Port Elizabeth

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Port Elizabeth
Die Baai (tiếng Afrikaans)
iBhayi (tiếng Xhosa)
Tòa thị chính, Quảng trường Market, Port Elizabeth
Tòa thị chính, Quảng trường Market, Port Elizabeth
Port Elizabeth trên bản đồ Đông Cape
Port Elizabeth
Port Elizabeth
Port Elizabeth trên bản đồ Nam Phi
Port Elizabeth
Port Elizabeth
Tọa độ: 33°57′29″N 25°36′0″Đ / 33,95806°N 25,6°Đ / -33.95806; 25.60000Tọa độ: 33°57′29″N 25°36′0″Đ / 33,95806°N 25,6°Đ / -33.95806; 25.60000
Quốc giaNam Phi
TỉnhĐông Cape
Khu tự quảnNelson Mandela Bay
Thành lập1820
Chính quyền
 • Thị trưởngMongameli Bobani (UDM)
Diện tích[1]
 • Thành phố251,03 km2 (9,692 mi2)
 • Vùng đô thị1.959 km2 (756 mi2)
Dân số (2011)[1]
 • Thành phố312.392
 • Mật độ12/km2 (32/mi2)
 • Vùng đô thị[1]1.152.915
 • Mật độ vùng đô thị590/km2 (1,500/mi2)
Thành phần chủng tộc (2011)[1]
 • Người Phi da đen30,6%
 • Coloured27,0%
 • Ấn Độ/Á3,2%
 • Da trắng37,8%
 • Khác1,4%
Ngôn ngữ đầu tiên (2011)[1]
 • Afrikaans40.2%
 • Tiếng Anh Nam Phi33.2%
 • Tiếng Xhosa22.2%
 • Khác4.3%
Múi giờSAST (UTC+2)
Mã bưu chính (đường phố)6001
Hộp bưu chính6000
Mã vùng điện thoại041
Thành phố kết nghĩaSa mạc Palm, Curitiba, Jacksonville, Florida sửa dữ liệu

Port Elizabeth hay The Bay[2] ( tiếng Xhosa: iBhayi; tiếng Afrikaans: Die Baai [di ˈbɑːi]) là một trong các thành phố lớn ở Nam Phi; thành phố nằm ở tỉnh Đông Cape. Biệt danh là "Thành phố gió", Port Elizabeth trải dài 16 kilômét (10 mi) dọc theo Vịnh Algoa và là một trong những cảng lớn nhất ở Nam Phi. Đây là thành phố lớn nằm gần cực nam nhất của châu Phi. Port Elizabeth được thành lập vào năm 1820 cho những người Anh tới định cư nhằm tăng cường bảo vệ biên giới giữa Thuộc địa Capengười Xhosa. Ngày nay về mặt hành chính, thành phố thuộc về Khu tự quản đô thị Nelson Mandela Bay, khu vực có trên 1,3 triệu dân.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền Apartheid[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ tiên của người San lần đầu tới định cư ở khu vực mà ngày nay là Vịnh Algoa từ khoảng 10.000 năm trước. Khoảng 2.000 năm trước, họ bắt đầu thay đổi chỗ ở hoặc đồng hóa vào các cộng đồng làm nông khác mà sau này là người Xhosa, những người di cư từ phá bắc xuống.[3]

Những người châu Âu đầu tiên tới đây là Bartolomeu Dias, người đặt chân lên đảo St Croix ở Vịnh Algoa năm 1488,[4]Vasco da Gama, người tới Vịnh Algoa vào năm 1497. Trong nhiều thế kỷ, khu vực này xuất hiện trên các hải đồ của người châu Âu với ghi chú là "một bến đỗ có nước ngọt".[5]

Một trong những tham vọng mà Hoàng gia Bồ Đào Nha muốn đạt được tại Ấn Độ Dương là chiếm lấy tuyến đường thương mại béo bở từ Đông Phi tới Ấn Độ của các thương gia Ả Rập và Phi châu. Sau khi hiện thực hóa tham vọng đó, người Bồ Đào Nha củng cố quan hệ thương mại với Goa, điểm giao dịch lớn nhất của họ ở Ấn Độ.

Khu vực này sau đó trở thành một phần của Thuộc địa Cape và có một lịch sử phức tạp kể từ khi Công ty Đông Ấn Hà Lan đặt chân tới đây năm 1652 cho tới khi Liên minh Nam Phi được thành lập vào năm 1910.[6]

Pháo đài Frederick, Đông Cape

Vào năm 1799 khi người Anh chiếm đóng thuộc địa này trong chiến tranh Napoléon, quân Anh xây ở đây một pháo đài bằng đá mang tên Frederick (đặt theo tên của Công tước xứ York. Pháo đài nhìn ra hướng Port Elizabeth ngày nay, được xây dựng để ngăn quân Pháp đổ bộ vào bờ.[7]

Từ năm 1814 tới 1821 trang trại Strandfontein được sở hữu bởi Piet Retief.[8] Retief sau này trở thành thủ lĩnh của Voortrekker và bị sát hại bởi vua Zulu Dingane vào năm 1837 khi đàm phán về đất đai. Ước tính khoảng 500 đàn ông, phụ nữ và trẻ em trong nhóm của ông bị sát hại. Frederik Korsten là người sở hữu Strandfontein sau khi Retief mất. Vùng ngoại ô Korsten được đặt theo tên ông vào thế kỷ 19. Khu vực này sau đó được phát triển thành khu ngoại ô bãi biển Summerstrand của Port Elizabeth.[9]

Vào năm 1820 một nhóm khoảng 4.000 người định cư Anh Quốc tới đây bằng đường biển. Họ được chính phủ Thuộc địa Cape khuyến khích tới khu vực này để củng cố vững chắc vùng biên giới giữa Thuộc địa Cape và vùng đất của người Xhosa. Lúc này thị trấn cảng biển được thành lập bởi Sir Rufane Shaw Donkin, Toàn quyền Thuộc địa Cape lâm thời (tại vị: 1820-1821), người đặt tên khu vực này là "Port Elizabeth" theo tên người vợ quá cố của ông.[10] Nhà ngoại giao Edmund Roberts tới thăm Port Elizabeth vào đầu thập niên 1830. Roberts ghi chép rằng vào những năm 1820 Port Elizabeth "từng [chỉ] có bốn ngôi nhà, còn nay đã lên tới cả trăm căn, còn dân số là khoảng một nghìn hai trăm người".[11]

Giáo hội Công giáo Rôma thành lập Đại diện Tông Tòa trong thành phố vào năm 1847. Port Elizabeth trở thành khu vực tự trị vào năm 1861.

Thủ tướng Thuộc địa Cape John Molteno thành lập công ty đường sắt Cape vào năm 1872. Việc hoàn thành tuyến đường sắt tới Kimberley vào năm 1873 là động lực lớn đối với thương mại và gia tăng dân số. Với sự mở rộng tuyến đường sắt nhiều năm sau này của Thuộc địa Cape vào sâu trong nội địa, cảng Port Elizabeth trở thành trung tâm xuất nhập khẩu của khu vực Cape. Sự phát triển kinh tế nhanh chóng sau khi mở rộng mạng lưới đường sắt biến Port Elizabeth trở thành "Liverpool của Nam Phi". Thị trấn lúc này có một cộng đồng dân cư đa dạng, bao gồm người Xhosa, người Âu châu, Người Mã Lai Cape, và nhiều sắc tộc nhập cư khác.[12][13][14]

Horse Memorial

Trong Chiến tranh Boer thứ hai giai đoạn 1899-1902, cảng là điểm trung chuyển binh lính, ngựa và trang thiết bị của Anh Quốc tới mặt trận. Mặc dù không có xung đột diễn ra trong thành phố, tuy nhiên Port Elizabeth đón nhận một làn sóng người tị nạn vào thành phố, trong đó có cả phụ nữ và trẻ em Boer mà người Anh giam giữ trong trại tập trung.

Sau chiến tranh, người Anh xây dựng đài tưởng niệm những chú ngựa đã chết trên chiến trường. Buổi lễ khai trương đài tưởng niệm Horse Memorial diễn ra vào ngày 11 tháng 2, 1905.[15]

Thời kỳ Apartheid[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thời kỳ Apartheid, chính phủ Nam Phi thành lập chính sách phân chia chủng tộc và bắt đầu các chương trình phân chia các cộng đồng dựa trên ngoại hình cũng như các hệ thống phân loại và theo phong tục tập quán. Việc tái định cư bắt buộc theo Đạo luật Group Areas vào năm 1962 đối với các cộng đồng không phải da trắng là lý do hàng loạt các township (khu dành cho người da màu) được dựng lên. Việc phân loại đôi khi rất tùy tiện, và như ở nhiều địa phương khác trong cả nước, nhiều công dân đa chủng tộc đôi khi phải phân loại lại, điều thường có những hậu quả chính trị xã hội gây bất mãn. Những người ủ thuê nhà ở South End, và chđất ở Fairview phải tái định cư từ năm 1965 tới năm 1975 do các khu vực này là đất có giá trị.[16]

Khi những người Nam Phi da đen tụ họp nhau lại đòi các quyền dân sự và công bằng xã hội, đàn áp của chính phủ ngày càng gia tăng. Vào năm 1977 Steve Biko, nhà hoạt động da đen chống apartheid, bị thẩm vấn và tra tấn bởi cảnh sát ở Port Elizabeth trước khi bị thuyên chuyển tới Pretoria và chết ở đó.[17] Những người nổi tiếng chết ở Port Elizabeth trong thời kỳ này có thể kể tới nhóm The Cradock Four,[18] và George Botha,[19] một giáo viên.

Chiến dịch thách thức 1952[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1952 Đại hội Dân tộc Phi (ANC) và Đại hội Ấn Độ Nam Phi (SAIC) kêu gọi tất cả người Nam Phi đứng lên chống lại các luật lệ bất công của chính phủ apartheid đối với người da đen, người Ấn và người đa sắc tộc. Vào ngày 6 tháng 4, khi hầu hết người Nam Phi da trắng đang kỷ niệm 300 năm ngày Jan van Riebeeck đặt chân tới Cape vào năm 1652, ANC và SAIC kêu gọi người Nam Phi da đen kỷ niệm ngày này là "Ngày Cam kết và Cầu nguyện Quốc gia" (A National Day of Pledge and Prayer). 15 nghìn người tham dự buổi lễ tại Johannesburg, 10 nghìn tại Cape Town, 10 nghìn ở Durban và 20 nghìn ở Port Elizabeth. Buổi mít tinh ở Port Elizabeth do Giáo sư Z. K. MatthewsRaymond Mhlaba chủ trì.

Vào ngày 25 tháng 7 năm 1952, một ngày trước khi Chiến dịch Thách thức bắt đầu, 30 tình nguyện viên do Raymond Mhlaba cầm đầu đã tụ tập ở Trung tâm Dân sự New Brighton và cầu nguyện suốt đêm. Vào 5 giờ sáng ngày hôm sau, họ rời trung tâm và đi bộ hành về phía Nhà ga New Brighton.[20]

Mhlaba trở thành người đầu tiên bị bắt trong chiến dịch, còn Francis Matomela là người phụ nữ đầu tiên.[21] 2.007 người ở Port Elizabeth bị bắt trong đó có Oom Gov (Govan Mbeki) và Vuyisile Mini. Các tình nguyện viên đóng vai trò chủ chốt trong chiến dịch gồm có Nosipho Dastile, Nontuthuzelo Mabala, Lillian Diedricks và Veronica Sobukwe.[22]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Dữ liệu khí hậu của Port Elizabeth (1961−1990)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 38.6 37.7 40.7 39.0 35.4 32.4 33.1 34.3 39.0 39.1 35.8 36.0 40,7
Trung bình cao °C (°F) 25.4 25.4 24.6 23.0 21.7 20.3 19.7 19.6 20.0 20.8 22.3 24.3 22,3
Trung bình ngày, °C (°F) 21.3 21.2 20.3 18.2 16.1 14.3 13.9 14.3 15.4 16.7 18.2 20.1 17,5
Trung bình thấp, °C (°F) 17.9 17.9 16.9 14.3 11.5 9.2 8.8 9.8 11.4 13.1 14.6 16.4 13,5
Thấp kỉ lục, °C (°F) 10.4 10.7 7.0 4.4 2.4 −0.5 −0.5 1.6 1.5 3.0 5.7 8.8 −0,5
Giáng thủy mm (inch) 36
(1.42)
40
(1.57)
54
(2.13)
58
(2.28)
59
(2.32)
62
(2.44)
47
(1.85)
64
(2.52)
62
(2.44)
59
(2.32)
49
(1.93)
34
(1.34)
624
(24,57)
độ ẩm 77 80 81 80 76 73 74 76 77 78 78 77 77
Số ngày giáng thủy TB (≥ 1.0 mm) 5 5 7 6 5 5 5 7 6 7 7 5 70
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 265.9 222.9 228.7 220.6 221.7 207.5 227.8 232.0 213.0 236.3 250.1 278.9 2.805,4
Nguồn #1: NOAA[23]
Nguồn #2: South African Weather Service[24]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c “Main Place Port Elizabeth”. Census 2011. 
  2. ^ Pettman, Charles (1913). Africanderisms; a glossary of South African colloquial words and phrases and of place and other names. Longmans, Green and Co. tr. 51. 
  3. ^ “The San”. SA History. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2018. 
  4. ^  Chisholm, Hugh biên tập (1911). “Algoa Bay”. Encyclopædia Britannica 1 (ấn bản 11). Nhà in Đại học Cambridge. tr. 655. 
  5. ^ “Nelson Mandela Bay Tourism – Historical information”. Nelson Mandela Bay Tourism. 
  6. ^ “Unit 2. Colonialism and Segregation: The Origins of Apartheid”. South Africa: Overcoming Apartheid, Building Democracy. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2018. 
  7. ^ “Fort Frederick”. Nelson Mandela Bay Tourism. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2018. 
  8. ^ “Port Elizabeth of Yore: Piet Retief as Land Speculator”. The Casual Observer. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2018. 
  9. ^ “Colonial History of Port Elizabeth”. SA History. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2018. 
  10. ^ “The Port Elizabeth Pyramid”. Internet Archive. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2018. 
  11. ^ Roberts, Edmund (1837). Embassy to the Eastern Courts of Cochin-China, Siam, and Muscat. New York: Harper & Brothers. tr. 388. 
  12. ^ Burman, Jose (1984). Early Railways at the Cape. Cape Town. Human & Rousseau, tr.66. ISBN 0-7981-1760-5
  13. ^ “Info Please article”. Info Please. 
  14. ^ http://www.sahistory.org.za/place/aloes-railway-station
  15. ^ “The Horse Memorial”. St George's Park. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2018. 
  16. ^ > “History Of South End”. South End Museum. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2018. 
  17. ^ “Biography of Steve Biko”. about.com African History. 
  18. ^ “The Cradock Four”. The Cradock Four. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2018. 
  19. ^ “George Botha jumped a railing....”. SA History. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2018. 
  20. ^ Mhlaba, Raymond; Mufamadi, Thembeka (2001). “Vulindlela (opening the way)”. Raymond Mhlaba's Personal Memoirs: Reminiscing from Rwanda and Uganda. Robben Island memory series (3). Pretoria: Human Sciences Research Council and Robben Island Museum. tr. 84. ISBN 9780796919748. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2018. 
  21. ^ “Raymond Mhlaba Biography - Began as a Trade Unionist, Sentenced to Life Imprisonment, Continued the Struggle from Prison”. Jrank. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2018. 
  22. ^ “Oom Ray and The Power of Mass Action”. South African History Online. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2017. 
  23. ^ “Port Elizabeth Climate Normals 1961−1990”. National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2015. 
  24. ^ “Climate data for Port Elizabeth”. South African Weather Service. Tháng 6 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2010. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]