão mà các đội Mông Cổ phải hứng chịu.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một loạt các cuộc xâm lược Cao Ly (Triều Tiên) giữa năm 1231 và năm 1281, Cao Ly đã ký một hiệp khuất phục Mông Cổ và trở thành một quốc gia chư hầu. Hốt Tất Liệt lên ngôi Khả Hãn của Đế quốc Mông Cổ vào năm 1260 (mặc dù đây không phải là người Mông Cổ được công nhận rộng rãi ở phương tây) và đã thành lập thủ đô của mình tại Khanbaliq (bên trong khu vực nay là Bắc Kinh) vào năm 1264.

Nhật Bản thời đó được cai trị bởi các thị trưởng Shikken của thị tộc Hōjō, người đã kết hôn và giành quyền kiểm soát từ Minamoto no Yoriie, shōgun của tướng Kamakura, sau khi ông mất vào năm 1203. Quyền lực của Hōjō có trở nên nổi bật đến mức họ không còn tham khảo ý kiến ​​của hội đồng shogunate (Hyōjō (評定 (Bình định) Hyōjō?)), triều đình Kyoto, hoặc các chư hầu gokenin của họ, và đưa ra các quyết định của họ tại các cuộc họp riêng trong nhà riêng của họ (yoriai (寄合 (Kí hiệp) yoriai?)).

Người Mông Cổ cũng cố gắng chinh phục dân tộc SakhalinAinu, Orok, và người Nivkh - từ 1260 đến 1308.[7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thomas, p. 261-263; cites a variety of estimate from various Japanese historians as well as the author's own.
  2. ^ 『高麗史』巻一百四 列伝十七 金方慶「以蒙漢軍二萬五千、我軍(高麗軍)八千、梢工引海水手六千七百、戦艦九百餘艘、留合浦、以待女眞軍、女眞後期、乃發船。」
  3. ^ 『高麗史』巻二十八 世家二十八 忠烈王一 元宗十五年(十一月)己亥(二十七日)「己亥、東征師還合浦、遣同知樞密院事張鎰勞之。軍不還者無慮萬三千五百餘人。」
  4. ^ 『高麗史』巻二十九 世家二十九 忠烈王二 忠烈王七年閏(八)月条「是月、忻都茶丘范文虎等還元、官軍不返者、無慮十萬有幾。」
  5. ^ 『元史』巻二百八 列傳第九十五 外夷一 日本國「(至元十八年)官軍六月入海、七月至平壷島(平戸島)、移五龍山(鷹島?)、八月一日、風破舟、五日、文虎等諸將各自擇堅好船乘之、棄士卒十餘萬于山下、衆議推張百戸者爲主帥、號之曰張總管、聽其約束、方伐木作舟欲還、七日日本人來戰、盡死、餘二三萬爲其虜去、九日、至八角島、盡殺蒙古、高麗、漢人、謂新附軍爲唐人、不殺而奴之、閶輩是也、蓋行省官議事不相下、故皆棄軍歸、久之、莫靑與呉萬五者亦逃還、十萬之衆得還者三人耳。」
  6. ^ Stephen Turnbull (ngày 19 tháng 2 năm 2013). The Mongol Invasions of Japan 1274 and 1281. Osprey Publishing. tr. 41–42. ISBN 978-1-4728-0045-9. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2013. 
  7. ^ The conquest of Ainu lands: ecology and culture in Japanese expansion, 1590–1800 By Brett L. Walker, p.133