Rifampicin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Rifampicin structure.svg
Rifampicin 3D 1i6v.png
Dược phẩm
Tên IUPAC hệ thống
(7S,9E,11S,12R,13S,14R,15R,16R,17S,18S,19E,21Z)-2,15,17,27,29-pentahydroxy-11-methoxy-3,7,12,14,16,18,22-heptamethyl-26-{(E)-[(4-methylpiperazin-1-yl)imino]methyl}-6,23-dioxo-8,30-dioxa-24-azatetracyclo[23.3.1.14,7.05,28]triaconta-1(28),2,4,9,19,21,25(29),26-octaen-13-yl acetate
Nhận dạng
Số CAS 13292-46-1
Mã ATC J04AB02 QJ54AB02
PubChem 5381226
DrugBank DB01045
Dữ liệu hóa chất
Công thức C43H58N4O12 
Phân tử gam 822.94 g/mol
SMILES tìm trong eMolecules, PubChem
Dữ liệu vật lý
Nóng chảy 183–188 °C (361–370 °F)
Sôi 937 °C (1719 °F) [1]
Dữ liệu dược động lực học
Sinh khả dụng 90 tới 95% (qua đường miệng)
Liên kết protein 80%
Chuyển hóa Gan và thành ruột
Bán thải 3–4 giờ
Bài tiết nước tiểu (~30%), phân (60–65%)
Lưu ý trị liệu
Dữ liệu giấy phép

US

Phạm trù thai sản

C(AU) C(US)

Tình trạng pháp lý

Thuốc kê đơn (S4)(AU) ?(CA) POM(UK) -only(US)

Dược đồ qua đường miệng, tiêm tĩnh mạch

Rifampicin, còn được gọi là rifampin, là một kháng sinh được sử dụng để điều trị một số loại nhiễm khuẩn, có thể kể đến như bệnh lao, phức hợp mycobacterium avium, bệnh phongbệnh Legionnaire. [2] Thuốc này gần như luôn luôn được sử dụng cùng với các thuốc kháng sinh khác, trừ khi được kê để ngăn ngừa bệnh Haemophilus influenzae loại b và bệnh viêm màng não cầu khuẩn ở những người đã phơi nhiễm với những vi khuẩn này.[2] Trước khi điều trị cho một người trong một thời gian dài, nên đo các chỉ số về men gansố lượng máu.[2] Rifampicin có thể được đưa vào cơ thể qua đường miệng hoặc tiêm tĩnh mạch.[2]

Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảychán ăn.[2] Rifampicin cũng thường biến nước tiểu, mồ hôinước mắt thành màu đỏ hoặc cam.[2] Vấn đề về gan hoặc phản ứng dị ứng cũng có thể xảy ra.[2] Đây là một phần trong phương pháp điều trị lao được khuyến cáo trong khi đang mang thai, dù mức độ an toàn trong thai kỳ vẫn chưa rõ ràng.[2] Rifampicin thuộc nhóm kháng sinh rifamycin.[2]Chúng hoạt động bằng cách ngăn chặn việc tổng hợp RNA của vi khuẩn.[2]

Rifampicin được phát hiện vào năm 1965, được bán tại Ý vào năm 1968 và được chấp thuận tại Hoa Kỳ vào năm 1971. .[3][4][5] Nó nằm trong danh sách các thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế Thế giới, tức là nhóm các loại thuốc hiệu quả và an toàn nhất cần thiết trong một hệ thống y tế. [6] Chúng có sẵn dưới dạng thuốc gốc.[2] Chi phí bán buôn ở các nước đang phát triển là khoảng 3,90 USD một tháng.[7]Tại Hoa Kỳ một tháng điều trị có giá khoảng 120 USD. [2] [8] Rifampicin được tạo ra bởi vi khuẩn trong đất là Amycolatopsis rifamycinica. [5]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Rifampicin (CAS 13292-46-1)”. Santa Cruz Biotechnology Product Block. Santa Cruz Biotechnology. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2014. 
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i “Rifampin”. The American Society of Health-System Pharmacists. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2015. 
  3. ^ Sensi P (1983). “History of the development of rifampin”. Reviews of Infectious Diseases. 5 Suppl 3: S402–6. JSTOR 4453138. PMID 6635432. doi:10.1093/clinids/5.supplement_3.s402. 
  4. ^ Oxford Handbook of Infectious Diseases and Microbiology. OUP Oxford. 2009. tr. 56. ISBN 978-0-19-103962-1. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2015. 
  5. ^ a ă McHugh, Timothy D. (2011). Tuberculosis: diagnosis and treatment. Wallingford, Oxfordshire: CAB International. tr. 219. ISBN 978-1-84593-807-9. 
  6. ^ “WHO Model List of Essential Medicines (19th List)” (PDF). World Health Organization. Tháng 4 năm 2015. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 13 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016. 
  7. ^ “Rifampicin”. International Drug Price Indicator Guide. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2015. 
  8. ^ Hamilton, Richard J. (2014). Tarascon pocket pharmacopoeia: 2014 deluxe lab-pocket edition (ấn bản 15). Sudbury: Jones & Bartlett Learning. tr. 39. ISBN 978-1-284-05399-9.