Giang Văn Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Mộ Thám hoa Giang Văn Minh

Giang Văn Minh (chữ Hán: 江文明, 1573 - 1638[1]) tự Quốc Hoa, hiệu Văn Chung, là quan nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam. Ông được mệnh danh là vị sứ thần "Bất nhục quân mệnh" (Không để nhục mệnh vua) vì đã đối đáp thẳng thắn trước triều đình Trung Quốc và bị vua Minh Tư Tông hành hình vào năm 1638, thọ 65 tuổi.

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu duệ đời thứ 13 của Thám hoa Giang Văn Minh, ông Giang Văn Bổng, ngày 2-6-Ất Mùi (2015)

Ông sinh năm 1573, tại làng Kẻ Mía, xã Mông Phụ, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây trước năm 1945)[2], (nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội[3]. Ông từng đỗ đầu kỳ thi Hội, rồi thi Đình lại đỗ Đình nguyên Thám hoa khoa Mậu Thìn, năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời Lê Thần Tông[4]. Khoa thi này không có ai đỗ Trạng nguyên hay Bảng nhãn, vì vậy ông là người đỗ cao nhất trong cả khoa thi[5][6]. Sau khi đỗ đạt, ông lần lượt được bổ nhiệm vào các chức vụ như Binh khoa đô cấp sự trung (1630)[7][8], Thái bộc tự khanh (1631)[9][10].

Ngày 30 tháng 12 năm Dương Hòa thứ 3 (1637), ông và Thiêm đô ngự sử Nguyễn Duy Hiểu được vua cử làm chánh sứ cùng với 4 phó sứ là: Nguyễn Quang Minh, Trần Nghi, Nguyễn Bình và Thân Khuê dẫn đầu hai đoàn sứ bộ sang cầu phong và tuế cống[11] nhà Minh[1]. Sau khi chết, ông được truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh Quận công[1].

Giai thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh

Vào thời điểm ông đi sứ, mặc dù nhà Mạc đã bỏ chạy ra Cao Bằng, nhưng nhà Minh vẫn áp dụng chính sách ngoại giao hai mặt (với cả nhà Hậu Lê và nhà Mạc) với mục đích để cuộc chiến tranh Lê-Mạc kéo dài[12]. Đoàn sứ bộ của Giang Văn Minh đến Yên Kinh (nay là Bắc Kinh) vào năm 1638.

Đến khi triều kiến, Minh Tư Tông Chu Do Kiểm (tức hoàng đế Sùng Trinh) lấy lý do "Vì lệ cũ không có những quy định cụ thể cho việc sắc phong, do đó trong khi còn chờ tra cứu chỉ ban sắc thư để tưởng lệ" để ngăn trở việc công nhận sự chính thống của nhà Hậu Lê và bãi bỏ công nhận ngoại giao với nhà Mạc.

Đồng thời, Chu Do Kiểm còn ngạo mạn ra cho sứ bộ một vế đối như sau:

"Đồng trụ chí kim đài dĩ lục""
("銅柱至今苔已綠")

Nghĩa là:

"Đồng trụ đến giờ rêu vẫn mọc."[13] hay "Đồng trụ đến giờ rêu mọc rậm"[4]

Vế đối này nhắc tới việc chiếc cột đồng Mã Viện vẫn còn ở đâu đó sau một thời gian dài và đã mọc rêu, chính là nói đến việc Mã Viện dẹp cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng, ngụ ý nhà Minh vẫn đang kiểm soát Đại Việt.

Trước sự ngạo mạn đó, Giang Văn Minh đã hiên ngang đối lại bằng câu:

"Đằng Giang tự cổ huyết do hồng"
("藤江自古血猶紅")

Nghĩa là:

Bạch Đằng thuở trước máu còn loang[13]
Khuôn viên phần mộ Thám hoa Giang Văn Minh

Vế đối này vừa chỉnh, vừa nhắc lại việc người Việt đã ba lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc trên Sông Bạch Đằng, hàm ý rằng các cuộc xâm lược Đại Việt của triều đình phương Bắc luôn chuốc lấy thất bại. Hơn nữa, cột đồng Mã Viện là một thứ mơ hồ không chắc đã có thật, còn sông Bạch Đằng thì hiển hiện như một vết nhơ trong lịch sử xâm lược của triều đình phương Bắc.

Vào thời bấy giờ, câu đối này được xem là cái tát thẳng vào mặt hoàng đế Minh Tư Tông trước đông đảo văn võ bá quan nhà Minh và sứ bộ các nước. Vua nhà Minh bừng bừng lửa giận quên mất thể diện thiên triều, bất chấp luật lệ bang giao, đã trả thù bằng cách trám đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem "bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu". Sự việc này xảy ra vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Nhưng Minh Tư Tông vẫn kính trọng ông và sợ bị Đại Việt trả thù khi mà tình hình nhà Minh lúc đó đang ngày càng nguy cấp do các cuộc nổi dậy trong nước cũng như sự xâm lược của người người Mãn Châu bên ngoài nên Minh Tư Tông không muốn có thêm một đối thủ nào nữa và đã cho ướp xác ông bằng thủy ngân và đưa thi hài ông về nước[14][15].

Khi thi hài của ông về đến Kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng bái kiến linh cữu ông[14] và truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh Quận công[1], ban tặng câu "Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng" (tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ).

Trong điếu văn của vua Lê có câu:

  • Thục bất hữu sinh, sinh như công dã, kỳ sinh như vinh.
  • Thục bất hữu tử, tử như công giả, kỳ tử do sinh.

Tức là: Ai cũng sống, sống như ông, thật đáng sống. Ai cũng chết, chết như ông, chết như sống.

Sau khi thi hài được đưa về nước, Giang Văn Minh được chôn cất tại Đồng Dưa, thuộc xứ Gò Đông, thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm. Trên cánh đồng này có một quán (hiện có dạng ngôi nhà) nhỏ là nơi linh cữu ông đã được quàn và gọi là quán quàn. Hiện nay, nhà thờ ông ở làng Mông Phụ đã được nhà nước Việt Nam xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa[14]. ‎

Ở Hà Nội hiện nay có một con đường mang tên Giang Văn Minh, nối giữa phố Giảng Võ và phố Kim Mã, thuộc quận Ba Đình[16].

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoa Nghiêm tự bi: trên tấm bia của chùa Hoa Nghiêm ở thôn Vô Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình có ghi người soạn văn bia năm Dương Hòa thứ 2 (1636) là Phúc Lộc hầu Giang Văn Minh, đỗ thám hoa khoa Mậu Thìn (1628), chức Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, Thái bộc tự khanh.[17]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Viện nghiên cứu Hán - Nôm. “Văn miếu Hà Nội: Văn bia số 32 - Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Mậu Thìn niên hiệu Vĩnh Tộ 10 (1628)”. Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. 
  2. ^ Kiều Thu Hoạch (18 tháng 5 năm 2016). “Kẻ Mía - đôi dòng tản mạn”. Tạp chí Di sản. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2020. 
  3. ^ Trần Hồng Đức 2002, tr. 104 (xuất bản), 126 (bản điện tử)
  4. ^ a ă Trần Hồng Đức 2002, tr. 105 (xuất bản), 126 (bản điện tử)
  5. ^ Sử quán triều Hậu Lê 1697, tr. 25b, Bản kỷ tục biên - Quyển XVIII
  6. ^ Ngô Sĩ Liên 2017, tr. 667 (bản điện tử), Bản kỷ tục biên - Quyển 18
  7. ^ Sử quán triều Hậu Lê 1697, tr. 28a, Bản kỷ tục biên - Quyển XVIII
  8. ^ Ngô Sĩ Liên 2017, tr. 668 (bản điện tử), Bản kỷ tục biên - Quyển 18
  9. ^ Sử quán triều Hậu Lê 1697, tr. 30a, Bản kỷ tục biên - Quyển XVIII
  10. ^ Ngô Sĩ Liên 2017, tr. 669 (bản điện tử), Bản kỷ tục biên - Quyển 18
  11. ^ Tuế cống tức việc đi cống nạp hằng năm.
  12. ^ Viện Sử học 2007, tr. 106
  13. ^ a ă Phạm Duy Trưởng (5 tháng 2 năm 2015). “Khí phách tiền nhân qua câu đối”. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Bộ đội biên phòng. 
  14. ^ a ă â “Giang Văn Minh: vị sứ thần bất khuất”. 5 tháng 9 năm 2013. 
  15. ^ Mông Phụ - tên đất, tên người (14/11/2008)
  16. ^ Tên các đường phố, làng xã Hà Nội thế kỷ 19- 20 qua những lần thay đổi Phố Giang Văn Minh, tên mới đặt cho con đường từ phố Cát Linh - Kim Mã vào Núi Bò thôn Vạn Phúc (năm 1986). Đường Giảng Võ, đường phố mới mở trên cơ sở bức luỹ đất cũ, thuộc thôn Giảng Võ. Phố Kim Mã, đất làng Kim Mã, Vạn Phúc, Giảng Võ, Ngọc Khánh. Chỗ đầu phố, xưa kia là cửa ô Thanh Bảo, có bến ô tô Kim Mã.
  17. ^ Chùa Hoa Nghiêm và bài văn bia của Thám hoa Giang Văn Minh

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]