Jimmy Page

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Jimmy Page
Jimmy Page at the Echo music award 2013.jpg
Jimmy Page tại Giải thưởng âm nhạc Echo năm 2013
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh James Patrick Page
Sinh 9 tháng 1, 1944 (70 tuổi)
Heston, Middlesex, Anh
Nghề nghiệp Nhạc công, nhạc sĩ, nhà sản xuất âm nhạc
Thể loại Hard rock, heavy metal, blues rock, rock and roll, folk rock
Nhạc cụ Guitar, mandolin, dulcimer, theremin, bass, banjo, harmonica, dobro, sitar, keyboard, sắc-xô, tambura, hurdy gurdy, hòa âm, hát
Năm 1957–nay
Hãng đĩa Swan Song, Atlantic, Geffen, Fontana, Mercury
Hợp tác The Yardbirds, Led Zeppelin, The Honeydrippers, The Firm, Coverdale and Page, Page and Plant, Herman's Hermits, XYZ, Joe Cocker, The Edge, Jack White, Donovan, The Black Crowes
Website Trang web chính thức
Nhạc cụ nổi bật

James Patrick "Jimmy" Page, OBE, sinh ngày 9 tháng 1 năm 1944, là nghệ sĩ guitar, nhạc sĩ và nhà sản xuất âm nhạc người Anh. Ông bắt đầu sự nghiệp với việc chơi guitar tự do tại một số địa điểm ở London, trước khi trở thành thành viên của The Yardbirds (1966-1968). Năm 1968, ông lập nên Led Zeppelin.

Jimmy Page nhận được rất nhiều lời khen ngợi và sự ngưỡng mộ từ những người trong nghề lẫn người hâm mộ. Họ coi ông là một trong những nhạc sĩ và tay guitar xuất sắc nhất lịch sử nhạc rock[3][4][5]. Rolling Stone viết về ông là "đỉnh cao của kỹ thuật riff" và là "nghệ sĩ có đôi tay khéo léo nhất kể từ James Brown"[6]. Năm 2007, Page được xếp ở vị trí số 4 trong danh sách "100 tay guitar hoang dã nhất" của tạp chí Classic Rock[7] và tới năm 2010, Page có vị trí số 2 trong danh sách "50 tay guitar của mọi thời đại" của hãng Gibson[8]. Trong danh sách "100 tay guitar vĩ đại nhất" của tạp chí Rolling Stone vào năm 2011, ông cũng có được vị trí số 3[9]. Jimmy Page cũng 2 lần được xứng tên trong Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll, 1 là với The Yardbirds (1992)[10], và 2 là với Led Zeppelin (1995)[11].

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Jimmy là con trai của James Patrick Page và Patricia Elizabeth Page (nhũ danh Gaffikin)[12]. Họ sống ở phía Tây London, gần Heston, nay trở thành 1 phần của khu Hounslow của Luân Đôn. Ông James Patrick là một quản lý nhà máy, trong khi bà Patricia, một người phụ nữ gốc Ireland[13], là một y tá. Năm 1952, gia đình họ chuyển tới Feltham rồi sau đó tới Miles Road, EpsomSurrey, nơi mà cậu bé Jimmy lần đầu được tiếp xúc với guitar. "Tôi không biết rằng họ đã để lại [chiếc guitar] trong căn nhà trước đó, hoặc rằng đã có người bạn nào đó của gia đình đã làm vậy – nhưng không một ai biết vì sao nó ở đó."[14] Lần đầu cậu thực sự chơi guitar là ở tuổi 12[15] khi cậu trải qua vài giờ học ở Kingston, nhưng chủ yếu Jimmy tự học guitar:

"Khi còn nhỏ xung quanh tôi không có nhiều người chơi guitar... Một trong số những tay guitar ở trường đã chỉ cho tôi những hợp âm đầu tiên, tôi đã học và tập theo anh ta. Tôi thấy việc đó khá nhàm chán, vậy nên tôi tự mày mò qua việc nghe những bản thu. Khách quan mà nói thì đó là một quá trình rất cá nhân."[16]

Những người đầu tiên ảnh hưởng tới Page là 2 nghệ sĩ rockabily Scotty MooreJames Burton – những người từng tham gia thu âm cùng Elvis Presley. Ca khúc "Baby Let's Play House" của Presley thường được Page nhắc tới như là niềm hứng chơi guitar của cá nhân mình[17]. Cho dù từng được lên truyền hình trên kênh BBC1 vào năm 1957 với cây Hofner President, Page sau này vẫn nói chiếc guitar đầu tiên của ông là chiếc 1959 Futurama Grazioso, rồi sau đó là cây Fender Telecaster[18].

Phong cách âm nhạc của Page pha trộn giữa skiffle (phong cách chủ đạo trong âm nhạc Anh vào thời điểm đó) và nhạc folk acoustic hòa lẫn với những âm thanh nhạc blues từ Elmore James, B.B. King, Otis Rush, Buddy Guy, Freddie KingHubert Sumlin[19]. "Về cơ bản, sự khởi đầu là việc pha trộn rock với blues."[17] Ở tuổi 13, Page tham gia chương trình tìm kiếm tài năng thiếu niên All Your Own của Huw Wheldon với phần trình diễn nhạc skiffle, sau đó được phát sóng trên kênh BBC1. Ban nhạc của cậu chơi ca khúc "Mama Don't Want to Skiffle Anymore" và một ca khúc nhạc Mỹ "In Them Ol' Cottonfields Back Home". Khi được Wheldon hỏi tương lai mà mình muốn sau khi ra kết thúc việc đi học, Page đã trả lời "Cháu muốn làm nghiên cứu sinh" để chữa trị "ung thư, nếu lúc đó vẫn chưa ai tìm ra phương pháp".

Sau này khi được phỏng vấn trên tờ Guitar Player, Page nhớ lại "hồi đó tôi lang thanh đi diễn rất nhiều, và như họ nói, tôi lúc nào cũng trông như đang đi du lịch, nhưng đó là một cách học rất tốt"[17]. Page vẫn mang đàn guitar hàng ngày tới trường, nhờ người khác trông giúp rồi trả lại cậu vào cuối giờ học[20]. Cho dù từng đi phỏng vấn để có được chân quản thư ở thư viện, cậu cuối cùng quyết định rời bỏ ngôi trường Danetree Secondary School, Tây Ewell để theo đuổi con đường âm nhạc[20].

Ban đầu, Page rất khó khăn để gặp gỡ những nghệ sĩ guitar có chung quan điểm âm nhạc. "Lúc đó có lẽ không tồn tại một sự đa dạng như tôi từng nghĩ. Tôi đã chơi cho rất nhiều nhóm... và thật sự không một ai có thể tìm thấy một tiếng nói chung."[18] Sau khi thôi việc chơi nhạc trong những chương trình giao lưu của nhà thơ Royston Ellis tại nhà hát Mermaid trong khoảng năm 1960-1961[21], rồi của ca sĩ Red E. Lewis, Page được ca sĩ Neil Christian đề nghị gia nhập nhóm của mình, The Crusaders, sau khi Christian nhìn thấy cậu nhóc 15 tuổi chơi đàn tại sảnh lớn[18]. Page đi tour cùng Christian suốt 2 năm sau đó, tham gia vào nhiều bản thu cùng ban nhạc, trong đó có đĩa đơn "The Road to Love".

Sau đó, Page bị ốm nặng có bị dính phải bệnh sốt tuyết truyền nhiễm nên quyết định dừng việc đi tour[18]. Trong thời gian điều trị, cậu quyết định tạm ngừng việc chơi guitar để dành cho một tình yêu khác – hội họa – và đăng ký tại Trường Nghệ thuật Sutton ở Surrey[5]. Sau này ông giải thích vào năm 1975:

"Tôi đã đi khắp mọi nơi trên chiếc xe bus. Tôi đã làm việc đó trong suốt 2 năm sau khi rời khỏi trường, chu du tới những nơi mà tôi được ăn thứ bánh mỳ hảo hạng. Nhưng rồi tôi bị bệnh nặng. Vậy nên tôi quyết định quay trở lại trường nghệ thuật. Và điều đó đã thay đổi mọi thứ. Tôi thấy rằng việc thành công với nó là hoàn toàn khả thi. Vì tôi đã tự chọn cho mình con đường sống với chiếc guitar, tôi càng hiểu rõ hơn rằng tôi sẽ làm điều đó suốt đời. Nhưng cứ 2 tháng thì tôi lại lên cơn sốt. Trong suốt 18 tháng tôi chỉ sống với 10 $ mỗi tuần và buộc phải hồi phục sức khỏe. Nhưng tôi vẫn luôn chơi nhạc."[15]

Những năm đầu thập niên 1960: nhạc công tự do[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian là sinh viên, Page thường xuyên chơi guitar tại Marquee Club với nhóm All Stars của Cyril Davies và nhóm Blues Incorporated của Alexis Korner cùng những tay guitar tự do khác là Jeff BeckEric Clapton. Anh được John Gibb của nhóm Brian Howard & the Silhouettes chú ý và đề nghị tới giúp đỡ thu âm với hãng Columbia Graphophone Company, trong đó có đĩa đơn "The Worrying Kind". Mike Leander của hãng Decca Records là người đầu tiên đưa Page tới phòng thu. Buổi thu đầu tiên là bản thu đĩa đơn "Diamonds" trình bày bởi Jet HarrisTony Meehan: ca khúc sau đó có được vị trí quán quân vào đầu năm 1963[18].

Sau những lần cộng tác với nhóm Carter-Lewis and the Southerners, Mike Hurst rồi nhóm The Method, Mickey Finn và The Blue Men, Page cuối cùng cũng có một buổi thu của riêng mình. Khi tham gia là nhạc công tự do, anh chọn nghệ danh "Lil' Jim Pea" để phân biệt với một nghệ sĩ tự do nổi tiếng khác là Big Jim Sullivan. Page thường được mời tới như một nghệ sĩ "đảm bảo" mỗi khi cần sự thay thế hay mỗi khi nghệ sĩ cần một tay guitar chơi lót phía sau. "Tôi hay đi cùng với một tay trống", anh giải thích, "nhưng họ không nhớ tới tay trống, nên họ chỉ nhắc tới tên tôi... Mọi người đều muốn nhờ tới, hoặc Big Jim [Sullivan] hoặc tôi."[18] Anh nhấn mạnh rằng: "Trong những lần thu đầu tiên, họ thường bảo "Cứ chơi như cậu muốn!", bởi vì lúc đó tôi không biết đọc nhạc hay hiểu bất cứ nhạc lý nào."[22]

Page là nghệ sĩ guitar ưa thích của nhà sản xuất Shel Talmy. Cũng chính vì vậy, anh luôn có mặt trong các buổi thu của The WhoThe Kinks[23]. Page được chú ý khi chơi guitar acoustic 12-dây trong 2 ca khúc "I'm a Lover Not a Fighter" và "I've Been Driving on Bald Mountain" nằm trong album đầu tay của The Kinks[24], ngoài ra còn có thể trong ca khúc mặt B "I Gotta Move"[25]. Page cũng là người chơi guitar nền trong đĩa đơn đầu tay "I Can't Explain" của The Who[22] (cho dù Pete Townshend khá miễn cưỡng trong việc đồng ý cho Page tham gia song cuối cùng anh vẫn có mặt trong phần trình bày ca khúc mặt B "Bald Headed Woman")[26]. Trong năm 1964, Page còn tham gia trong "As Tears Go By" của Marianne Faithfull, "Tobacco Road" của The Nashville Teens, "Heart of Stone" của The Rolling Stones, "Baby Please Don't Go" và "Here Comes the Night" của Van Morrison cùng Them, "The Crying Game" và "My Baby Left Me" của Dave Berry, "Is It True" của Brenda Lee, và "Downtown" của Petula Clark.

Năm 1964, Page được quản lý Andrew Loog Oldham của The Rolling Stones thuê để tham gia sản xuất và là thành viên A&R[gc 1] cho hãng Immediate Records, qua đó giúp anh được chơi cùng các nghệ sĩ như John Mayall, Nico, Chris Farlowe, Twice as Much hay Clapton. Page cũng nhanh chóng thiết lập tình bạn với một nhạc sĩ lãng mạn có tên Jackie DeShannon. Anh bắt đầu sáng tác trong album The Maureeny Wishful Album của John Williams cùng Big Jim Sullivan. Sau đó anh tham gia làm nghệ sĩ hợp đồng trong Sunshine Superman (1966) của Donovan, Jeune Homme (1968) và Je Suis Né Dans La Rue (1969) của Johnny Hallyday, Love Chronicles (1969) của Al Stewart và 5 ca khúc trong album đầu tay With a Little Help from My Friends của Joe Cocker. Kể từ năm 1970, tổng cộng Page chơi lead guitar trong 10 ca khúc của Roy Harper, tương đương tới 81 phút độc diễn guitar.

Khi được hỏi về những ca khúc mình tham gia, đặc biệt là những vai trò khác nhau thậm chí đối lập trong số các ca khúc đó, Page thường nhấn mạnh mình không nhớ rõ bao nhiêu ca khúc mình đã từng thu do tham gia quá nhiều buổi thu khác nhau[22][23]. Trong một buổi phỏng vấn trên đài phát thanh, anh giải thích "Tôi thực hiện 3 buổi thu mỗi ngày và 15 buổi thu một tuần. Đôi lúc tôi chơi với một nhóm nhạc, đôi lúc tôi tham gia thu âm nhạc phim, đôi lúc đó là một buổi thu nhạc folk... Tôi buộc phải thích nghi với mọi vai trò khác nhau."[16]

Cho dù Page tham gia thu âm với rất nhiều nghệ sĩ, hầu hết những bản thu trên đều nằm trong những ấn bản nháp, và phần lớn số đó được hội những người hâm mộ Led Zeppelin phát hành rải rác vào cuối những năm 1970. Một trong những bản thu hiếm nhất là bản hát lại ca khúc "Little Queen of Spades" của Robert Johnson mà Page trình diễn cùng tay guitar của The Stones, Keith Richards. Nhiều bản thu thời kỳ này được tổng hợp và phát hành trong album sau đó, Jimmy Page: Session Man. Page cũng tham gia chơi guitar và hát cùng Richards tại phòng thu Olympic Sound Studios ngày 15 tháng 10 năm 1974: ca khúc này có tên "Scarlet" được thu với Ric Grech chơi bass và Bruce Rowland chơi trống cuối cùng bị xóa bỏ. Không lâu sau Page giải thích trong bài phỏng vấn với Cameron Crowe trên tờ Rolling Stone: "Tôi đã làm mọi thứ có thể để hoàn thiện ca khúc mặt B của The Stones. Tôi cùng Ric Grech và Keith đã thu âm một ca khúc có tên "Scarlet". Tôi không nhớ tên tay trống. Nó mang giai điệu và âm hưởng tương đồng với Blonde on Blonde. Nó thực sự rất hay, rất tốt. Chúng tôi làm việc thâu đêm rồi tới phòng thu Island Studios để Keith chèn thêm một đoạn guitar theo phong cách reggea. Tôi cũng chơi thêm một đoạn solo, và lúc đó đã khoảng 8 giờ sáng của ngày mới. Cậu ta sau đó mang mấy cuốn băng sang Thụy Sĩ, và có ai đó đã cảm thấy thích thú về chúng. Keith đã nói rằng đó là một sáng tác trong album của tôi."

Page chia tay công việc tại phòng thu sau khi những ảnh hưởng ngày một lớn của hãng Stax Records tới âm nhạc quần chúng khiến họ sử dụng nhiều hơn tới bộ hơi và dàn nhạc thính phòng thay vì phải chi tiền cho những chiếc guitar đắt tiền[17]. Anh nhớ lại thời kỳ làm nhạc công tự do thực sự là quãng thời gian tuyệt vời để anh trau dồi kỹ năng:

"Quãng thời gian làm nhạc công tự do của tôi là vô giá. Đã có lúc tôi đã thu tới 3 buổi 1 ngày, và 6 ngày 1 tuần! Và tôi cũng không bao giờ định hình trước những gì mà tôi sắp chơi. Nhưng tôi đã học được rất nhiều điều, kể cả trong những lần thu tệ hại nhất – hãy tin lời tôi nói, tôi đã từng chơi những bản nhạc kinh tởm. Tôi đã quyết định từ bỏ những lần thu đó sau khi tôi biết chúng được dùng để Muzak[gc 2]. Tôi thấy mình không thể sống một cuộc đời như vậy vì nó thực sự ngớ ngẩn. Tôi nghĩ số mệnh đã tới khi Paul Samwell-Smith rời The Yardbirds và tôi có thể được chơi nhạc cùng họ. Nhưng cuộc sống của một nhạc công tự do cũng có nhiều điều lý thú – thái độ trong phòng thu thực sự rất tuyệt. Họ chú ý chi li tới từng ca khúc và bạn không thể mắc bất kỳ lỗi nào."[19]

Những năm cuối thập niên 1960: The Yardbirds[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: The Yardbirds

Năm 1964, Page đứng trước cơ hội thay thế Eric Clapton để chơi cho The Yardbirds, song anh từ chối vì cho rằng điều đó là thiếu tôn trọng người bạn thân của mình[18]. Tháng 2 năm 1965, Clapton tuyên bố chia tay The Yardbirds, và Page chính thức nhận được lời đề nghị gia nhập nhóm. Song một phần vì anh chưa muốn từ bỏ sự nghiệp nghệ sĩ tự do đang rực rỡ của mình, và mặt khác cũng vì anh không hoàn toàn tự tin về tình hình sức khỏe của mình sau thời gian dài bị cảm, Page quyết định đề nghị người bạn thân Jeff Beck thay thế anh tham gia ban nhạc[27]. Ngày 16 tháng 5 năm 1966, tay trống Keith Moon, tay bass John Paul Jones, keyboard Nicky Hopkins, Beck và Page thu âm ca khúc "Beck's Bolero" tại phòng thu IBC Studios ở London. Trải nghiệm đó đã khiến Page muốn thành lập một siêu ban nhạc với Beck, Moon và tay bass John Entwistle của The Who[18]. Tuy nhiên, vì không tìm được một ca sĩ đủ chất lượng và những ràng buộc hợp đồng phức tạp khiến cho ý tưởng đổ bể. Cùng khoảng thời gian đó, Moon lần đầu tiên nhắc cái tên "Led Zeppelin" sau khi Entwistle tuyên bố rằng dự án này sẽ nổi tiếng khắp nơi như những chiếc khí cầu hàng đầu vậy[gc 3].

Chỉ vài tuần sau, Page tham gia buổi diễn của The Yardbirds ở Oxford. Sau buổi diễn, Paul Samwell-Smith tuyên bố rời nhóm[17]. Page đề nghị được thay thế vị trí của Samwell-Smith và dễ dàng được chấp thuận. Ban đầu anh được chỉ định chơi bass, nhưng rồi sau đó chuyển sang đánh lead cùng Beck sau khi Chris Dreja chuyển sang chơi bass. Đội hình hứa hẹn đã nhanh chóng bế tắc sau khi vài mâu thuẫn cá nhân xuất hiện vì những tour diễn kéo dài cũng như việc nhóm không có được thành công thương mại rõ rệt, cho dù họ đã có cùng nhau đĩa đơn thành công "Happenings Ten Years Time Ago" (khi Page và Beck cùng tới The Yardbirds, bộ ba huyền thoại Page-Beck-Clapton chưa bao giờ chơi cùng nhau trong một đội hình chính thức, họ chỉ cùng nhau chơi lần đầu tiên trong buổi diễn từ thiện của ARMS vào năm 1983).

Sau khi Beck ra đi, ban nhạc ổn định với đội hình 4 người. Họ hoàn thiện album đầu tiên với Page chơi lead, Little Games. Album nhận được những đánh giá vô cùng trái chiều và nhìn chung không có được thành công về mặt thương mại khi chỉ đứng thứ 80 tại Billboard 200. Cho dù đã cố gắng biến sản phẩm phòng thu gần gũi với công chúng, các buổi diễn của họ lại ngày một xa lánh quan điểm đó khi chúng trở nên ngày càng heavyexperimental hơn. Những buổi diễn đó đã giới thiệu một phần những quan điểm sau này của Page với Led Zeppelin, trong đó có những lần trình diễn ca khúc "Dazed and Confused".

Sau khi Keith RelfJim McCarty chia tay The Yardbirds vào năm 1968, Page tuyên bố thành lập ban nhạc mới để hoàn tất tour diễn vòng quanh Scandinavia. Anh nói:

"Họ [các thành viên của The Yardbirds] không còn muốn tiếp tục, nhưng tôi thì vẫn muốn đi tiếp. Và tôi sẽ phải kéo mọi thứ qua khỏi vực sâu... những điều đã khiến cả nhóm ở bên nhau và cùng nhau chơi nhạc. Có rất nhiều nghệ sĩ tài năng quanh đây mà họ chưa được kết dính để trở thành một ban nhạc. Chìa khóa ở đây là nếu muốn tìm được ban nhạc ưng ý, nhất thiết ta cần phải đốt cháy hết tâm huyết của mình."[28]

Cuối cùng, anh chọn được ca sĩ Robert Plant và tay trống John Bonham từ nhóm Band of Joy trong khi anh đề nghị cộng tác với John Paul Jones – người trước đó cũng từng mong muốn gia nhập nhóm[29]. Trong tour diễn vòng quanh Scandinavia, ban nhạc này được đặt tên là New Yardbirds, nhưng khi nhớ lại buổi nói chuyện trước đây cùng Moon và Entwistle, Page đã đề xuất đổi tên nhóm. Quản lý Peter Grant quyết định đặt tên ban nhạc mới là "Led Zeppelin", vốn đồng âm với cụm từ "lead zeppelin"[gc 4][30].

1970-1980: Led Zeppelin[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Led Zeppelin
Jimmy Page trình diễn cùng Led Zeppelin vào năm 1973

Led Zeppelin là một trong những nghệ sĩ có số lượng đĩa bán chạy lớn nhất lịch sử: nhiều nguồn khác nhau ước tính họ đã bán được tổng cộng khoảng 200 tới 300 triệu đĩa. Với 111,5 triệu đĩa chứng nhận bởi RIAA, họ là nghệ sĩ có số đĩa bán chạy thứ 2 tại Mỹ. Cả 9 album phòng thu của họ đều nằm trong top 10 của Billboard 200, trong đó 6 giành được vị trí quán quân.

Led Zeppelin được coi là những người khai sinh ra heavy metalhard rock, và âm nhạc của họ chủ yếu được hoàn thiện bởi Page trong vai trò nhà sản xuất cũng như nhạc công. Phong cách cá nhân hóa trình diễn của ban nhạc cũng được ảnh hưởng từ nhiều thể loại khác, đặc biệt là nhạc folk. Họ phá với liên tiếp nhiều kỷ lục trình diễn, góp phần củng cố thêm danh tiếng của họ. Cho dù vẫn duy trì được thành công về mặt thương mại cũng như chuyên môn, song tới cuối thập niên 1970, ban nhạc bắt đầu ít hoạt động hơn và việc đi tour ngày một hạn chế do những vấn đề cá nhân của từng thành viên.

Page giải thích mình đã có một ý tưởng vô cùng đặc biệt để tạo dựng nên Led Zeppelin ngay từ buổi đầu tiên:

"Tôi có vô vàn ý tưởng từ những ngày ở The Yardbirds. The Yardbirds cho phép tôi hoàn thiện những kỹ năng trình diễn, và từ đó tôi đã tự làm cho mình một cuốn cẩm nang mà sau này tôi áp dụng với Led Zeppelin. Thêm vào đó, tôi luôn khao khát sử dụng chất liệu acoustic. Tôi muốn Zeppelin là sự kết hợp giữa blues, hard rock và acoustic cùng những hợp âm mạnh mẽ – một sự hòa trộn mà chưa ai từng được thấy. Phải thật nhiều ẩn ý trong âm nhạc của tôi."[19]

Sự nghiệp hậu Zeppelin[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1980, John Bonham qua đời vì cảm lạnh sau khi uống rượu tại dinh thự Old Mill của Page ở Clewer, Berkshire. Led Zeppelin liền tuyên bố giải tán. Page từ chối chạm vào chiếc guitar một thời gian để tưởng nhớ người bạn thân thiết. Sau đó, anh chuyển sang cộng tác một vài dự án nhỏ lẻ với các ban nhạc The Firm, The Honeydrippers, một vài lần tái hợp cùng dự án cá nhân, trong đó có cả nhạc phim. Anh cũng bắt đầu tham gia vào nhiều hoạt động nhân đạo.

Thập niên 1980[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1990[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống Mỹ Barack Obama trò chuyện cùng Jones, Plant và Page trong buổi lễ vinh danh Led Zeppelin tại Kennedy Honors Center năm 2012

Tôn vinh và ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc cụ và kỹ thuật thu âm[sửa | sửa mã nguồn]

Guitar[sửa | sửa mã nguồn]

Ampli và hiệu ứng âm thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Sản xuất âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Ma túy[sửa | sửa mã nguồn]

Huyền bí học[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu tượng cách điệu ZoSo của Page được lấy cảm hứng từ những tài liệu ký tự cổ từ năm 1557

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bacon, Tony; Burrluck, Dave; Day, Paul; Wright, Michael (2000). Electric Guitars: The Illustrated Encyclopedia. San Diego, CA: Thunder Bay Press. ISBN 978-1-57145-281-8. 
  • Campion, Chris (2010). Walking on the Moon: The Untold Story of the Police and the Rise of New Wave Rock. Hoboken: John Wiley & Sons. ISBN 978-0-470-28240-3. 
  • Cole, Richard (1992). Stairway to Heaven: Led Zeppelin Uncensored. New York City: HarperCollins Publishers. ISBN 978-0-06-018323-3. 
  • Case, George (2007). Jimmy Page: Magus, Musician, Man: An Unauthorized Biography (ấn bản 1). New York City, NY: Hal Leonard. ISBN 1-4234-0407-6. 
  • Chipkin, Ken; Stang, Aaton (2003). Real Rock Guitar: A Classic Rock Bible of the '60s and '70s. Miami, FL: Warner Bros. Publications. ISBN 978-0-7579-0987-0. 
  • Coelho, Victor (2003). The Cambridge Companion to the Guitar. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-80192-8. 
  • Davis, Stephen (1995) [1985]. Hammer of the Gods: The Led Zeppelin Saga. London: Pan. ISBN 978-0-330-34287-2. 
  • Lewis, Dave (2004). Led Zeppelin 'Talking': Led Zeppelin In Their Own Words. London: Omnibus Press. ISBN 978-1-84449-100-1. 
  • Lewis, Dave; Pallett, Simon (2005). Led Zeppelin: The Concert File. London: Omnibus Press. ISBN 978-0-7119-5307-9. 
  • Fast, Susan (2001). In The Houses of the Holy: Led Zeppelin and the Power of Rock Music. Oxford: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-511756-1. 
  • George-Warren, Holly; Romanowski Bashe, Patricia; Pareles, Jon (2001). The Rolling Stone Encyclopedia of Rock & Roll. New York City, NY: Fireside. ISBN 978-0-7432-0120-9. 
  • Gettings, Fred (1981). Dictionary of Occult, Hermetic, and Alchemical Sigils. London: Routledge & Kegan Paul. ISBN 978-0-7100-0095-8. 
  • Gulla, Bob (2009). Guitar Gods: The 25 Players Who Made Rock History. Westport, CN: Greenwood Press. ISBN 978-0-313-35807-4. 
  • Hoskyns, Barney (2006). Led Zeppelin IV: Rock of Ages. New York City, NY: Rodale. ISBN 978-1-59486-370-7. 
  • Howard, Mylett (1984). Jimmy Page: Tangents Within a Framework. New York City, NY: Omnibus Press. ISBN 978-0-7119-0265-7. 
  • Kendall, Paul (1981). Led Zeppelin in Their Own Words. New York City, NY: Omnibus Press. ISBN 978-0-86001-932-9. 
  • Welch, Chris (1985). Power & Glory: Jimmy Page & Robert Plant. London: Zomba Books. ISBN 978-0-946391-74-5. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Andy Manson. “Fine instrument luthier”. Andy Manson. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2012. 
  2. ^ “It Might Get Loud: Jimmy Page, Jack White and The Edge's First Guitars”. Guitar World. 13 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  3. ^ Holly George-Warren, Patricia Romanowski, Patricia Romanowski Bashe & Jon Pareles (2001), The Rolling stone encyclopedia of rock & roll, Fireside Publishing House, ISBN 0-7432-0120-5, tr.773. "Một trong những tay guitar, cây bút và nhà sản xuất quan trọng và có ảnh hưởng nhất đối với nhạc rock, Jimmy Page vẫn luân phiên giữa những dự án solo và hợp tác cùng nhiều siêu sao khác kể từ khi Led Zeppelin giải tán vào năm 1980."
  4. ^ Bob Gulla (2009), Guitar Gods: The 25 Players Who Made Rock History, Greenwood Publishing Group, ISBN 0-313-35806-0, tr.151.
  5. ^ a ă Prato, Greg. “Jimmy Page Biography”. Allmusic. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2008. 
  6. ^ “Outrider Review”. Rolling Stone. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2010. 
  7. ^ “JIMI HENDRIX, DIMEBAG, TONY IOMMI, EDDIE VAN HALEN Are Among 'Wildest Guitar Heroes'”. Blabbermouth.net. 6 tháng 3 năm 2007. 
  8. ^ Top 50 Guitarists of All Time. Gibson
  9. ^ “100 Greatest Guitarists | Rolling Stone Music | Lists”. Rolling Stone. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2011. 
  10. ^ “Rock and Roll Hall of Fame + Museum: Inductee Biography: The Yardbirds (1992)”. Rockhall.com. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2010. 
  11. ^ “Rock and Roll Hall of Fame + Museum: Inductee Biography: Led Zeppelin (1995)”. Rockhall.com. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2010. 
  12. ^ Davis 1985
  13. ^ Case 2007, tr. 5
  14. ^ Charles Shaar Murray, "The Guv'nors", Mojo, tháng 8 năm 2004, tr. 67.
  15. ^ a ă Crowe, Cameron (13 tháng 3 năm 1975). “The Durable Led Zeppelin”. Rolling Stone. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2012. 
  16. ^ a ă “Guitar Legend Jimmy Page”. NPR. 2 tháng 6 năm 2003. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2012. 
  17. ^ a ă â b c Rosen, Steven (25 tháng 5 năm 2007). “1977 Jimmy Page Interview”. Modern Guitars. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2012. 
  18. ^ a ă â b c d đ e Schulps, Dave. “Interview with Jimmy Page”. Trouser Press (October 1977). Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2012. 
  19. ^ a ă â “Interview with Jimmy Page”. Guitar World (May 1993). Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2012. 
  20. ^ a ă Kendall 1981, tr. 11
  21. ^ Case 2007, tr. 294
  22. ^ a ă â Paul, Du Noyer. “Who the hell does Jimmy Page think he is?”. Q magazine (August 1988): 5–7. 
  23. ^ a ă Kingsmill, Richard. “Led Zeppelin Triple J Music Specials”. Australian Broadcasting Corporation. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2000. 
  24. ^ Theo bìa đĩa The Kinks Deluxe Edition Sanctuary Records 2011.
  25. ^ Theo bìa đĩa Picture Book boxset Sanctuary Records 2008 của The Kinks.
  26. ^ “Official Discography”. The Who. 13 tháng 9 năm 1971. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2013. 
  27. ^ “Jeff Beck Interview (PDF)”. Hit Parader (April 1966). Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2013. 
  28. ^ "I first met Jimmy on Tolworth Broadway, holding a bag of exotic fish ... ", Uncut, tháng 1 năm 2009, tr. 40–41.
  29. ^ Dominick A. Miserandino, Led Zeppelin – John Paul Jones, TheCelebrityCafe.com.
  30. ^ “(unofficial website)”. Jimmy Page Online. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2010. 
Ghi chú
  1. ^ Artists and repertoire là một phân ban nhỏ trong mọi hãng đĩa thu âm, có nhiệm vụ chính là tìm kiếm tài năng trẻ và khảo sát quá trình phát triển của một số ca sĩ/nhạc sĩ. Đây cũng là gạch nối giữa nghệ sĩ với hãng đĩa hay công ty phân phối: mọi hoạt động của nghệ sĩ cho tới khi album được phát hành hầu hết được coi là dưới sự giám sát của A&R.
  2. ^ Muzak, hay còn có nhiều tên gọi khác như âm nhạc "thang máy", âm nhạc "bốc hàng", là một thể loại nhạc, thường là không lời, được bật chủ yếu tại các siêu thị, các trung tâm mua sắm, cửa hiệu tạp hóa, du thuyền hay thậm chí máy bay, khách sạn và thang máy. Khái niệm này gần gũi với một vài thể loại như easy listening hay smooth jazz.
  3. ^ Tàu bay Zeppelin, hay khí cầu hàng không, từng là loại phương tiện hàng không tân tiến nhất trước khi khi máy bay dân dụng được cải tiến độ an toàn. Thảm họa Hindenburg vào năm 1937 chính là cột mốc đánh dấu việc chấm dứt sử dụng phương tiện này.
  4. ^ Tạm dịch "khí cầu hàng đầu".

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:The Yardbirds