Sắt(II) sunfua

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sắt(II) sunfua
Strukturformel Nickelarsenid.png
Ferrous sulfide.jpg
Sample of iron(II) sulfide
Tên khác Iron sulfide, ferrous sulfide, black iron sulfide, protosulphuret of iron
Nhận dạng
Số CAS 1317-37-9
PubChem 10290742
Ảnh Jmol-3D ảnh
SMILES
InChI
Thuộc tính
Công thức phân tử FeS
Khối lượng mol 87.910 g/mol
Bề ngoài Màu xám, dạng bột hoặc dạng viên
Khối lượng riêng 4.84 g/cm3
Điểm nóng chảy 1.194 °C (1.467 K; 2.181 °F)
Điểm sôi
Độ hòa tan trong nước không đáng kể (không tan)
Độ hòa tan phản ứng với axit
MagSus +1074·10−6 cm3/mol
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).
Có  kiểm chứng (cái gì Có KhôngN ?)

Sắt(II) sunfua hoặc sunfua sắt là một trong những hợp chất hóa học gia đình và là khoáng chất với công thức hóa học gần đúng là FeS. Hợp chất này là một chất rắn màu đen, không tan trong nước.

Điều chế[sửa | sửa mã nguồn]

Sắt(II) sunfua có thể được điều chế bằng cách cho hai nguyên tố thành phần là Fe và S phản ứng với nhau bằng cách đun nóng chúng:[1]

Fe + S → FeS

Sinh học và sinh hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Sắt sunfua tồn tại phổ biến trong tự nhiên dưới dạng các protein sắt-lưu huỳnh.

Khi các chất hữu cơ phân hủy dưới điều kiện oxy thấp (hoặc hypoxic) như ở đầm lầy hay khu vực chết của hồđại dương, vi khuẩn sunfat làm giảm lượng sunfat có trong nước, tạo ra hydro sunfua. Đôi khi hydro sunfua sẽ phản ứng với các ion kim loại trong nước hoặc rắn để tạo ra hợp chất kim loại sunfat, và hợp chất này không tan trong nước. Những hợp chất kim loại có nhóm sunfua như sắt(II) sunfua, thường có màu đen hoặc nâu, tương tự như màu sắc của bùn.

Pyrrhotite là một chất thải của vi khuẩn Desulfovibrio, một loại vi khuẩn có khả năng khử sunfat.

Khi trứng được nấu chín trong một thời gian dài, bề mặt lòng đỏ có thể chuyển sang màu xanh lá cây. Màu thay đổi là do sắt(II) sunfua được hình thành từ sắt trong lòng đỏ phản ứng với hidro sunfua được giải phóng từ lòng trắng do nhiệt.[2] Phản ứng này xảy ra nhanh hơn ở những quả trứng cũ, do lòng trắng có tính kiềm hơn.[3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ H. Lux "Iron (II) Sulfide" in Handbook of Preparative Inorganic Chemistry, 2nd Ed. Edited by G. Brauer, Academic Press, 1963, NY. Vol. 1. p. 1502.
  2. ^ Belle Lowe (1937), “The formation of ferrous sulfide in cooked eggs”, Experimental cookery from the chemical and physical standpoint, John Wiley & Sons 
  3. ^ Harold McGee (2004), McGee on Food and Cooking, Hodder and Stoughton