DKB

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
DKB-ĐKB
A DKB rocket launcher of the Vietnam People's Army.jpg
1 khẩu DKB được trưng bày tại Bảo tàng Chiến dịch Hồ Chí Minh.
LoạiKatyusha
Quốc gia chế tạo Liên Xô
 Việt Nam
Lược sử hoạt động
Phục vụ1965–nay
Sử dụng bởi Liên Xô
 Việt Nam
Cuộc chiến tranhChiến tranh Việt Nam
Chiến tranh biên giới Tây Nam
Chiến tranh biên giới phía Bắc 1979
Chiến tranh Ogaden (1977-1978)
Lược sử chế tạo
Giai đoạn sản xuất1965-1972
Số lượng chế tạo1380 khẩu
Các biến thể9P132, 9K510
Thông số
Khối lượng55 kg
Chiều dài3 m
Chiều cao1,5 m
Kíp chiến đấu5 chiến sĩ

Cỡ đạn122,4 mm
Cỡ nòng1
Bệ pháoGiá 3 chân
Cao độ10-40 độ
Xoay súng-7 đến +7 độ
Tốc độ bắn1 phát/giây
Vận tốc mũi690 mét/giây
Tầm bắn xa nhất11 km
Ngắm bắnPU-9P132

DKB hay còn gọi là ĐKB là loại pháo phản lực theo ống được gỡ từ dàn pháo phản lực Katyusha BM-21 của Liên Xô theo sáng kiến của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm phù hợp cho địa hình rừng núi và chiến lược chiến tranh du kích ở miền nam Việt Nam trong thời kì Chiến tranh Việt Nam. Phía Nga-Liên Xô cũ gọi loại pháo này là 9P132 (ký hiệu NATO:Grad-P).[1]

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Loại A-12 cỡ 140mm[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu những năm 1960, Liên Xô bắt đầu viện trợ cho Việt Nam pháo phản lực phóng loạt BM-14. Pháo dùng khung gầm cơ sở xe vận tải bánh lốp lắp giàn phóng 16-17 nòng cỡ đạn 140mm. Mỗi quả đạn rocket BM-14 nặng khoảng 40 kg, đạt tầm bắn khoảng 10km.

Tuy nhiên, các dàn pháo này được đặt trên các xe tải động cơ mạnh, trong khi địa hình đồi núi hiểm trở ở Việt Nam lại không cho phép các đơn vị pháo Cachiusa di chuyển một cách nhanh chóng và thuận tiện. Hơn nữa, do chiến thuật của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ là chiến tranh du kích nên việc cất giấu những chiếc xe này trong rừng khỏi sự truy quét của không quân Quân đội Hoa Kỳ là rất khó khăn, và cũng khó kiếm được nhiên liệu để vận hành xe tải. Để tăng cường loại vũ khí có hỏa lực mạnh cho chiến trường, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã triển khai nghiên cứu cải tiến pháo phản lực BM-14 thành pháo phản lực kiểu mang vác A12.

A-12 gồm một ống phóng làm bằng tôn thép mỏng cuộn lại lắp trên bệ gỗ với tổng trọng lượng chỉ 10,5 kg. Ống phóng làm bằng tôn thép mỏng cuộn lại, dài 1,14m, mặt trong có đánh 4 đường sống tiếp tuyến với mặt hình trụ của đạn. Bệ bằng gỗ dày 2cm, rộng 25cm, dài 120cm. A-12 có tầm bắn khoảng 8.000 m (giảm so với nguyên bản) nhưng độ chính xác cao hơn, có thể phóng cùng lúc 12 quả đạn nhờ 1 hệ thống điện điểm hỏa dùng pin con thỏ.

A12 được biên chế cho mỗi đơn vị 12 khẩu. Với trọng lượng rất nhẹ, A12 rất tiện lợi cơ động để thực hiện những đòn tập kích hỏa lực luồn sâu đánh hiểm vào đối phương.

Loại DKB cỡ 122mm[sửa | sửa mã nguồn]

1 phân đội pháo phản lực BM-21

Những năm giữa thập niên 1960, Quân đội Nhân dân Việt Nam được Liên Xô viện trợ một số dàn pháo phản lực BM-21 cỡ nòng 122 mm đời mới cùng các dàn pháo cũ BM-13, BM-14. Chúng rất hiệu quả trong việc bắn phá các mục tiêu trên diện rộng. Một tiểu đoàn pháo phản lực trang bị toàn BM-21 có thể đồng loạt bắn tới 720 quả đạn trong vòng 20 giây vào các mục tiêu trên một khu vực rộng, nên rất hữu hiệu để chống lại đội hình bộ binh và thiết giáp nhẹ, cũng như để phá hủy hệ thống hầm hào bán kiên cố.

Tuy nhiên, các dàn pháo này được đặt trên các xe tải nên cũng không thích hợp cho chiến thuật du kích (giống như loại BM-14 ở trên). Do đó chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra đề nghị yêu cầu phía Liên Xô chế tạo cho Việt Nam các ống phóng BM-21 tháo rời giàn được gọi là 9P132 nhằm dễ mang vác, vận chuyển.

Việc sản xuất bắt đầu từ năm 1965. Năm 1966, các ống phóng tháo rời 9P132 được gửi đến Việt Nam nhằm thử nghiệm và chúng đạt kết quả tốt. Chúng được sử dụng ngay tại chiến trường Việt Nam và đã thể hiện rõ ưu thế của mình. Ống phóng 9P132 nhỏ, gọn, dễ mang vác, vận chuyển trong địa hình rừng núi, hỏa lực cao, độ cơ động lớn, rất thích hợp cho các chiến thuật du kích - bất ngờ tiến công rồi bất ngờ rút gọn. Tuy các ống phóng này không có tầm bắn và sức công phá khủng khiếp như hệ thống BM-21, nhưng nếu được biên chế thành những đại đội gồm những phân đội từ 3-5 khẩu, phóng cùng lúc hàng chục quả đạn thì cũng đủ phá hủy các mục tiêu, căn cứ của đối phương ở cách xa 11 km.

Trong trạng thái chiến đấu, toàn bệ phóng có trọng lượng 55 kg, khi hành quân chia làm 2 phần (nòng pháo nặng 25kg và bệ 3 chân nặng 28kg). Quả đạn nặng 46 kg. Thời gian chuyển trạng thái từ hành quân sang chiến đấu chỉ 2,5 phút và ngược lại là 2 phút. Toàn bệ phóng nhỏ gọn, dễ mang vác, cơ động trong địa hình rừng núi, phù hợp với chiến thuật đánh nhanh - rút gọn. Thậm chí có những trường hợp ĐKB bắn không cần ống phóng, không cần giá ba chân, chỉ cần đặt quả đạn lên những chân tạm bằng gỗ hướng về mục tiêu theo góc xác định là có thể khai hỏa.

Trang bị[sửa | sửa mã nguồn]

1 Khẩu Grad-P 9K510 của phong trào hồi giáo Hamas bị Israel thu được

DKB được trang bị cho một số trung đoàn pháo binh của Quân đội Nhân dân Việt Nam như trung đoàn 115, trung đoàn 724 nhằm bổ sung cho các đơn vị súng cối, pháo phản lực. Một số trận đánh tiêu biểu của DKB như Trận sân bay Biên Hòa, 1967, Trung đoàn pháo binh 724 đã sử dụng 41 khẩu ĐKB cùng 6 khẩu cối 82mm và 6 khẩu ĐKZ 75mm phối thuộc đã tập kích bất ngờ vào sân bay Biên Hòa. Tiểu đoàn 174 thuộc trung đoàn đã bắn 202 quả đạn DKB vào sân bay, phá hỏng 74 máy bay, đốt cháy các kho bom, kho xăng và tiêu diệt nhiều sinh lực địch.

Đối với lọa A12, ngày 28/2/1967, Tiểu đoàn 99 lần đầu sử dụng trên chiến trường. Tiểu đoàn đã bắn 15 loạt với 140 viên đạn vào các mục tiêu trong sân bay Đà Nẵng, đã phá hủy hoặc gây hư hỏng 94 máy bay, 200 xe quân sự các loại cùng hàng trăm tên địch.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, các khẩu đội pháo phản lực của Trung đoàn 115 nhận nhiệm vụ đánh tê liệt sân bay Tân Sơn Nhất, và không chỉ bắn rồi rút mà phải luồn sâu vào sân bay, trụ lại để khống chế hoàn toàn sân bay, tạo chỗ "đứng chân" cho pháo lớn cỡ Pháo 130mm M46, nhằm tạo uy thế chính trị cho chiến dịch.

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Do hiệu quả của loại pháo này, Liên Xô tiếp tục phát triển 1 biến thể nữa mang tên 9K510 và được trang bị cho nhiều quốc gia ở Trung Đông. Hồng quân Liên XôLực lượng Vũ trang Liên bang Nga đến nay vẫn còn sử dụng. Các tổ chức hồi giáo, tổ chức kháng chiến và khủng bố cũng tự lắp đạt các ống phóng DKB tương tự của Việt Nam vì họ đã thấy rõ hiệu quả của nó. Các phiên bản kiểu mới hiện nay của DKB được HamasHezbollah sử dụng đã có tầm bắn lên tới 20 km.

Các phong trào li khai, tổ chức kháng chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Tham chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Trưng bày[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]