Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hội đồng Bộ trưởng Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết
Совет министров Союз Советских Социалистических Республик
State Emblem of the Soviet Union.svg
Tổng quát Cơ quan
Quốc gia Flag of the Soviet Union.svg Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết
Thành lập 15 tháng 3, 1943 (1943-03-15)
Tiền thân
Giải thể 26 tháng 12, 1990 (1990-12-26)
Thay thế
Trụ sở Moskva
Đứng đầu
  • Chủ tịch đầu tiên, Stalin
  • Chủ tịch cuối cùng, Ryzhkov
Trực thuộc cơ quan Xô viết Tối cao Liên Xô
Bản đồ
Union of Soviet Socialist Republics (orthographic projection).svg
Lãnh thổ Liên Xô (1945-1991)
Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết
State Emblem of the Soviet Union.svg

Chính trị và chính phủ
Liên Xô


Các nước khác

Hội đồng Bộ trưởng Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết (tiếng Nga: Сове́т мини́стров СССР, chuyển tự. Sovet Ministrov SSSR, IPA [sɐˈvʲɛt mʲɪˈnʲistrəf ɛsɛsɛˈsɛr]; đôi khi viết tắt là Sovmin hoặc gọi tắt là Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô), là cơ quan hành pháp cao nhất của Liên Xô trong thời gian từ 1946 đến 1991.

Năm 1946, Hội đồng Dân ủy được chuyển đổi thành Hội đồng Bộ trưởng. Các Dân ủy Nhân dân được đổi thành các Bộ. Hội đồng ban hành nghị quyết và hướng dẫn phù hợp với hiến pháp và luật định hiện hành, trong đó có quyền tái phán với tất cả lãnh thổ của các nước Cộng hòa trong Liên bang. Tuy nhiên, với một số vấn đề quan trọng cần phải được Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô phê chuẩn trước khi hành động. Năm 1991,chỉ vài tháng trước khi Liên Xô sụp đổ, Hội đồng Bộ trưởng bị loại bỏ thay thế bằng Nội các Bộ trưởng.

Có 7 vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đảm nhiệm. Sau khi Nikita Khrushchev từ chức Bí thư thứ nhất và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, một Hội nghị Trung ương Đảng đã quy định việc đồng thời đảm nhiệm 2 chức vụ trên cùng lúc. Đoàn Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan quyết định tập thể của Chính phủ. Đoàn Chủ tịch bao gồm Chủ tịch Hội đồng, Phó Chủ tịch Hội đồng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng các nước Cộng hòa, và một số thành viên khác.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Dân ủy Liên Xô được chuyển đổi thành Hội đồng Bộ trưởng ngày 15/3/1946 ở tất cả các cấp. Đồng thời Dân ủy Nhân dân được đổi tên thành Bộ. Sau khi Stalin qua đời, trong Liên Xô xảy ra cuộc tranh giành quyền lực ngầm giữa Bí thư thứ nhất Nikita KhruschevChủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Georgy Malenkov. Malenkov bị thất thế trong cuộc tranh giành quyền lực, năm 1955 bị giáng chức xuống làm Phó Chủ tịch Hội đồng, và cấp phó của ông, Nikolai Bulganin trở thành Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Nhưng cuối cùng Bulganin cũng bị thay thế bởi Khrushchev vì tham gia vào nhóm chống Đảng vì cố gắng lật đổ Khrushchev năm 1957.

Sau khi Khrushchev bị lật đổ, nhóm tập thể lãnh đạo do Leonid BrezhnevAlexei Kosygin lãnh đạo đã triệp tập Hội nghị Trung ương Đảng ra quy định cấm mọi cá nhân giữ 2 chức vụ đồng thời. Chủ tịch Kosygin lãnh đạo Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm quản lý kinh tế, trong khi đó Tổng Bí thư Brezhnev chịu trách nhiệm quản lý các vấn đề khác trong Liên Xô. Trong thời kỳ Brezhnev, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng mất đi quyền lực thứ 2 trong Liên Xô bằng chức vụ Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô Viết Tối cao. Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Nikolai Podgorny bị loại bỏ cương vị lãnh đạo Nhà nước năm 1977, có tác động giảm vai trò của Kosygin khi Brezhnev nằm quyền trực tiếp quản lý chính quyền Nhà nước.

Kosygin đã từ chức vào năm 1980, kế nhiệm bởi Phó chủ tịch thứ nhất Nikolai Tikhonov. Trong 5 năm, dưới sự lãnh đạo bởi Leonid Brezhnev, Yuri AndropovKonstantin Chernenko Tikhonov, Tikhonov bị Mikhail Gorbachev buộc từ chức năm 1985. Gorbachev đã thay bằng Nikolai Ryzhkov. Ryzhkov là nhà cải cách nửa vời, luôn hoài nghi về sự tư hữu hóa và cải cách tiền tệ năm 1989. Nhưng ông đã tạo ra cơ chế nền kinh tế thị trường. Năm 1991, Ryzhkov bị thay thế bằng Valentin Pavlov. Và Hội đồng Bộ trưởng bị thay thế bằng Nội các Bộ trưởng.

Chức năng và nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan hành pháp tối cao. Được thành lập tại phiên họp chung của Xô Viết Quốc giaXô Viết Liên bang. Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch thứ nhất, các Phó Chủ tịch, Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng các nước Cộng hòa. Chủ tịch Hội đồng có thể đề xuất thay thế thành viên Hội đồng cho Xô Viết Tối cao. Hội đồng Bộ trưởng đề xuất chức năng tại phiên họp đầu tiên của Xô Viết Tối cao khi mới được bầu.

Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Xô Viết Tối cao và trong thời gian giữa 2 kỳ họp Xô Viết Tối cao là Đoàn Chủ tịch Xô Viết Tối cao và thường xuyên báo cáo hoạt động, cũng như thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn thuộc thẩm quyền do luật, Hiến pháp hoặc do Xô Viết Tối cao quy định. Quyền hạn của Hội đồng Bộ trưởng như sau:

  • Quản lý nền kinh tế quốc gia, xây dựng và phát triển văn hóa-xã hội
  • Xây dựng và áp dụng các biện pháp để thực hiện các kế hoạch 5 năm "phát triển kinh tế và xã hội" và ngân sách nhà nước.
  • Bảo vệ các lợi ích của nhà nước, tài sản xã hội chủ nghĩa, trật tự công cộng và bảo vệ các quyền của công dân Liên Xô
  • Bảo đảm an ninh quốc gia
  • Lãnh đạo chung các lực lượng vũ trang của Liên Xô và xác định số lượng công dân đã đến tuổi nhập ngũ. Thực hiện chế độ quân dự bị
  • Lãnh đạo chung quan hệ đối ngoại, thương mại, hợp tác khoa học-kỹ thuật, văn hóa kinh tế giữa Liên Xô với các nước, cũng như sử dụng quyền hạn để ký kết hoặc hủy bỏ các điều ước quốc tế mà Liên Xô đã ký
  • Thành lập các tổ chức cần thiết trong Hội đồng Bộ trưởng trong các lĩnh vực kinh tế, phát triển và bảo vệ văn hóa-xã hội

Hội đồng Bộ trưởng có thể ban hành nghị định nghị quyết và tiến hành công bố thực hiện. Tất cả các tổ chức có nhiệm vụ phải thực hiện theo nghị quyết, nghị định Hội đồng Bộ trưởng Liên bang. Hội đồng Bộ trưởng Liên bang có thể thu hồi nghị định, nghị quyết đã được ban hành bởi Hội đồng và các cơ quan trực thuộc. Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô phối hợp và thực hiện hoạt động với Cộng hòa Liên bang, Bộ Liên bang, Ủy ban Nhà nước và các cơ quan trực thuộc khác. Quyền hạn, nhiệm vụ, mối quan hệ của Hội đồng Bộ trưởng được quy định trong Hiến phápLuật Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô.

Cơ cấu và tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô gồm:

  • Chủ tịch Hội đồng
  • Phó Chủ tịch thứ nhất
  • Phó Chủ tịch
  • Quản lý Nội vụ
  • Bộ trưởng
  • Chủ tịch Ủy ban Nhà nước
  • Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng các nước Cộng hòa
  • Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và các cơ quan khác gồm:
    • Ngân hàng Nhà nước
    • Ủy ban Kế hoạch Nhà nước
    • Ủy ban An ninh Nhà nước
    • Ban Nhân dân Kiểm tra

Đoàn Chủ tịch[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan thường trực của Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm quản lý kinh tế và giải quyết các vấn đề khác trong quyền hạn của Hội đồng Bộ trưởng. Đoàn Chủ tịch được thành lập tháng 3/1953, chuyển đổi từ Văn phòng Hội đồng Dân ủy, trong đó chức năng của Văn phòng Hội đồng Dân ủy Liên Xô năm 1944 là cơ quan quản lý trực thuộc Hội đồng Dân ủy. Quyền hạn và nhiệm vụ được quy định trong Hiến pháp và Luật Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Trong giai đoạn 1952-1953, Hội đồng Bộ trưởng cũng có Văn phòng Hôi đồng.

Đoàn Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng gồm các thành viên sau:

  • Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng,
  • Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng,
  • Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng,
  • Các thành viên khác (do Hội đồng Bộ trưởng quyết định)

Bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chuyển đổi, các Dân ủy Nhân dân được đổi tên thành các Bộ, chức vụ Ủy viên Dân ủy được đổi thành Bộ trưởng. Trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XXV (1976-1981), số lượng Bộ trưởng chiếm 73% số Ủy viên, chiếm vị trí quan trọng trong chính trị Liên Xô.

Trong Bộ Chính trị có vài Bộ trưởng nắm những chức vụ quan trọng là Ủy viên.

Ủy ban Nhà nước[sửa | sửa mã nguồn]

Ủy ban Nhà nước khác với Bộ, Ủy ban Nhà nước quản lý đồng thời nhiều ngành khác với quản lý một ngành như Bộ. Ủy ban Nhà nước thường có nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển, hoạch định chính sách, đề ra kế hoạch, xây dựng công trình... Ủy ban Nhà nước còn được gọi là siêu Bộ.

Danh sách Hội đồng Bộ trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Xô Viết Tối cao Liên Xô khóa II (2/1946-3/1950)[sửa | sửa mã nguồn]

Xô Viết Tối cao Liên Xô khóa II (3/1950-3/1954)[sửa | sửa mã nguồn]

Xô Viết Tối cao Liên Xô khóa IV (3/1954-3/1958)[sửa | sửa mã nguồn]

Xô Viết Tối cao Liên Xô khóa V (3/1958-4/1962)[sửa | sửa mã nguồn]

Xô Viết Tối cao Liên Xô khóa VI (4/1962-8/1966)[sửa | sửa mã nguồn]

Xô Viết Tối cao Liên Xô khóa VII (8/1966-7/1970)[sửa | sửa mã nguồn]

Xô Viết Tối cao Liên Xô khóa VIII (7/1970-7/1974)[sửa | sửa mã nguồn]

Xô Viết Tối cao Liên Xô khóa IX (7/1974-4/1979)[sửa | sửa mã nguồn]

Xô Viết Tối cao Liên Xô khóa X (4/1979-4/1984)[sửa | sửa mã nguồn]

Xô Viết Tối cao Liên Xô khóa XI (4/1984-7/1989)[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Bộ trưởng cải tổ[sửa | sửa mã nguồn]


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]