Hồng Dân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Hồng Dân là một huyện phía Bắc của tỉnh Bạc Liêu, được đặt theo tên Trần Hồng Dân (1916-1946), một nhà cách mạng theo chủ nghĩa dân tộc chống thực dân Pháp. Huyện lỵ là thị trấn Ngan Dừa.

Hồng Dân
Huyện
Sôngcáiblhg.jpg
Sông Cái, ranh giới tự nhiên
giữa tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Hậu Giang
Địa lý
Tọa độ: 9°30′B 105°24′Đ / 9,5°B 105,4°Đ / 9.5; 105.4Tọa độ: 9°30′B 105°24′Đ / 9,5°B 105,4°Đ / 9.5; 105.4
Diện tích 428,6 km2
Dân số (2018)  
 Tổng cộng 107.420 người
 Mật độ 248 người/km2
Dân tộc Kinh, Hoa, Khmer
Hành chính
Tỉnh Bạc Liêu
Huyện lỵ Thị trấn Ngan Dừa
Thành lập 16/10/2002
Phân chia hành chính 1 thị trấn và 8 xã
Website hongdan.baclieu.gov.vn

Phát triển đô thị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2020 dự kiến đô thị Ninh Quới A đạt chuẩn đô thị loại IV (sẽ liên kết với đô thị Phước Long để nâng lên thị xã Phước Long trong tương lai), thị trấn Ngan Dừa và đô thị Ba Đình đạt chuẩn đô thị loại V.

Năm 2020 dự kiến thành lập thêm thị trấn Ninh Quới A (từ xã Ninh Quới A), thị trấn Ba Đình (từ xã Vĩnh Lộc A). Huyện Hồng Dân có 3 thị trấn (tăng 2 thị trấn).

Năm 2050 đô thị Ninh Quới đạt chuẩn đô thị loại V.

Năm 2050 thành lập thêm thị trấn Ninh Quới (từ xã Ninh Quới). Huyện Hồng Dân có 3 thị trấn (tăng 2 thị trấn).

Quy hoạch[sửa | sửa mã nguồn]

UBND tỉnh Bạc Liêu vừa ban hành Quyết định số 179/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Hồng Dân đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Theo đó, mục tiêu tổng quát là:

  • Khai thác một cách hiệu quả và bền vững những tiềm lực phát triển của huyện, trước hết là phát triển nền nông nghiệp công nghệ cao, có khả năng cạnh tranh.
  • Xây dựng Hồng Dân thành huyện phát triển ở vùng Bắc Quốc lộ 1A của tỉnh, có cơ cấu kinh tế hiện đại, ổn định chính trị, quốc phòng an ninh vững chắc.
  • Liên kết kinh tế chặt chẽ với các địa bàn lân cận và trong nước nói chung.

Tầm nhìn đến năm 2020:

  • Phấn đấu GDP bình quân đầu người đạt khoảng 37-38 triệu đồng/người vào năm 2015 và 82-83 triệu đồng/người vào năm 2020. GRDP tăng trưởng với nhịp độ bình quân (giá so sánh 2010) 12,0%/năm trong 4 năm 2012-2015 và 12,1%/năm thời kỳ 2016-2020.
  • Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân mỗi năm 1,5-2%, đến năm 2020 xuống dưới 10%. Phấn đấu đến năm 2020, 100% hộ dân được sử dụng điện và tiếp tục nâng cao chất lượng những năm sau đó. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 10%.
  • Có 20 giường/10.000 dân, có 6-7 bác sĩ và 1 dược sĩ đại học/10.000 dân.
  • Có 4/6 xã hoàn thành 19 tiêu chí và được công nhận xã nông thôn mới, 2 xã còn lại 80% bộ tiêu chí.
  • Cung cấp nước sạch cho khu vực đô thị, trong đó 70% từ hệ thống cấp nước tập trung với tiêu chuẩn 100 lít/người/ngày đêm, khu vực nông thôn 100% dân số sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với mức 60-80 lít/người/ngày đêm.

Tầm nhìn đến năm 2030:

  • Có cơ cấu kinh tế tương đối hiện đại, kinh tế phát triển năng động, ổn định, sản xuất xã hội có tính cạnh tranh cao.
  • Kinh tế tăng trưởng với tốc độ khá cao, bình quân 9-10%/năm thời kỳ 2021-2030.
  • GRDP bình quân đầu người năm 2030 đạt khoảng 8.700-8.800 USD. Xây dựng con người phát triển toàn diện cả về trí tuệ và thể chất, đạo đức, tuân thủ pháp luật, văn hóa truyền thống, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cùng với môi trường văn hóa độc đáo của Bạc Liêu được bảo tồn, phát huy và phát triển tối đa ở Hồng Dân.
  • Đảm bảo 100% người dân có nhà ở với tiện nghi sinh hoạt cần thiết phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội của huyện.
  • Bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên…

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Hồng Dân cách trung tâm thành phố Bạc Liêu 60 km. Phía Bắc giáp huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, phía Nam giáp huyện Phước Long, phía Đông giáp thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, phía Tây giáp 2 huyện Vĩnh ThuậnGò Quao, tỉnh Kiên Giang.

Huyện có diện tích tự nhiên là 428 km² và có 107.420 người gồm các dân tộc Kinh, Hoa và Khmer. Số người trong độ tuổi lao động gồm 71.063 người.

Hồng Dân là huyện cách xa tỉnh lỵ Bạc Liêu, là huyện nằm phía bắc Quốc lộ 1A, giáp với ba tỉnh Sóc Trăng, Kiên GiangHậu Giang.

Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập huyện Phước Long, huyện chính thức đi vào hoạt động từ ngày 15/10/2000 theo Nghị định số 51 NĐ/CP. Huyện hiện có 8 xã và 1 thị trấn với diện tích tự nhiên là 42.356 ha, có 24.482 hộ và dân số là 107.964 người, gồm 3 dân tộc là Kinh, Hoa và Khmer.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Trong huyện có 9 đơn vị hành chính cấp xã, gồm thị trấn Ngan Dừa và các xã: Lộc Ninh, Ninh Hòa, Ninh Quới, Ninh Quới A, Ninh Thạnh Lợi, Ninh Thạnh Lợi A, Vĩnh Lộc, Vĩnh Lộc A.

Danh sách các đơn vị hành chính cấp xã

Ðơn vị hành chính cấp xã Thị trấn
Ngan Dừa

Lộc Ninh

Ninh Hòa

Ninh Quới

Ninh Quới A

Ninh Thạnh Lợi

Ninh Thạnh Lợi A

Vĩnh Lộc

Vĩnh Lộc A
Diện tích (km²) 19,19 53,46 59,92 32,35 36,91 66,42 66,87 46,51 42,37
Dân số (người) --- 10.618 15.059 13.460 15.110 10.346 7.146 7.486 9.314
Mật độ dân số (người/km²) --- 199 251 416 392 156 107 161 220
Số đơn vị hành chính 6 ấp 9 ấp 9 ấp 10 ấp 10 ấp 9 ấp 5 ấp 7 ấp 6 ấp
Năm thành lập 1979 1987 1990 1990 1999 2008 2008 2003 2003
Loại đô thị Đô thị loại V

Kinh tế - xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Hồng Dân là vùng căn cứ địa cách mạng của Tỉnh ủy Bạc Liêu. Trong chiến tranh huyện bị tàn phá hết sức nặng nề, hy sinh nhiều sức người, sức của, sau giải phóng kết cấu hạ tầng của huyện hầu như không còn gì, đi lại chủ yếu bằng đường thủy, kinh tế - xã hội còn thấp kém, sản xuất nông nghiệp độc canh cây lúa là chủ yếu.

Bước vào thực hiện công cuộc đổi mới, huyện đã tranh thủ các nguồn vốn đầu tư để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đã xây dựng 104 công trình đường nhựa liên ấp với tổng chiều dài 370 km và 303 cây cầu bê tông cốt thép phục vụ cho nhân dân đi lại dễ dàng trong 2 mùa mưa nắng, sau năm 2010 đã hoàn thành chương trình xây dựng các tuyến đường ôtô về trung tâm các xã, Quốc lộ Phụng Hiệp – Cà Mauđường Hồ Chí Minh đi qua Huyện Hồng Dân góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh trong thời kỳ hội nhập. Các chính sách xã hội đối với người có công, bảo trợ xã hội, hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc Khmer được các cấp các ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện khá tốt; giải quyết kịp thời các chính sách cho các đối tượng; được hỗ trợ về y tế, giáo dục, nhà ở và các chính sách hỗ trợ khác từ các chương trình mục tiêu.

Huyện đã vận động các loại quỹ gần 10 tỷ đồng, xây dựng 245 căn nhà tình nghĩa, 4.500 căn nhà tình thương, hỗ trợ xây dựng 199 căn nhà theo Quyết định 167 của Thủ tướng Chính phủ và cấp 1.013 suất học bổng cho các học sinh thi đỗ vào các trường đại học, với tổng số tiền là 228,7 triệu đồng.

Bên cạnh đó, công tác giảm nghèo, đào tạo nghề, giải quyết việc làm được cấp ủy chính quyền các cấp dồn sức thực hiện và đạt được kết quả tốt, đã đào tạo nghề cho 1.374 lao động, giải quyết việc làm mới hàng năm cho gần 3.500 lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 35%. Bằng nhiều biện pháp và nhiều chính sách hỗ trợ, giúp đỡ hộ nghèo vượt khó vươn lên, tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm từ 23,36% năm 2000 xuống còn 7% năm 2010.

Ngày nay, tỷ trọng của các khu vực kinh tế trong GDP của huyện như sau: Nông nghiệp 60,7%, công nghiệp và xây dựng 10,4%, thương nghiệp và dịch vụ 28,9%.

Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 7-8%. Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân từ 14-15%. Tổng thu nhập 2211 tỷ 937 triệu đồng (bình quân đầu người 20.470.000 đồng - tương đương 984USD)

Huyện còn có 22.541 ha nuôi trồng thủy sản. Trong đó 550 ha nuôi cá, có 15.839 ha tôm - lúa, có 6.702 ha nuôi tôm - cua - cá. Ngoài ra còn có 15 ha dứa, 100 ha mía, 1.505 ha dừa.

Hồng Dân có thế mạnh về nghề truyền thống thu hút hơn 10.000 lực lượng lao động, như: đan lát, chầm lá, dệt chiếu, nghề rèn, mộc, làm bánh tráng.

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống trường học được đầu tư xây dựng theo hướng kiên cố hóa, 10/38 trường học đạt chuẩn Quốc gia.

Các trạm y tế đều có bác sĩ về phục vụ, có 6/9 trạm y tế xã đạt chuẩn Quốc gia; đầu tư xây dựng hoàn thành Bệnh viện đa khoa với 100 giường.

Mạng lưới bưu chính viễn thông được mở rộng, bình quân 4,9 hộ dân/máy điện thoại; tỷ lệ hộ dùng điện đạt 80%; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở được phát triển. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn 1945-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Hồng Dân được chính quyền cách mạng của lực lượng Việt Minh thành lập vào năm 1947, ban đầu thuộc tỉnh Rạch Giá, do đổi tên từ huyện Phước Long trước đó. Năm 1952, huyện Hồng Dân được giao cho tỉnh Bạc Liêu. Tháng 10 năm 1954, huyện Hồng Dân trở lại thuộc tỉnh Rạch Giá. Tháng 10 năm 1957, huyện Hồng Dân thuộc tỉnh Sóc Trăng. Tháng 11 năm 1973, Khu uỷ Tây Nam Bộ quyết định tái lập tỉnh Bạc Liêu, khi đó huyện Hồng Dân lại thuộc tỉnh Bạc Liêu cho đến năm 1976.

Tuy nhiên, chính quyền Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại và sau đó là Việt Nam Cộng hòa không công nhận tên gọi "Hồng Dân" mà thay vào đó, vẫn sử dụng tên gọi quận Phước Long như cũ cho đến năm 1975.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ đã giải thể quận Phước Long, đồng thời vẫn duy trì huyện Hồng Dân thuộc tỉnh Bạc Liêu cho đến đầu năm 1976. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng "quận" có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng "huyện" (quận và phường dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã đô thị hóa).

Từ năm 1976 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm 1976, Hồng Dân trở thành huyện thuộc tỉnh Minh Hải.

Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 326-CP[1] về việc phân vạch địa giới hành chính các huyện và thị xã thuộc tỉnh Minh Hải. Theo đó huyện Hồng Dân được chia thành 2 huyện, lấy tên là huyện Hồng Dân và huyện Phước Long.

  1. Huyện Hồng Dân có 16 xã, 1 thị trấn huyện lỵ. Phía bắc và phía đông giáp tỉnh Hậu Giang, phía tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía nam giáp huyện Phước Long. Tuy nhiên trong văn bản không ghi rõ tên các xã, thực tế chỉ có 5 xã: Lộc Ninh, Ninh Hòa, Ninh Qưới, Ninh Thạnh Lợi, Vĩnh Lộc.
  2. Huyện Phước Long (mới thành lập) có 19 xã, 1 thị trấn huyện lỵ. Phía bắc giáp xã Ninh Thạnh Lợi, xã Ninh Quới (huyện Hồng Dân), phía đông giáp xã Vĩnh Hưng, xã Vĩnh Mỹ B (huyện Vĩnh Lợi), phía tây giáp xã Tân Phú (huyện Thới Bình), phía nam giáp xã Phong Thạnh và xã Phong Thạnh Đông (huyện Giá Rai). Tuy nhiên trong văn bản không ghi rõ tên các xã, thực tế chỉ có 4 xã: Phong Thạnh Tây, Phước Long, Vĩnh Phú Đông, Vĩnh Phú Tây.

Ngày 25 tháng 07 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 275-CP[2] về việc điều chỉnh địa giới một số xã của huyện Hồng Dân thuộc tỉnh Minh Hải:

  1. Chia xã Ninh Thạnh Lợi thành ba xã lấy tên là xã Ninh Thạnh Lợi, xã Ninh Thuận và xã Ninh Lợi.
  2. Chia xã Ninh Quới thành ba xã lấy tên là xã Ninh Quới, xã Ninh Quới A và xã Ninh Quới B.
  3. Chia xã Ninh Hòa thành hai xã lấy tên là xã Ninh Hòa và xã Hòa Lợi.
  4. Chia xã Vĩnh Lộc thành ba xã lấy tên là xã Vĩnh Lộc, xã Vĩnh Hiếu và xã Vĩnh Trung.
  5. Chia xã Lộc Ninh thành hai xã lấy tên là xã Lộc Ninh A và xã Lộc Ninh B.
  6. Thành lập thị trấn huyện lỵ của huyện Hồng Dân lấy tên là thị trấn Ngan Dừa.

Ngày 17 tháng 5 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 75-HĐBT[3] về việc sáp nhập huyện Hồng Dân và huyện Phước Long thành một huyện lấy tên là huyện Hồng Dân, tỉnh Minh Hải.

Huyện Hồng Dân gồm có các xã Vĩnh Lộc, Vĩnh Hiếu, Ninh Thuận, Ninh Thạnh Lợi, Ninh Lợi, Lộc Ninh A, Lộc Ninh B, Vĩnh Trung, Ninh Hoà, Hoà Lợi, Ninh Quới A, Ninh Quới B, Phong Dân, Phong Hoà, Phong Hiệp, Phước Tây, Phước Long, Vĩnh Hồng, Vĩnh Tiến, Vĩnh Thành, Vĩnh Phú Đông, Đông Phú, Đông Nam, Hưng Phú, thị trấn Phước Long và thị trấn Ngan Dừa. Huyện lỵ đóng tại thị trấn Phước Long.

Ngày 14 tháng 2 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 33B-HĐBT[4] về việc phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính một số xã, phường, thị trấn của huyện Hồng Dân, tỉnh Minh Hải:

  1. Giải thể xã Vĩnh Hiếu để sáp nhập vào xã Vĩnh Lộc và xã Vĩnh Trung.
  2. Sáp nhập xã Lộc Ninh A và xã Lộc Ninh B thành một xã lấy tên là xã Lộc Ninh.
  3. Sáp nhập xã Ninh Thuận và xã Ninh Thạnh Lợi thành một xã lấy tên là xã Ninh Thạnh Lợi.
  4. Giải thể xã Phước Tây để sáp nhập vào xã Phước Long và xã Phong Hiệp; tách một phần diện tích và dân số của xã Phước Long để sáp nhập vào xã Hoà Lợi; tách một phần diện tích và dân số của xã Phước Tây để sáp nhập vào xã Phong Hiệp.
  5. Sau khi điều chỉnh địa giới, xã Hoà Lợi có 2.779 hécta đất với 6.325 người.
  6. Tách một phần diện tích và dân số của xã Vĩnh Hồng để sáp nhập vào xã Vĩnh Tiến; tách một phần diện tích và dân số của xã Vĩnh Tiến để sáp nhập vào xã Phong Hoà.
  • Quyết định 483/QĐ-TCCP[5] ngày 09 tháng 11 năm 1990 của Ban Tổ chức Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới một số xã thuộc các huyện Hồng Dân và Vĩnh Lợi, tỉnh Minh Hải:
  1. Sáp nhập các xã Ninh Quới A, Ninh Quới B vào xã Ninh Quới.
  2. Sáp nhập các xã Đông Phú, Đông Nam vào xã Vĩnh Phú Đông.
  3. Sáp nhập xã Ninh Lợi vào xã Ninh Thạnh Lợi.
  4. Sáp nhập xã Hòa Lợi vào xã Ninh Hòa.
  5. Hợp nhất các xã Phong Hòa, Phong Hiệp, Phong Dân thành xã Phong Thạnh Nam.
  6. Hợp nhất hai xã Vĩnh Hồng và xã Vĩnh Tiến thành xã Vĩnh Phú Tây.
  7. Huyện Hồng Dân lúc này gồm có 2 thị trấn: Ngan Dừa, Phước Long và 11 xã: Hưng Phú, Lộc Ninh, Ninh Hòa, Ninh Quới, Ninh Thạnh Lợi, Phong Thạnh Nam, Phước Long, Vĩnh Lộc, Vĩnh Phú Đông, Vĩnh Phú Tây, Vĩnh Thanh.

Ngày 06 tháng 11 năm 1996, Quốc hội Việt Nam ban hành Nghị quyết về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh [6], theo đó chia tỉnh Minh Hải thành hai tỉnh là tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau. Khi đó huyện Hồng Dân trở thành huyện của tỉnh Bạc Liêu.

Ngày 25 tháng 8 năm 1999, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 82/1999/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc thị xã Bạc Liêu và các huyện Hồng Dân, Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Theo đó, thành lập xã Ninh Quới A thuộc huyện Hồng Dân trên cơ sở 3.691 ha diện tích tự nhiên và 14.047 nhân khẩu của xã Ninh Quới.

Cuối năm 1999, huyện Hồng Dân có 2 thị trấn: Ngan Dừa, Phước Long và 12 xã: Hưng Phú, Lộc Ninh, Ninh Hòa, Ninh Quới, Ninh Qưới A, Ninh Thạnh Lợi, Phong Thạnh Nam, Phước Long, Vĩnh Lộc, Vĩnh Phú Đông, Vĩnh Phú Tây, Vĩnh Thanh.

Ngày 25 tháng 9 năm 2000, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 51/2000/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Hồng Dân để thành lập huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Theo đó, thành lập huyện Phước Long trên cơ sở 40.482 ha diện tích tự nhiên và 101.322 nhân khẩu của huyện Hồng Dân. Huyện Phước Long có 40.482 ha diện tích tự nhiên và 101.322 nhân khẩu; gồm 7 đơn vị hành chính trực thuộc là các xã: Phong Thạnh Nam, Phước Long, Vĩnh Phú Tây, Vĩnh Thanh, Vĩnh Phú Đông, Hưng Phú và thị trấn Phước Long.

Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập huyện Phước Long, huyện Hồng Dân có 42.118 ha diện tích tự nhiên và 91.306 nhân khẩu; gồm 7 đơn vị hành chính trực thuộc là các xã: Vĩnh Lộc, Ninh Thạnh Lợi, Lộc Ninh, Ninh Hòa, Ninh Quới, Ninh Quới A và thị trấn Ngan Dừa.

Ngày 24 tháng 12 năm 2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 166/2003/NĐ-CP, về việc thành lập xã, phường thuộc các huyện Vĩnh Lợi, Phước Long, Hồng Dân, Giá Rai, Đông Hải và thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Theo đó, thành lập xã Vĩnh Lộc A thuộc huyện Hồng Dân trên cơ sở 4.237,10 ha diện tích tự nhiên và 9.314 nhân khẩu của xã Vĩnh Lộc.

Ngày 1 tháng 8 năm 2008, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 85/2008/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc huyện Đông Hải, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu. Theo đó, thành lập xã Ninh Thạnh Lợi A thuộc huyện Hồng Dân trên cơ sở điều chỉnh 6.687,25 ha diện tích tự nhiên và 7.146 nhân khẩu của xã Ninh Thạnh Lợi.

Sau khi điều chỉnh, huyện Hồng Dân có 42.361 ha diện tích tự nhiên và 100.997 nhân khẩu, có 9 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm: thị trấn Ngan Dừa và 8 xã: Ninh Quới, Ninh Quới A, Ninh Hoà, Vĩnh Lộc, Vĩnh Lộc A, Lộc Ninh, Ninh Thạnh Lợi và Ninh Thạnh Lợi A.

Kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Gia Viễn, Tỉnh Ninh Bình.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]