Sa Tăng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sa Tăng
Xyj-shaseng.jpg
Sa Ngộ Tịnh trong Tây du nguyên chỉ (西遊原旨), xuất bản năm 1819.
tên tiếng Trung
Phồn thể
Giản thể
Tên tiếng Việt
Tiếng Việt Sa Ngộ Tĩnh
Tên tiếng Thái Lan
Tiếng Thái Lan ซัวเจ๋ง
RTGS Sua Cheng (từ cách phát âm Triều Châu của 沙僧 "Sa Tăng")
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul 사오정
Tên tiếng Nhật
Hiragana さ ごじょう
Kyūjitai
Shinjitai

Sa Tăng (沙僧, Bính âm: Sha Seng) hay Sa Ngộ Tĩnh/Sa Ngộ Tịnh (Phồn thể: 沙悟淨, Giản thể: 沙悟淨, Bính âm: Sha Wujing) là đồ đệ út của Đường Tăng đi thỉnh kinh ở Tây Thiên trong tiểu thuyết Tây du ký của Ngô Thừa Ân.

Nguồn gốc tên gọi Sa Tăng[sửa | sửa mã nguồn]

Một tên gọi khác của Sa Tăng là Sa Ngộ Tĩnh do Quan Thế Âm Bồ Tát đặt, có nghĩa là giác ngộ được giáo lý đạo Phật (tĩnh tâm)[1].

Còn danh tự Sa Tăng là do Tôn Ngộ Không đặt khi ông chịu phò giá Đường Tăng, vì thấy cách chào của Sa Tăng giống hoà thượng.

Nguồn gốc của Sa Tăng[sửa | sửa mã nguồn]

Sa Tăng học được 18 phép thần thông biến hóa, ngày trước vốn giữ chức Quyển Liêm Đại tướng (卷帘大将). Là chức để coi việc trông rèm cho Ngọc Đế. Năm xưa làm vỡ chén lưu ly ở Hội Bàn Đào trong lúc say rượu nên bị đày xuống sông Lưu Sa làm yêu quái. Vì thế mà Quan Thế Âm Bồ Tát đã cho phò giá Đường Tăng để chuộc lại lỗi lầm đã gây ra.

Tây du ký miêu tả Sa Tăng như sau:

Chuỗi vòng đầu lâu đeo trên cổ Sa Tăng[sửa | sửa mã nguồn]

Trên cổ Sa tăng đeo chuỗi vòng 9 đầu lâu, Sa Tăng từng giải thích với Quan Thế Âm Bồ Tát rằng:

“Ta ở nơi đây đã ăn thịt vô số người, từ trước đến giờ những người đi qua đây đều bị ta ăn thịt. Phàm là đầu lâu còn sót lại, ta đều ném xuống sông Lưu Sa này, và chúng đã chìm hết xuống đáy. Nước con sông này lông ngỗng cũng không thể nổi lên, nhưng kỳ lạ, chỉ có 9 cái đầu lâu của người đi lấy kinh này, là nổi lềnh bềnh trên mặt nước, không chìm xuống. Ta cho rằng đây là những vật lạ, nên đã lấy dây xâu lại thành một chuỗi vòng đeo lên cổ, để khi rảnh rỗi lấy ra xem”.

Trong “Thi thoại Đường Tam Tạng thỉnh kinh” được viết trước khi tác phẩm “Tây Du Ký” ra đời, Sa Tăng từng nói với Tam Tạng pháp sư: “Dưới cổ ta là những đầu lâu của người mà ta đã từng ăn thịt”.

Trong tạp kịch “Tây Du Ký” Sa Tăng nói: “Có một tăng nhân, phát nguyện đi đến Tây Thiên thỉnh kinh, nhưng con người làm sao có thể đi qua con sông này? Hắn đã làm tăng 9 đời, cũng đã bị ta ăn thịt 9 lần, 9 chiếc đầu lâu của hắn đã được ta sâu thành chuỗi vòng cổ này”.

Những chiếc đầu lâu trên chuỗi vòng cổ đều là đời trước của Đường Tăng. Những kiếp trước, Đường Tăng đã bị Sa Tăng ăn thịt 9 lần. Đó là lý do trong “Tây Du Ký” thường nói Đường Tăng là Kim Thiền Tử chuyển thế lần thứ 10.

Cuộc chiến giữa Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới và Sa Tăng[sửa | sửa mã nguồn]

Thầy trò Đường Tăng đi đến sông Lưu Sa gặp trở ngại không qua được, Trư Bát Giới, Tôn Ngộ Không cùng đánh với Thủy quái Sa Tăng hồi sau không cự nổi bèn chạy xuống sông chỉ còn Lão Trư giao đấu với Lão Sa, hai bên bất phân thắng bại:

Tôn Ngộ Không phải cầu cứu Quan Âm Bồ Tát, Bồ Tát phái Mộc Tra xuống thu phục Sa Ngộ Tịnh, quy y làm đồ đệ thứ ba của Đường Tăng.

Phò giá Đường Tăng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc hành trình, Sa Tăng cùng Trư Bát Giới chuyên gánh hành lý và chăn ngựa. Về vũ khí, Sa Tăng chuyên sử dụng một cây bảo trượng hàng yêu nặng 5.048 cân[4] (月牙鏟, nguyệt nha san, monk's spade). So với Tôn Ngộ Không, Sa Tăng và Trư Bát Giới giỏi chiến đấu dưới nước hơn.

Tính cách nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Sa Tăng là một nhân vật siêng năng, cần mẫn, nhưng tính cách ba phải, không dám đấu tranh chống lại những thói xấu do sư huynh mình là Trư Bát Giới gây ra. Tại hồi 27, khi Tôn Ngộ Không ba lần đánh Bạch Cốt Tinh bị Bát Giới gièm pha, Sa Tăng dù biết lẽ phải thuộc về Ngộ Không nhưng vẫn không dám can ngăn Tam Tạng, rốt cuộc Ngộ Không bị đuổi về Hoa Quả Sơn. Vì vậy nên trong hồi 31, khi Bát Giới đến mời Ngộ Không đi cứu sư phụ, gặp lại Sa Tăng, Ngộ Không mới nói với Sa Tăng rằng:

Thành chính quả[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi thỉnh được chân kinh, Sa Tăng được phong làm Kim Thân La Hán (La Hán Mình Vàng)[6].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tây du ký, Như Sơn, Mai Xuân Hải, Phương Oanh dịch, Nhà xuất bản Văn học, Tập I, 2007, tr.10
  2. ^ Tây du ký, Như Sơn, Mai Xuân Hải, Phương Oanh dịch, Nhà xuất bản Văn học, Tập I, 2007, tr.423
  3. ^ Tây du ký, Như Sơn, Mai Xuân Hải, Phương Oanh dịch, Nhà xuất bản Văn học, Tập I, 2007, tr.429
  4. ^ Tây du ký, Như Sơn, Mai Xuân Hải, Phương Oanh dịch, Nhà xuất bản Văn học, Tập II, 2007, tr.738
  5. ^ Tây du ký, Như Sơn, Mai Xuân Hải, Phương Oanh dịch, Nhà xuất bản Văn học, Tập I, 2007, tr.597
  6. ^ Tây du ký, Như Sơn, Mai Xuân Hải, Phương Oanh dịch, Nhà xuất bản Văn học, Tập II, 2007, tr.946

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tây du ký, Như Sơn, Mai Xuân Hải, Phương Oanh dịch, Nhà xuất bản Văn học, 2007.