Siêu đại chiến

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Siêu đại chiến
Áp phích chiếu rạp của phim tại Việt Nam
Thông tin phim
Đạo diễn Guillermo del Toro
Sản xuất
Kịch bản
Cốt truyện Travis Beacham
Diễn viên
Âm nhạc Ramin Djawadi
Quay phim Guillermo Navarro
Dựng phim
Hãng sản xuất
Phát hành Warner Bros. Pictures
Công chiếu
  • 1 tháng 7, 2013 (2013-07-01) (Thành phố México)
  • 12 tháng 7, 2013 (2013-07-12) (Mỹ)
  • 19 tháng 7, 2013 (2013-07-19) (Việt Nam)
Độ dài 132 phút[1]
Quốc gia Mỹ[2]
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Kinh phí 190 triệu USD[3]
Doanh thu 411 triệu USD[3]

Siêu đại chiến (tên gốc tiếng Anh: Pacific Rim) là một phim điện ảnh quái vật khoa học viễn tưởng của Mỹ năm 2013 do Guillermo del Toro đạo diễn, với sự tham gia của dàn diễn viên gồm Charlie Hunnam, Idris Elba, Rinko Kikuchi, Charlie Day, Burn Gorman, Robert Kazinsky, Max MartiniRon Perlman. Phần kịch bản được chấp bút bởi Travis Beacham và del Toro từ phần cốt truyện gốc của Beacham. Phim được lấy bối cảnh trong tương lai gần, khi Trái đất bị tấn công bởi Kaiju,[a] loài quái vật khổng lồ xuất hiện từ một cổng không gian nằm sâu dưới đáy biển Thái Bình Dương. Để chiến đấu với chúng, loài người đã hợp sức và tạo ra các Jaeger,[b] những người máy khổng lồ hình người được lái bởi hai người điều khiển được kết nối với nhau thông qua một cầu nối thần kinh. Tập trung vào những ngày sau của cuộc chiến, câu chuyện xoay quanh Raleigh Becket, một cựu điều khiển viên Jaeger được triệu tập để hợp tác với tân binh Mako Mori trong những nỗ lực cuối cùng nhằm tiêu diệt giống loài Kaiju.

Quá trình quay phim chính được bắt đầu từ ngày 14 tháng 11 năm 2011 tại Toronto và diễn ra đến tháng 4 năm 2012. Siêu đại chiến do hãng Legendary Pictures sản xuất và Warner Bros. chịu trách nhiệm phân phối. Phim được công chiếu vào ngày 12 tháng 7 năm 2013 tại Mỹ dưới định dạng 3DIMAX 3D và đã nhận được nhiều hiệu ứng tích cực từ giới phê bình điện ảnh, đặc biệt nhấn mạnh về hiệu ứng kỹ xảo, các phân cảnh hành động và phong cách tiếc thương quá khứ. Dù không đạt nhiều thành công về doanh thu phòng vé tại Mỹ, Siêu đại chiến lại tạo ra nhiều đột phá tại các thị trường ngoại địa.[8] Phim thu về tổng cộng 411 triệu USD toàn cầu—với 114 triệu USD trong số đó đến từ Trung Quóc—trở thành phim điện ảnh đạt doanh thu thành công nhất trong sự nghiệp của đạo diễn Del Toro.

Phần phim tiếp theo có tựa đề Pacific Rim: Uprising do Steven S. DeKnight đạo diễn và Del Toro sản xuất, với sự trở lại của ba diễn viên Kikuchi, Day và Gorman và hãng Universal Pictures thay thế vai trò phân phối của Warner Bros. được ra mắt vào ngày 23 tháng 2 năm 2018.[9][10]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2013, những quái vật khổng lồ tên là Kaiju đã tới Trái đất thông qua một cổng dịch chuyển không gian được gọi là "Lỗ Hổng" nằm ở dưới đáy của biển Thái Bình Dương. Trong khoảng thời gian ba năm, loài Kaiju đã tàn phá các thành phố biển nằm trên Vành đai lửa Thái Bình Dương như San Francisco, San José del Cabo, Sydney, ManilaHong Kong. Loài người đã tạo nên những người máy khổng lồ được gọi là Jaeger nhằm đối đầu với mối đe dọa từ ngoài hành tinh. Mỗi Jaeger đều được điều khiển bởi hai người được kết nối với nhau thông qua một cầu nối thần kinh để chia sẻ mức sóng thần kinh cực lớn.

Năm 2020, Jaeger Gipsy Danger do hai anh em Raleigh và Yancy Beckett điều khiển đã bảo vệ cho thành phố Anchorage khỏi sự tấn công của một Kaiju mang mã danh Knifehead. Sau khi Gipsy đánh bại Kaiju, cả hai người không hề biết rằng con Kaiju đó vẫn còn sống và phục kích họ, gây hư hại nặng nề cho Gipsy đồng thời ném Yancy ra khỏi buồng điều khiển và giết chết anh. Raleigh sau đó phải điều khiển Gipsy một mình. He then activates the remaining plasma cannon và ghết Knifehead. Bị ám ảnh bởi cái chết của Yancy, Raleigh đã từ bỏ Chương trình Jaeger. Năm 2025, các chính phủ trên thế giới quyết định ngừng trợ cấp cho việc lắp ráp các Jaeger, nhằm tập trung vào việc xây dựng các bức tường khổng lồ ở ven biển, tuy nhiên các Kaiju ngày một mạnh hơn, chúng tấn công thường xuyên hơn và các Jaeger bị phá hủy còn nhanh hơn là được lắp ráp. Các Jaeger còn lại được chuyển tới Hong Kong dưới sự chỉ huy của Chỉ huy Stacker Pentecost, người đang có kế hoạch phá hủy Lỗ Hổng bằng vũ khí hạt nhân.

Pentecost gặp cựu phi công jaeger Raleigh Becket (Hunnam) thuyết phục anh trở lại và điều khiển Gipsy Danger. Về đến Hồng Kông, Raleigh được kết hợp với phi công phụ để tìm một phi công với một kết nối mạnh mẽ, kết nối càng mạnh, hiệu suất của các phi công trong trận chiến tốt hơn. Cảm nhận một kết nối mạnh mẽ, Raleigh đòi hỏi để được hợp tác với Mako Mori (Kikuchi), giám đốc của dự án nâng cấp Jaeger. Pentecost phản đối vì Mako là con gái nuôi của ông, nhưng cuối cùng ông đổi ý. Ban đầu chạy thử nghiệm của họ gần như kết thúc trong thảm họa khi Mako trở nên chìm sâu trong ký ức thời thơ ấu: một cuộc tấn công kaiju đã biến cô thành trẻ mồ côi, vì quá đấm chìm trong ký ức tuổi thơ cô vô tình kích hoạt vũ khí của Gipsy Danger trong khi vẫn đang trong khoang chứa. Ngay sau đó, hai Jaeger là Crimson TyphoonCherno Alpha được giao nhiệm vụ chống lại một cuộc tấn công kép của kaiju tại Hồng Kông. Tình hình trở nên xấu đi khi hai con kaiju phá hủy Crimson TyphoonCherno Alpha và vô hiệu hóa luôn cả Striker Eureka. Pentecost đành phải cho Raleigh và Mako cùng kết nối để điều khiển với Gipsy Danger, chiếc Jeager duy nhất còn lại.

Trong khi đó, Newton Geiszler (một nhà khoa học nghiên cứu về kaiju) lắp ráp một máy cho phép anh ta kết nối thần kinh với một mảnh não kaiju. Việc đó rất nguy hiểm và suýt giết chết anh, nhưng anh phát hiện ra kaiju không phải là những con thú hoang dã, chúng là vũ khí sinh học chiến đấu theo lệnh của một chủng tộc người ngoài hành tinh xâm lược. Với sự chấp thuận của Pentecost, anh tìm ra Hannibal Chau, trùm buôn lậu các bộ phận kaiju, để mua một bộ não kaiju nguyên vẹn và lặp lại thí nghiệm. Chau suy luận rằng kaiju đang tìm kiếm Geiszler ở Hồng Kông, vì thí nghiệm của ông đã thu hút sự chú ý của chúng, vì liên kết thần kinh là hai chiều và kaiju có một thần kinh giống tổ ong. Sau khi Gipsy Danger giết chết cả hai kaiju, Chau và đội của ông ta thu hoạch các bộ phận. Geiszler nhận ra một kaiju đang mang thai. Con ấu thú kaiju thoát ra ngoài nhưng chết non, tuy nhiên trước khi chết đó đã kịp tấn công và nuốt sống Hannibal Chau. Geiszler và đồng nghiệp Hermann Gottlieb kết nối với bộ não nguyên vẹn của con kaiju con và khám phá ra rằng cánh cổng chỉ mở cho ADN của kaiju, đó là lý do tại sao tất cả các nỗ lực tấn công trước đó để phá hủy nó đều thất bại.

Lúc này Pentecost đang chỉ huy cuộc tấn công vào cảnh cổng nối giữa hai thế giới năm ở dưới đáy Thái Bình Dương, hiện được bảo vệ bởi ba con kaiju. Hai jaeger còn lại tham gia cuộc tấn công là: Striker Eureka mang theo bom hạt nhân (để phá hủy cách cổng) được điểu khiển bởi Stacker Pentecost và Chuck Hansen, Gipsy Danger điểu khiển bởi Raleigh Becket và Mako Mori. Trong cuộc chiến với kaiju ở dưới biển Thái Bình Dương, 2 kaiju đã làm cho Striker Eureka bị hỏng nặng nên không thể đưa được bom hạt nhân vào trong cánh cổng theo kế hoạch, Pentecost bèn ra lệnh cho Raleigh và Mako dùng chính lò hạt nhân của Gipsy Danger để kích nổ cánh cổng. Sau đó, Pentecost và Chuck đã hi sinh khi kích nổ quả bom hạt nhân mang trên người của Striker Eureka để dòn đường cho Gipsy Danger tiến vào. Với phát hiện của Geiszler và Gottlieb, Raleigh và Mako lấy theo xác của con kaiju đã bị Pentecost và Chuck giết để tiến vào cánh cổng. Sau khi thành công vào được bên trong, Raleigh đã đưa Mako vào khoang cứu hộ và đẩy ra khỏi Gipsy Danger trồi lên mặt biển Thái Bình Dương, sau đó anh khởi động quy trình kích nổ lò phản ứng của Gipsy Danger bằng tay rồi cũng thoát đi bằng khoang cứu hộ. Lò hạt nhân của Gipsy Danger phát nổ ở thế giới của kaiju, phá hủy cánh cổng liên kết hai thế giới. Cả Mako và Raleigh đều sống sót nổi lên mặt nước biển Thái Bình Dương.

Trong một đoạn hậu cảnh, Hanibal Chau dùng dao cắt để thoát ra khỏi bụng ấu thú kaiju.

Chủ đề[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bộ phim, một người thường không thể đáp ứng được hệ thống thần kinh của một Jaeger, có nghĩa rằng họ phải được kết nối với một người điều khiển khác—một quá trình được gọi là "drifting". Khi hai người điều khiển được kết nối, họ nhanh chóng biết được ký ức và cảm xúc của người còn lại, và không có cách nào khác ngoài việc phải chấp nhận chúng; del Toro cho rằng ý tưởng này vô cùng ấn tượng, hấp dẫn và thuyết phục. Vị đạo diễn bày tỏ chủ đích mang phép ẩn dụ này gắn với thực tế:

Các câu chuyện nhỏ của những người điều khiển lại chính là một điểm tất yếu, rằng chúng ta đều đang nằm trong cùng một người máy [trong cuộc sống]… Dù chúng ta có đứng lên hay bỏ mạng. Tôi không muốn điều này trở thành một quảng cáo chiêu mộ hay một thứ gì đó hiếu chiến. Ý tưởng của bộ phim chỉ là về việc chúng ta phải tin tưởng lẫn nhau, vượt qua mọi lằn ranh của màu da, giới tính, đức tin, và mọi thứ, và hãy gắn bó với nhau.

Del Toro thừa nhận sự đơn giản của thông điệp này, và cũng nói rằng anh muốn xem những bộ phim phiêu lưu có tinh thần tương tự khi anh còn là một đứa trẻ.[11] Mười diễn viên chính trong phim đều có "little arcs" có ích cho ý tưởng này; del Toro bình luận: "Tôi nghĩ đây là một thông điệp tuyệt vời cho trẻ em... 'Cái gã mà bạn vừa đánh gục mười phút trước? Đó chính là cái gã mà bạn phải làm việc cùng vào năm phút sau.' Đó chính là cuộc sống... Chúng ta sẽ chỉ hoàn thành khi chúng ta làm việc cùng nhau."[12]

Nội dung phim tập trung vào mối quan hệ giữa Becket và Mori, nhưng lại không phải là một câu chuyện tình cảm như thường lệ. Cả hai đều là những con người bị thương tổn về mặt tinh thần và quyết định để quá khứ của mình ngủ yên. Trong thời gian luyện tập điều khiển Jaeger, họ đã trải qua quá trình "opening up", đi vào trong những suy nghĩ, hồi ức và bí mật của người kia. Mối quan hệ của họ là một mối quan hệ tôn trọng lẫn nhau và tin tưởng nhau tuyệt đối. Hunnam bình luận rằng bộ phim là "một câu chuyện tình mà không có một câu chuyện tình nào cả. Nó nói về tất cả các yếu tố cần thiết cho tình yêu mà không cần phải chạm đến ngưỡng của tình yêu".[13][14] Cả hai nhân vật Becket và Mori đều đã trải qua những nốt trầm của riêng mỗi người; một trong những ý tưởng trọng tâm của kịch bản chính là về việc hai con người bị thương tổn có thể hòa vào nhau làm một, với các mảnh ghép còn thiếu được kết nối với nhau như một trò chơi xếp hình.[15] Del Toro cũng nhấn mạnh những cảm xúc thân mật của các nhân vật bằng cách thực hiện các cảnh quay tập luyện chiến đấu của họ theo cách mà anh sẽ quay các cảnh tình dục.[16]

Del Toro, tự nhận mình là một người theo chủ nghĩa hòa bình, đã tránh những thứ mà anh gọi là "thẩm mỹ buôn bán xe hơi" hay "thẩm mỹ video chiêu quân", và gắn cho nhân vật của mình các thứ bậc phương Tây như "marshal" hay "ranger" thay vì các cấp bậc quân đội như "đại úy", "thiếu tá" hay "đại tướng". Vị đạo diễn nói: "Tôi tránh việc tạo ra các thể loại thông điệp mang ý nghĩa rằng chiến tranh là điều đúng đắn. Chúng ta đã có đủ hỏa lực trên thế giới này rồi."[17] Del Toro không muốn tạo ra những cảnh quay về những cái chết và sự tàn phá khủng khiếp ở trong các phim điện ảnh bom tấn hiện đại, anh muốn trình ra hình ảnh các con phố và tòa nhà đang được sơ tán trước khi bị Kaiju tấn công, và anh cũng cho rằng việc miêu tả những hình ảnh tàn phá kia là "vô cùng tàn nhẫn". Vị đạo diễn phát biểu:

Tôi không muốn con người ta bị bóp nát. Tôi muốn cái sự hân hoan mà tôi từng có khi nhìn thấy Godzilla tung cả cái xe tăng lên mà không thèm nghĩ đến việc có người đang ở trong chiếc xe tăng ấy… Điều mà tôi muốn nói chính là bạn không thể làm bất cứ điều gì ngoài kêu la khi bạn ở trong tình cảnh đó. Có nhiều băn khoăn về sự mỏng manh của status quo và sự an toàn của người dân, nhưng trong tâm trí tôi—thật lòng mà noí—bộ phim này như một thế giới khác vậy. Không có bất cứ sự tương quan nào với thế giới thực. Chẳng cần phải sợ việc Kaiju tấn công bị sao chép bởi vì một Kaiju sẽ đọc được nó trên báo và nói, "Mình sẽ hủy diệt Seattle." Trong trường hợp của tôi, tôi sẽ làm theo cách truyền thống. Nó sẽ diễn ra ngay sau Thế chiến II và là một cỗ máy bắt chước, theo một cách, để Nhật Bản có thể chữa lành các vết thương chiến tranh.Và thật là toàn bộ khi để Kaiju nổi giận trong thành phố đó.[18]

Viết cho tờ Los Angeles Review of Books, Wai Chee Dimock kết nối chủ đề chính của phim về sự thống nhất to với hình ảnh lặp lại về chiếc giày mất tích, cho rằng "giấc mơ không tưởng" đang dẫn dắt các nhân vật là

những con người yếu đuối như chúng ta lại có thể "thống nhất"—không chỉ ở trong quá kinh kết nối thần kinh diễn ra giữa hai người điều khiển Jaeger mà cũng, nói một cách bao quát hơn, trong một mạng phân dạng fractal web của sự giống nhau, lấp đầy thế giới với những bản sao của chính mình và với tầm quan trọng được sắp xếp phong phú và với các cấp độ tái biểu cảm phong phú, bắt đầu từ đôi giày dưới chân chúng ta.[19]

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Pacific Rim (nhạc phim)
Ramin Djawadi
Ramin Djawadi, người tạo nên phần nhạc nền cho Siêu đại chiến.

Phần nhạc nền của Siêu đại chiến được biên soạn bởi nhà soạn nhạc Ramin Djawadi.[20] Đạo diễn Del Toro chọn Djawadi thực hiện phần này sau khi được biết tới những thành tựu của anh cho Vượt ngục, Người SắtGame of Thrones: "Những khúc nhạc của cậu ấy mang tới sự uy quyền, và đồng thời cũng chứa đựng những mảnh hồn tuyệt vời nhất của nhân thế." Đạo diễn cũng cho biết một số bản nhạc rap tiếng Nga cũng sẽ được sử dụng trong bộ phim.[21] Album nhạc phim được phát hành trực tuyến trên trang Amazon vào ngày 18 tháng 6 năm 2013 và dưới định dạng đĩa CD vào ngày 25 tháng 6 năm 2013.[22] Phiên bản đĩa vật lý của album được ra mắt vào ngày 9 tháng 7 năm 2013 bởi hãng đĩa WaterTower Music, ba ngày trước khi phim được công chiếu tại rạp.[23] Hai nhạc sĩ Tom MorelloPriscilla Ahn cũng hợp tác với Djawadi trong một vài bản nhạc.[23] Hai bài hát được sử dụng trong bộ phim nhưng không được xuất hiện trong album là "Just Like Your Tenderness" do Luo Xiaoxuan trình bày và bài hát kết phim "Drift" do Blake Perlman và Rza phối hợp trình bày.[24] Album nhận được nhiều ý kiến đánh giá tích cực từ giới chuyên môn. The Action Elite chấm cho album năm trên năm sao,[25] tờ Empire chấm bốn,[26] MSNFilmtracks cũng chấm cho album bốn trên năm sao.[27][28] Ngày 27 tháng 7 năm 2013, album đạt vị trí xếp hạng cao nhất là thứ 7 trên bảng xếp hạng Billboard Top Soundtracks của Mỹ.[29]

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Siêu đại chiến ban đầu được dự kiến sẽ ra mắt công chúng vào tháng 7 năm 2012. Tuy nhiên hãng Warner Bros. đã quyết định dời lịch chiếu sang ngày 10 tháng 5 năm 2013. Tháng 3 năm 2012, hãng một lần nữa lại thông báo dời lịch công chiếu của phim sang ngày 12 tháng 7 năm, 2013.[30] Phim được ra mắt tại Thành phố México vào ngày 1 tháng 7 năm 2013.[31]

Quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 11 năm 2012, trang web chính thức của Siêu đại chiến cho ra mắt cùng lúc hai video lan truyền—một trong đó cho thấy cảnh cuộc chiến với quái thú Kaiju quay bằng máy quay cầm tay.[32] Các bản vẽ thiết kế của người máy Jaeger cũng được đăng tải trực tuyến.[32] Ngày 5 tháng 6 năm 2013, cuốn truyện tranh Pacific Rim: Tales from Year Zero được phát hành, với Travis Beacham đảm nhiệm phần sáng tác và Alex Ross đảm nhiệm phần tranh bìa. Tales from Year Zero được coi như là phần giới thiệu cho những sự kiện xảy ra trước phần đầu của phim, với bối cảnh được đặt vào mười hai năm trước đó.[33][34] Vào ngày 18 tháng 6, Insight Editions cho xuất bản Pacific Rim: Man, Machines, and Monsters, cuốn sách ảnh do David S. Cohen thực hiện. Cuốn sách biên tập lại quá trình sản xuất bộ phim với các quan niệm mỹ thuật, nhiếp ảnh, quá trình quay phim của dàn diễn viên và đội ngũ làm phim, và lời tựa của đạo diễn del Toro.[35] Ngày 2 tháng 7, một video lan truyền khác được cho đăng tải, trong đó nhân vật Hannibal Chau do Ron Perlman thủ vai, đang quảng bá cho mối buôn bán nội tạng Kaiju của mình, Kaiju Remedies.[36]

Trong ngày 12 tháng 7 năm 2013, tức ngày Siêu đại chiến được công chiếu, một video lan truyền khác được phát hành để quảng bá cho phim. Video này là sự hợp tác giữa hãng phim (bao gồm cả del Toro) và mạng lưới YouTube Polaris (còn được biết đến với tên The Game Station). Trong video, năm thành viên của mạng lưới YouTube này (ví dụ như Game Grumps) được biến đổi thành các người điều khiển Jaeger đang chiến đấu với Kaiju.[37] Tới ngày 16 tháng 7, một phiên bản tiểu thuyết hóa của Siêu đại chiến do Alex Irvine sáng tác được phát hành.[38] Hiệp hội NECA cũng cho bày bán các mô hình của Kaiju và Jaeger.[39]

Video game[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Pacific Rim (video game)

Một video game chiến đấu một người chơi cho dòng Xbox 360PlayStation 3 dựa trên nội dung của Siêu đại chiến đã được Ủy ban Phân loại Úc công bố. Được phát triển và phát hành bởi Yuke's, Pacific Rim: The Video Game được ra mắt cùng thời điểm phim được công chiếu vào ngày 12 tháng 7 năm 2013[40] và nhận được nhiều phản hồi tiêu cực từ người chơi cũng như giới chuyên môn.[41] Hãng Reliance Games cũng tham gia phát triển một tựa game cho các định dạng smartphone mang tên Pacific Rim: The Mobile Game; phiên bản này cũng nhận được nhiều đánh giá tiêu cực.[42]

Phương tiện tại gia[sửa | sửa mã nguồn]

Siêu đại chiến được phát hành trực tuyến trên iTunes StoreVudu vào ngày 1 tháng 10 năm 2013.[43] Phim được bày bán dưới định dạng DVD và Blu-ray tại Mỹ vào ngày 15 tháng 10 năm 2013, và tại Anh và các quốc gia khác vào ngày 25 tháng 11 năm 2013.[44] Phiên bản Collector's Edition cũng được ra mắt cùng ngày.[45] Nhằm quảng bá cho việc phát hành các phiên bản tại gia, Bryan Harley và Roque Rodriguez từ Fresno, California đã sản xuất ra một phiên bản "sweded" (nhại lại các cảnh quay) của cảnh đại chiến giữa Gipsy Danger và Otachi sau khi đạo diễn del Toro bị ấn tượng bởi đoạn trailer Siêu đại chiến phiên bản "sweded" được đăng tải trên kênh YouTube của bộ đôi này vào tháng 3 năm 2013.[46] Tính tới tháng 3 năm 2014, 961.845 DVD cùng với 1.427.692 đĩa Blu-ray của Siêu đại chiến đã đợc tiêu thụ tại Mỹ, thu về lần lượt 10.045.530 USD và 24.634.992 USD tiền doanh thu, đem lại doanh thu tổng cộng 37,079,122 USD cho nhà sản xuất.[47]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tên của quái vật có nguồn gốc từ từ tiếng Nhật kaijū (怪獣?, "sinh vật kì lạ, quái vật"). Trong tiếng Nhật không có nhiều từ ngữ số nhiều, nhưng thường các từ mượn của tiếng Nhật trong tiếng Anh vẫn thường có số nhiều theo phong cách tiếng Anh.[4][5][6] Travis Beacham tin rằng cả "Kaiju" và "Kaijus" đều có nghĩa trong vũ trụ của phim, dù vậy anh vẫn thích "Kaiju" hơn.[7]
  2. ^ Tên của mecha này có nguồn gốc từ từ tiếng Đức Jäger ("thợ săn"). Trong tiếng Đức, danh từ số nhiều của từ này chỉ xuất hiện trong ngữ cảnh xác định chứ không phải là một hậu tố cho từ đó ("der Jäger" nghĩa là "thợ săn"; "die Jäger" nghĩa là "nhiều thợ săn"). Bởi vì đây là một phim tiếng Anh nên phim sử dụng từ số nhiều "Jaegers".

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ PACIFIC RIM (12A)”. British Board of Film Classification. 9 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  2. ^ “Pacific Rim (EN)”. Lumiere. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2017. 
  3. ^ a ă “Pacific Rim”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2013. 
  4. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Sacks
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên aintitcool50956
  6. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Unbelievable
  7. ^ Beacham, Travis. “The grammar of Pacific Rim”. the principle fantastic. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2013. 
  8. ^ Mendelson, Scott (2 tháng 9 năm 2013). Pacific Rim And More Domestic 'Flops' That Became Global Hits”. Forbes. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2013. 
  9. ^ “Pacific Rim 2: Steven S. DeKnight to Direct”. Collider. 23 tháng 2 năm 2016. 
  10. ^ “‘Pacific Rim 2’ Gets 2018 Release Date”. 
  11. ^ Russo, Tom (6 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim is the heartfelt project from del Toro”. bostonglobe.com. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2013. 
  12. ^ Mr. Beaks (8 tháng 7 năm 2013). “Mr. Beaks Talks PACIFIC RIM, World Building And Gargantuas With Guillermo del Toro And Travis Beacham! Part One Of Two!”. aintitcool.com. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013. 
  13. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên trauma
  14. ^ Outlaw, Kofi (tháng 8 năm 2012). “Charlie Hunnam Talks Love and Psychic Bonds in Pacific Rim. screenrant.com. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2013. 
  15. ^ Murray, Rebecca. “Director Guillermo del Toro Discusses Pacific Rim. movies.about.com. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2013. 
  16. ^ Fear, David (9 tháng 7 năm 2013). “TONY Q&A: Pacific Rim's Guillermo del Toro”. Time Out. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2013. 
  17. ^ Howell, Peter (5 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim's Guillermo del Toro is a monster-loving pacifist”. thestar.com. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2013. 
  18. ^ Turek, Ryan (8 tháng 7 năm 2013). “Shock Interview: Guillermo del Toro on the Development, Destruction and Family-Friendly Pacific Rim. shocktillyoudrop.com. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  19. ^ Dimock, Wai Chee (27 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim: Guillermo del Toro's Fractal Shoes”. Los Angeles Review of Books. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2013. 
  20. ^ “Ramin Djawadi to Score Guillermo Del Toro’s ‘Pacific Rim’”. filmmusicreporter.com. 27 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2014. 
  21. ^ Weintraub, Steve 'Frosty' (8 tháng 8 năm 2012). “Guillermo del Toro Talks PACIFIC RIM Soundtrack and Collectables”. collider.com. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  22. ^ Pacific Rim on Amazon”. 
  23. ^ a ă 'Pacific Rim' Soundtrack Details”. Film Music Reporter. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  24. ^ Vancheri, Barbara (12 tháng 7 năm 2013). “Actor gets choice role in Pacific Rim. Pittsburgh Post-Gazette. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2013. 
  25. ^ Pacific Rim Movie Score (2013) Review”. The Action Elite. 2 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2014. 
  26. ^ Graydon, Danny (15 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim. Empire. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2014. 
  27. ^ Yang, Sherman (21 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim: Original Motion Picture Soundtrack. MSN. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2014. 
  28. ^ “Filmtracks: Pacific Rim (Ramin Djawadi)”. Filmtracks.com. 6 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2014. 
  29. ^ “Soundtracks: Jul 27, 2013”. Billboard. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2014. 
  30. ^ “Release Schedule – NEW DATES & CHANGES”. Box Office Mojo. Tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2012. 
  31. ^ “A Week In Movies: Pacific Rim Launches”. 6 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013. 
  32. ^ a ă “Pan Pacific Defense Corps”. Panpacificdefense.com. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2013. 
  33. ^ Casey, Dan (30 tháng 3 năm 2013). “Wondercon: Pacific Rim: Tales From Year Zero Alex Ross Cover Revealed « Nerdist”. Nerdist.com. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2013. 
  34. ^ PacRim (24 tháng 12 năm 2012). “Pacific Rim Le film: Merchandising/collectibles”. Pacificrimfilm.blogspot.com. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2013. 
  35. ^ “Pacific Rim: Man, Machines, and Monsters [Hardcover]”. Amazon.com. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2013. 
  36. ^ “Ron Perlman Has Your Pacific Rim Kaiju Remedies Right Here!”. dreadcentral.com. 2 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2013. 
  37. ^ “Youtube: Pacific Rim – Training Day”. Maker Studios. 12 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. 
  38. ^ Pacific Rim: The Official Movie Novelization: Alexander Irvine: 9781781166789: Amazon.com: Books”. amazon.com. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2013. 
  39. ^ Picard, Chris (7 tháng 6 năm 2013). “Exclusive: First Look at Finished NECA Pacific Rim Figures!”. Scified.com. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2013. 
  40. ^ Pacific Rim game revealed”. GameSpot. 
  41. ^ Pacific Rim for Xbox360”. Metacritic. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2013. 
  42. ^ Pacific Rim for iPhone”. Metacritic. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2013. 
  43. ^ “New Releases for the Week of Oct 1”. vudu.com. 2 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2013. 
  44. ^ Picard, Chris (5 tháng 9 năm 2013). “Own Pacific Rim on BluRay and DvD October 15th!”. Scified.com. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2013. 
  45. ^ “Pacific Rim Collector's Edition (Blu-ray 3D + Blu-ray + DVD +UltraViolet Combo Pack) (2013)”. 
  46. ^ Tehee, Joshua (15 tháng 10 năm 2013). “Fresno Swede Fest founders help pitch 'Pacific Rim' DVD”. The Fresno Bee. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2013. 
  47. ^ Pacific Rim - Box Office Data, DVD and Blu-ray Sales, Movie News, Cast and Crew Information. The Numbers. Retrieved on 2014-06-05.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Guillermo del Toro