Phân cấp hành chính Thổ Nhĩ Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hệ thống phân cấp hành chính địa phương chính thức tại Thổ Nhĩ Kỳ về cơ bản được phân thành 3 cấp. Cao nhấp là cấp tỉnh (Il). Dưới cấp tỉnh là cấp huyện (ilçe) và nhỏ nhất là cấp xã (köy).

Cấp tỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Il (số nhiều: iller) là đơn vị hành chính địa phương cấp cao nhất của Thổ Nhĩ Kỳ, tương đương cấp tỉnhViệt Nam. Quan chức đứng đầu tỉnh được gọi là Vali (Thống đốc hoặc Tỉnh trưởng) do Tổng thống trực tiếp bổ nhiệm. Giúp việc cho thống đốc là Hội đồng tư vấn (Vilayet) với các thành viên do dân chúng bầu cử với nhiệm kỳ 4 năm. Về danh nghĩa, đây là cơ quan chính quyền địa phương cao nhất ở mỗi tỉnh.

Tính đến năm 2014, Thổ Nhĩ Kỳ có 81 tỉnh, trong đó có 30 tỉnh được hưởng quy chế thành phố tự trị (büyükşehir belediyeleri). Đây là những tỉnh có mật độ đô thị hóa cao với dân số trên 750.000 người. Ở những tỉnh này, chức trách của chính quyền tỉnh bị hạn chế nhiều, chỉ tập trung vào việc xây dựng và duy tu các trường học, khu dân cư, tòa nhà chính quyền, đường sá, khuyến khích nghệ thuật, văn hóa và bảo vệ thiên nhiên. Hầu hết chức trách tại các thành phố tự trị được thực hiện bởi Thị trưởng (Belediye Başkanı) do dân chúng bầu cử với nhiệm kì 5 năm, với sự giúp việc của Hội đồng thành phố (Büyükşehir Belediye Meclisi), với các thành viên được bầu cử gián tiếp từ các Hội đồng các đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc.

Danh sách các tỉnh Thổ Nhĩ Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích
  Thủ đô
  Đại đô thị


1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42
43
44
45
46
47
48
49
50
51
52
53
54
55
56
57
58
59
60
61
62
63
64
65
66
67
68
69
70
71
72
73
74
75
76
77
78
79
80
81
Tỉnh Diện tích (km2)[1] Dân số (2014)[2] Mật độ người/km²[3] Số huyện





Adana 14.125 2.165.595 156 15
Adıyaman 7.644 597.835 85 9
Afyonkarahisar 14.772 706.371 49 18
Aksaray 7.997 384.252 51 7
Amasya 5.702 321.913 57 7
Ankara 25.437 5.150.072 210 25
Antalya 20.909 2.222.562 107 19
Ardahan 5.156 100.809 21 6
Artvin 7.359 169.674 23 8
Aydın 7.943 1.041.979 133 17
Ağrı 11.520 549.435 48 8
Balıkesir 14.272 1.189.057 83 20
Bartın 2.079 189.405 91 4
Batman 4.680 557.593 120 6
Bayburt 3.741 80.607 22 3
Bilecik 4.310 209.925 49 8
Bingöl 8.277 266.019 32 8
Bitlis 8.885 338.023 48 7
Bolu 8.341 284.789 34 9
Burdur 7.174 256.898 38 11
Bursa 10.882 2.787.539 267 17
Çanakkale 9.995 511.790 52 12
Çankırı 7.490 183.550 25 12
Çorum 12.797 527.220 41 14
Denizli 11.861 978.700 84 19
Diyarbakır 15.272 1.635.048 109 17
Düzce 2.574 355.549 139 8
Edirne 6.119 400.280 66 9
Elazığ 9.313 568.753 67 11
Erzincan 11.903 223.633 19 9
Erzurum 25.355 763.320 30 20
Eskişehir 13.925 812.320 59 14
Gaziantep 6.887 1.889.466 277 9
Giresun 6.831 429.984 63 16
Gümüşhane 6.440 146.353 23 6
Hakkâri 7.228 276.287 38 4
Hatay 5.867 1.519.836 261 15
Iğdır 3.546 192.056 54 4
Isparta 8.913 418.780 51 13
İstanbul 5.313 14.377.018 2.767 39
İzmir 12.007 4.113.072 342 30
Kahramanmaraş 14.525 1.089.038 76 11
Karabük 4.103 231.333 56 5
Karaman 8.924 240.362 27 6
Kars 9.939 296.466 29 8
Kastamonu 13.136 368.907 28 20
Kayseri 17.170 1.322.376 78 16
Kilis 1.444 128.781 90 4
Kırıkkale 4.575 271.092 60 9
Kırklareli 6.304 343.723 55 8
Kırşehir 6.544 222.707 35 7
Kocaeli 3.623 1.722.795 477 12
Konya 41.001 2.108.808 54 31
Kütahya 12.043 571.554 48 13
Malatya 12.146 769.544 65 13
Manisa 13.269 1.367.905 104 17
Mardin 8.858 788.996 90 10
Mersin 15.620 1.727.255 112 13
Muğla 12.974 894.509 70 13
Muş 8.090 411.216 51 6
Nevşehir 5.407 286.250 53 8
Niğde 7.400 343.898 47 6
Ordu 5.952 724.268 122 19
Osmaniye 3.215 506.807 162 7
Rize 3.919 329.779 84 12
Sakarya 4.878 932.706 193 16
Samsun 9.352 1.269.989 140 17
Siirt 5.499 318.366 58 7
Sinop 5.805 204.526 35 9
Sivas 28.619 623.116 22 16
Şanlıurfa 19.451 1.845.667 98 13
Şırnak 7.203 488.966 68 7
Tekirdağ 6.339 906.732 144 11
Tokat 10.073 597.920 60 11
Trabzon 4.662 766.782 164 18
Tunceli 7.705 86.527 12 8
Uşak 5.382 349.459 65 6
Van 21.334 1.085.542 56 13
Yalova 850 226.514 267 6
Yozgat 14.097 432.560 31 13
Zonguldak 3.306 598.796 181 5

Cấp huyện[sửa | sửa mã nguồn]

Ilçe là đơn vị hành chính cấp 2 tại Thổ Nhĩ Kỳ, tương đương cấp huyện tại Việt Nam. Thông thường, mỗi tỉnh có một huyện được chọn làm tỉnh lỵ, gọi là thành phố tỉnh lỵ, quận trung tâm (châu thành) hay thị xã (merkez ilçesi). Trừ các thành phố tự trị, các tỉnh sẽ được gọi theo tên của thành phố tỉnh lỵ. Ngoại trừ ở các thành phố tỉnh lỵ do chính quyền tỉnh quản lý trực tiếp, quan chức đứng đầu huyện gọi là kaymakam (Huyện trưởng) do chính quyền trung ương trực tiếp bổ nhiệm. Giúp việc cho các Huyện trưởng là một Hội đồng huyện (Meclisi ilçe) do dân chúng bầu cử với nhiệm kì 5 năm.

Từ năm 1984, 3 thành phố tỉnh lỵ İstanbul, Ankaraİzmir được công nhận hưởng quy chế hưởng quy chế tự trị (belediyesi).[4] Đây là những thành phố đông dân nhất tại Thổ Nhĩ Kỳ lúc bấy giờ. Chính quyền các thành phố này thoát ly khỏi chính quyền tỉnh, trực tiếp do một Thị trưởng (Belediye Başkanı) được dân chúng bầu cử với nhiệm kì 5 năm, thực hiện chức năng chính quyền, với sự giúp đỡ của Hội đồng thành phố (Belediye Meclisi), hình thành từ Hội đồng cấp huyện cũ. Do phát triển đô thị tăng nhanh, nhiều huyện có mật độ đô thị hóa cao xung quanh thành phố tự trị có thể kết hợp với nhau để hình thành một cụm đô thị (büyük şehir). Hội đồng thành phố cũng được mở rộng, không còn do dân chúng bầu cử trực tiếp, mà gián tiếp thông qua Hội đồng các huyện trong cụm.

Những năm tiếp theo, nhiều thành phố tỉnh lỵ cũng được lần lượt được hưởng quy chế tự trị. Năm 1986, 4 thành phố tỉnh lỵ gồm Adana,[5] Bursa,[6] Gaziantep[7]Konya[8] được hưởng quy chế tự trị. Năm 1988, là Kayseri[9], Năm 1993, thêm 7 thành phố tự trị là Antalya, Diyarbakır, Erzurum, Eskişehir, Mersin, KocaeliSamsun.[10] Năm 1999, là Sakarya.[11]

Vào thời điểm năm 1993, tại Thổ Nhĩ Kỳ đã có 16 thành phố tự trị được công nhận. Các thành phố này liên tục mở rộng địa giới trong giới hạn của tỉnh. Tuy nhiên, đến năm 2004, Istanbul và Kocaeli phát triển đô thị hóa nhanh chóng, mở rộng hết địa giới tỉnh chứa nó. Lần lược các thành phố khác cũng gặp tình trạng tương tự. Vì vậy, vào năm 2012, Thổ Nhĩ Kỳ thông qua luật công nhận các tỉnh có dân số trên 750.000 người là những thành phố tự trị hoàn toàn.[12] Với luật này, thêm 13 tỉnh được công nhận là thành phố tự trị.

Ngoài ra, Ordu cũng được chuẩn thành phố tự trị khi mốc dân số gần đạt đến, nâng tổng số đại đô thị lên 30.[13] Theo đó, các thành phố tỉnh lỵ tại 30 tỉnh được bãi bỏ và chia thành các đơn vị hành chính cấp huyện mới. Số huyện trên toàn Thổ Nhĩ Kỳ do đó tăng lên từ 919 lên 957.

Cấp xã[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn vị hành chính cơ sở tại Thổ Nhĩ Kỳ là ilçe belediyesi (khu dân cư tự chủ). Các ilçe belediyesi có dân số dưới 2.000 người được gọi là köy (tương đương xã ở Việt Nam). Những belediyesi có tổng nhân khẩu trên 2.000 người được gọi là belde (còn gọi là kasaba, tương đương thị trấn ở Việt Nam). Khác với hai cấp tỉnh và huyện, người đứng đầu các ilçe belediyesi do nhân dân trong địa phương bầu ra.

Trước 2014, toàn Thổ Nhĩ Kỳ có hơn 1.400 thị trấn và 30.000 xã. Sau khi luật 6360 được thông qua, các xã và thị trấn tại 30 thành phố tự trị được giải thể và tổ chức lại thành các mahalle[14] (tương đương phường tại Việt Nam). Số lượng các thị trấn giảm chỉ còn 394[15] và các xã chỉ còn 18.335[16], phân bổ trên 51 tỉnh còn lại.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]