Katyusha (vũ khí)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Cachiusa (vũ khí))
Jump to navigation Jump to search
Cachiusa (Katyusha)
Katyusha launcher rear.jpg
Dàn pháo phản lực Cachiusa BM-13, đặt trên xe tải ZiS-6, Bảo tàng chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, Kiev, Ukraina (nhìn gần).
Loại Pháo phản lực
Quốc gia chế tạo  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ 1939–hiện tại
Sử dụng bởi  Liên Xô
 Liên bang Nga
 Việt Nam
 Trung Quốc và một số nước khác
Cuộc chiến tranh Chiến tranh thế giới thứ hai
Lược sử chế tạo
Các biến thể BM-13, BM-8, BM-31, BM-14, BM-21, BM-24, BM-25, BM-27, BM-30

Pháo phản lực Katyusha (tiếng Nga: Катюша), hay được gọi là tên lửa Ca-chiu-sa, là một dạng bệ phóng đạn phản lực được chế tạo bởi Liên Xô trong Thế chiến thứ 2. So sánh với các loại pháo khác, Katyusha có khả năng oanh tạc một địa điểm trong thời gian rất ngắn với sức công phá cao, nhưng độ chính xác thấp và thời gian nạp đạn lâu. So với pháo truyền thống, dạng dàn phóng này tuy không chính xác song lại có ưu điểm là rẻ tiền và dễ làm.

Trong Thế chiến thứ 2, Katyusha bao gồm các loại dàn phóng BM-13, dàn hạng nhẹ BM-8, dàn hạng nặng BM-31. Ngày nay, dàn phóng BM-21 trở nên khá phổ biến.

Tóm lược[sửa | sửa mã nguồn]

Cận cảnh đạn M-13 132mm lắp trên dàn pháo phản lực

Pháo phản lực Katyusha là một loại pháo được chế tạo và sử dụng bởi Liên Xô ngay từ đầu cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II. So sánh với các loại pháo khác, dàn phóng đa hỏa tiễn có khả năng bắn đi một lượng lớn đạn phản lực tới một mục tiêu trong thời gian ngắn, mặc dù độ chính xác không cao và thời gian nạp đạn cũng khá lâu. Chúng tương đối dễ hỏng nhưng lại không hề đắt và dễ sản xuất. Katyusha trong Chiến tranh thế giới lần thứ II là loại pháo tự hành được sản xuất bởi Liên Xô (và các quốc gia có điều kiện để sản xuất loại vũ khí này), thường xuyên được lắp ráp trên xe tải. Sự cơ động này đã tạo cho Katyusha (và những loại pháo tự hành khác) một lợi thế riêng biệt: chúng có thể phóng đạn phản lực vào vị trí địch và rút lui trước khi phía địch phản pháo vào vị trí chúng triển khai trước đó.

Tên lửa Katyusha ở Chiến tranh thế giới lần thứ II bao gồm BM-13, pháo hạng nhẹ BM-8 và hạng nặng BM-31. Ngày nay, biệt danh này còn được đặt cho thế hệ xe tải được lắp rắp dàn phóng thế hệ mới hơn của Liên Xô - phải kể đến dàn phóng BM-21 rất phổ biến; và được sử dụng trên toàn thế giới. Vì tính cơ động đặc thù của dàn phóng đa hỏa tiễn này, nên nó được sử dụng để tấn công kiểu du kích (Hezbollah), tấn công quấy nhiễu (Hezbollah, Quân đội nhân dân Việt Nam) hay khủng bố (Taliban).

Hồng Quân chọn biệt danh này từ bài hát rất nổi tiếng của nhạc sĩ Mikhail Vasilevich Isakovsky trong thời chiến. Katyusha (Катюша) có nghĩa là "Katerina bé nhỏ" (người Nga thường thêm hậu tố chỉ nhỏ - diminutif - vào sau tên trong trường hợp gọi rất thân). Bài hát này nói về một cô gái mong chờ người yêu dấu đang đi xa để thực hiện nghĩa vụ trong quân đội. Quân đội Đức Quốc Xã đặt một biệt hiệu khác cho Katyusha là "Organ của Stalin" (nguyên văn tiếng Đức: Stalinorgel) sau khi vị cố tổng bí thư Liên Xô này ví giàn hỏa tiễn như những ống hơi của những chiếc đàn organ khổng lồ trong nhà thờ (đàn ống).

Katyusha trong Chiến tranh thế giới thứ II[sửa | sửa mã nguồn]

Katyusha BM-13N trên xe tải Lend-Lease Studebaker US6, Bảo tàng Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, Moskva, Nga
Nạp đạn cho BM-13 Katyusha

Dàn phóng đa hỏa tiễn Katyusha trong Chiến tranh thế giới lần thứ II được lắp ráp trên rất nhiều loại phương tiện; bao gồm cả xe tải, xe kéo pháo, xe tăng, tàu hỏa bọc thép và cả tàu thủy, như một vũ khí tấn công.

Dàn phóng có thiết kế khá đơn giản, bao gồm một giá có gắn những thanh phóng bằng thép, là chỗ đặt đạn phản lực; với bộ khung gập để nâng thanh phóng lên vị trí thuận lợi để khai hỏa. Mỗi xe tải có từ 14 tới 48 bộ phóng. Đạn phản lực M-13 đường kính 132 mm của hệ thống BM-13 dài 180 cm và nặng 42 kg. Nó được phóng đi bằng hỗn hợp nitrat xenlulô đặc phụt ra từ trong lòng ống. Hỗn hợp này được đặt trong vỏ thép của quả đạn với 1 ống dẫn đơn giản ở cuối. Quả đạn được cố định bởi bộ gá thăng bằng hình chữ thập. Mỗi đoạn ngòi nổ đều chứa thuốc nổ mạnh, nặng 22 kg. Cự ly bắn khoảng 5,4 km (3,4 dặm). Sau đó đạn phản lực đường kính 82 mm M-8 và đường kính 300 mm M-30 cũng được phát triển.

Katyusha có độ chính xác thấp hơn pháo truyền thống, nhưng khá hiệu quả trong việc oanh tạc và đã làm cho lính Đức rất sợ hãi. Một đợt bắn BM-13, chỉ mất từ 7 tới 10 giây cho một đợt bắn, phóng đi tới 4,35 tấn thuốc nổ tới khu vực rộng 4 hec-ta (10 mẫu Anh). Các khẩu đội Katyusha thường tập trung với số lượng lớn để gây sốc cho địch quân. Điểm bất lợi là thời gian nạp đạn cho bệ phóng Katyusha trở nên khá lâu, trong khi pháo truyền thống có thể duy trì tần suất bắn liên tục.

Sự phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Việc phát triển của dàn phóng đạn phản lực Katyusha là lời đáp trả việc phát triển pháo cối Nebelwerfer sáu nòng của Đức Quốc xã trong năm 1936. Vào năm 1938, Viện nghiên cứu Phản lực Liên Xô, theo sự ủy quyền của Bộ Tổng tư lệnh Pháo binh, phát triển dàn phóng đa hỏa tiễn dùng cho máy bay RS-132 (RS - Реактивный Снаряд, tên lửa tấn công).

Katyusha tại thành phố Saratov

Kỹ sư I.Gvay cho đội thiết kế bắn thử nghiệm đạn M-132 (132mm) trên dàn pháo đặt trên xe ZiS-5. Cuộc thử nghiệm thất bại, kỹ sư V.N. Galkovskiy đề nghị lắp những thanh phóng dọc trên giá đỡ. Tháng 8/1939, BM-13 ra đời (BM là cụm từ viết tắt của "Boyevaya Mashina" - thiết bị phóng). Các thử nghiệm được tiếp tục tới năm 1940, dàn phóng BM-13-16 được sản xuất. Mới chỉ có 40 dàn phóng được lắp ráp khi Phát xít Đức tấn công Liên Xô năm 1941.

Sau thắng lợi trong những tháng đầu của cuộc chiến tranh, một lượng lớn pháo Katyusha được sản xuất và gồm nhiều loại. Pháo Katyusha có thể chế tạo được với các tổ hợp công nghiệp nhẹ và không hề đắt. Đến cuối năm 1942, quân đội Liên Xô có tổng cộng 3,237 khẩu pháo loại này, và sau chiến tranh Liên Xô đã sản xuất khoảng 10.000 khẩu Katyusha.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • U.S.S.R. ROCKET, 132-MM, FRAG-HE, MODEL M-13U.K: Khái quát [1], Cấu tạo [2] và mặt cắt bổ [3]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]