Siêu đại chiến

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Siêu đại chiến
Áp phích chiếu rạp của phim tại Việt Nam
Thông tin phim
Đạo diễn Guillermo del Toro
Sản xuất
Kịch bản
Cốt truyện Travis Beacham
Diễn viên
Âm nhạc Ramin Djawadi
Quay phim Guillermo Navarro
Dựng phim
Hãng sản xuất
Phát hành Warner Bros. Pictures
Công chiếu
  • 1 tháng 7, 2013 (2013-07-01) (Thành phố México)
  • 12 tháng 7, 2013 (2013-07-12) (Mỹ)
  • 19 tháng 7, 2013 (2013-07-19) (Việt Nam)
Độ dài 132 phút[1]
Quốc gia Mỹ[2]
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Kinh phí 190 triệu USD[3]
Doanh thu 411 triệu USD[3]

Siêu đại chiến (tên gốc tiếng Anh: Pacific Rim) là một phim điện ảnh quái vật khoa học viễn tưởng của Mỹ năm 2013 do Guillermo del Toro đạo diễn, với sự tham gia của dàn diễn viên gồm Charlie Hunnam, Idris Elba, Rinko Kikuchi, Charlie Day, Burn Gorman, Robert Kazinsky, Max MartiniRon Perlman. Phần kịch bản được chấp bút bởi Travis Beacham và del Toro từ phần cốt truyện gốc của Beacham. Phim được lấy bối cảnh trong tương lai gần, khi Trái đất bị tấn công bởi Kaiju,[a] loài quái vật khổng lồ xuất hiện từ một cổng không gian nằm sâu dưới đáy biển Thái Bình Dương. Để chiến đấu với chúng, loài người đã hợp sức và tạo ra các Jaeger,[b] những phương tiện máy móc khổng lồ hình người được lái bởi hai người điều khiển được kết nối với nhau thông qua một cầu nối thần kinh. Tập trung vào những ngày sau của cuộc chiến, câu chuyện xoay quanh Raleigh Becket, một cựu điều khiển viên Jaeger được triệu tập để hợp tác với tân binh Mako Mori trong những nỗ lực cuối cùng nhằm tiêu diệt giống loài Kaiju.

Quá trình quay phim chính được bắt đầu từ ngày 14 tháng 11 năm 2011 tại Toronto và diễn ra đến tháng 4 năm 2012. Siêu đại chiến do hãng Legendary Pictures sản xuất và Warner Bros. chịu trách nhiệm phân phối. Phim được công chiếu vào ngày 12 tháng 7 năm 2013 tại Mỹ dưới định dạng 3DIMAX 3D và đã nhận được nhiều hiệu ứng tích cực từ giới phê bình điện ảnh, đặc biệt nhấn mạnh về hiệu ứng kỹ xảo, các phân cảnh hành động và phong cách tiếc thương quá khứ. Dù không đạt nhiều thành công về doanh thu phòng vé tại Mỹ, Siêu đại chiến lại tạo ra nhiều đột phá tại các thị trường ngoại địa.[8] Phim thu về tổng cộng 411 triệu USD toàn cầu—với 114 triệu USD trong số đó đến từ Trung Quóc—trở thành phim điện ảnh đạt doanh thu thành công nhất trong sự nghiệp của đạo diễn Del Toro.

Phần phim tiếp theo có tựa đề Pacific Rim: Trỗi dậy do Steven S. DeKnight đạo diễn và Del Toro sản xuất, với sự trở lại của ba diễn viên Kikuchi, Day và Gorman và hãng Universal Pictures thay thế vai trò phân phối của Warner Bros. được ra mắt vào ngày 23 tháng 2 năm 2018.[9][10]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2013, những quái vật khổng lồ tên là Kaiju đã tới Trái đất thông qua một cổng dịch chuyển không gian được gọi là "Lỗ hổng" nằm ở dưới đáy của biển Thái Bình Dương. Trong khoảng thời gian ba năm, loài Kaiju đã tàn phá các thành phố biển nằm trên Vành đai lửa Thái Bình Dương như San Francisco, San José del Cabo, Sydney, ManilaHong Kong. Loài người đã tạo nên những người máy khổng lồ được gọi là Jaeger nhằm đối đầu với mối đe dọa từ ngoài hành tinh. Mỗi Jaeger đều được điều khiển bởi hai người được kết nối với nhau thông qua một cầu nối thần kinh để chia sẻ mức sóng thần kinh cực lớn.

Năm 2020, Jaeger Gipsy Danger do hai anh em Raleigh và Yancy Beckett điều khiển đã bảo vệ cho thành phố Anchorage khỏi sự tấn công của một Kaiju mang mã danh Knifehead. Sau khi Gipsy đánh bại Kaiju, cả hai người không hề biết rằng con Kaiju đó vẫn còn sống và phục kích họ, gây hư hại nặng nề cho Gipsy đồng thời ném Yancy ra khỏi buồng điều khiển và giết chết anh. Raleigh sau đó phải điều khiển Gipsy một mình. He then activates the remaining plasma cannon và ghết Knifehead. Bị ám ảnh bởi cái chết của Yancy, Raleigh đã từ bỏ Chương trình Jaeger. Năm 2025, các chính phủ trên thế giới quyết định ngừng trợ cấp cho việc lắp ráp các Jaeger, nhằm tập trung vào việc xây dựng các bức tường khổng lồ ở ven biển, tuy nhiên các Kaiju ngày một mạnh hơn, chúng tấn công thường xuyên hơn và các Jaeger bị phá hủy còn nhanh hơn là được lắp ráp. Các Jaeger còn lại được chuyển tới Hong Kong dưới sự chỉ huy của Chỉ huy Stacker Pentecost, người đang có kế hoạch phá hủy Lỗ hổng bằng vũ khí hạt nhân.

Pentecost gặp cựu phi công jaeger Raleigh Becket (Hunnam) thuyết phục anh trở lại và điều khiển Gipsy Danger. Về đến Hồng Kông, Raleigh được kết hợp với phi công phụ để tìm một phi công với một kết nối mạnh mẽ, kết nối càng mạnh, hiệu suất của các phi công trong trận chiến tốt hơn. Cảm nhận một kết nối mạnh mẽ, Raleigh đòi hỏi để được hợp tác với Mako Mori (Kikuchi), giám đốc của dự án nâng cấp Jaeger. Pentecost phản đối vì Mako là con gái nuôi của ông, nhưng cuối cùng ông đổi ý. Ban đầu chạy thử nghiệm của họ gần như kết thúc trong thảm họa khi Mako trở nên chìm sâu trong ký ức thời thơ ấu: một cuộc tấn công kaiju đã biến cô thành trẻ mồ côi, vì quá đấm chìm trong ký ức tuổi thơ cô vô tình kích hoạt vũ khí của Gipsy Danger trong khi vẫn đang trong khoang chứa. Ngay sau đó, hai Jaeger là Crimson TyphoonCherno Alpha được giao nhiệm vụ chống lại một cuộc tấn công kép của kaiju tại Hồng Kông. Tình hình trở nên xấu đi khi hai con kaiju phá hủy Crimson TyphoonCherno Alpha và vô hiệu hóa luôn cả Striker Eureka. Pentecost đành phải cho Raleigh và Mako cùng kết nối để điều khiển với Gipsy Danger, chiếc Jeager duy nhất còn lại.

Trong khi đó, Newton Geiszler (một nhà khoa học nghiên cứu về kaiju) lắp ráp một máy cho phép anh ta kết nối thần kinh với một mảnh não kaiju. Việc đó rất nguy hiểm và suýt giết chết anh, nhưng anh phát hiện ra kaiju không phải là những con thú hoang dã, chúng là vũ khí sinh học chiến đấu theo lệnh của một chủng tộc người ngoài hành tinh xâm lược. Với sự chấp thuận của Pentecost, anh tìm ra Hannibal Chau, trùm buôn lậu các bộ phận kaiju, để mua một bộ não kaiju nguyên vẹn và lặp lại thí nghiệm. Chau suy luận rằng kaiju đang tìm kiếm Geiszler ở Hồng Kông, vì thí nghiệm của ông đã thu hút sự chú ý của chúng, vì liên kết thần kinh là hai chiều và kaiju có một thần kinh giống tổ ong. Sau khi Gipsy Danger giết chết cả hai kaiju, Chau và đội của ông ta thu hoạch các bộ phận. Geiszler nhận ra một kaiju đang mang thai. Con ấu thú kaiju thoát ra ngoài nhưng chết non, tuy nhiên trước khi chết đó đã kịp tấn công và nuốt sống Hannibal Chau. Geiszler và đồng nghiệp Hermann Gottlieb kết nối với bộ não nguyên vẹn của con kaiju con và khám phá ra rằng cánh cổng chỉ mở cho ADN của kaiju, đó là lý do tại sao tất cả các nỗ lực tấn công trước đó để phá hủy nó đều thất bại.

Lúc này Pentecost đang chỉ huy cuộc tấn công vào cảnh cổng nối giữa hai thế giới năm ở dưới đáy Thái Bình Dương, hiện được bảo vệ bởi ba con kaiju. Hai jaeger còn lại tham gia cuộc tấn công là: Striker Eureka mang theo bom hạt nhân (để phá hủy cách cổng) được điểu khiển bởi Stacker Pentecost và Chuck Hansen, Gipsy Danger điểu khiển bởi Raleigh Becket và Mako Mori. Trong cuộc chiến với kaiju ở dưới biển Thái Bình Dương, 2 kaiju đã làm cho Striker Eureka bị hỏng nặng nên không thể đưa được bom hạt nhân vào trong cánh cổng theo kế hoạch, Pentecost bèn ra lệnh cho Raleigh và Mako dùng chính lò hạt nhân của Gipsy Danger để kích nổ cánh cổng. Sau đó, Pentecost và Chuck đã hi sinh khi kích nổ quả bom hạt nhân mang trên người của Striker Eureka để dòn đường cho Gipsy Danger tiến vào. Với phát hiện của Geiszler và Gottlieb, Raleigh và Mako lấy theo xác của con kaiju đã bị Pentecost và Chuck giết để tiến vào cánh cổng. Sau khi thành công vào được bên trong, Raleigh đã đưa Mako vào khoang cứu hộ và đẩy ra khỏi Gipsy Danger trồi lên mặt biển Thái Bình Dương, sau đó anh khởi động quy trình kích nổ lò phản ứng của Gipsy Danger bằng tay rồi cũng thoát đi bằng khoang cứu hộ. Lò hạt nhân của Gipsy Danger phát nổ ở thế giới của kaiju, phá hủy cánh cổng liên kết hai thế giới. Cả Mako và Raleigh đều sống sót nổi lên mặt nước biển Thái Bình Dương.

Trong một đoạn hậu cảnh, Hanibal Chau dùng dao cắt để thoát ra khỏi bụng ấu thú kaiju.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Các phi công điều khiển Jaeger khác bao gồm ba anh em Charles Lưu, Lance Lưu và Mark Lưu trong vai bộ ba Wei Tang (Trung Quốc), và Robert Maillet cùng Heather Doerksen vai Sasha và Aleksis Kaidanovsky (Nga). Joe Pingue và vai Thuyền trưởng Merrit, thuyền trưởng của chiếc tàu cá bị bắt trong trận thủy chiến giữa Jaeger và Kaiju. Santiago Segura vào vai một phụ tá của Hannibal Chau.[11] Brad William HenkeLarry Joe Campbell vào vai thành viên của đội xây dựng mà Raleigh đã tham gia sau khi rời khỏi Pan Pacific Defense Corps. Robin Thomas, Julian Barnes, và David Richmond-Peck vào vai ba người đại diện của Liên Hiệp Quốc đến từ Mỹ, Đảo Anh và Canada. Sebastian Pigott xuất hiện trong vai một kỹ sư Jaeger và Joshua Peace vào vai một nhân viên văn phòng, còn Jonathan Foxon thì vào vai một thường dân quá khích. David Fox đảm nhiệm vai diễn ông già trên bờ biển, còn Jane Watson thì vào vai mẹ của Raleigh và Yancy trong một phân cảnh hồi tưởng.[12][13][14] Nhà sản xuất Thomas Tull cũng xuất hiện trong phim với một vai diễn khách mời.[15]

Chủ đề[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bộ phim, một người thường không thể đáp ứng được hệ thống thần kinh của một Jaeger, có nghĩa rằng họ phải được kết nối với một người điều khiển khác—một quá trình được gọi là "drifting". Khi hai người điều khiển được kết nối, họ nhanh chóng biết được ký ức và cảm xúc của người còn lại, và không có cách nào khác ngoài việc phải chấp nhận chúng; del Toro cho rằng ý tưởng này vô cùng ấn tượng, hấp dẫn và thuyết phục. Vị đạo diễn bày tỏ chủ đích mang phép ẩn dụ này gắn với thực tế:

Các câu chuyện nhỏ của những người điều khiển lại chính là một điểm tất yếu, rằng chúng ta đều đang nằm trong cùng một người máy [trong cuộc sống]… Dù chúng ta có đứng lên hay bỏ mạng. Tôi không muốn điều này trở thành một quảng cáo chiêu mộ hay một thứ gì đó hiếu chiến. Ý tưởng của bộ phim chỉ là về việc chúng ta phải tin tưởng lẫn nhau, vượt qua mọi lằn ranh của màu da, giới tính, đức tin, và mọi thứ, và hãy gắn bó với nhau.

Del Toro thừa nhận sự đơn giản của thông điệp này, và cũng nói rằng anh muốn xem những bộ phim phiêu lưu có tinh thần tương tự khi anh còn là một đứa trẻ.[16] Mười diễn viên chính trong phim đều có "little arcs" có ích cho ý tưởng này; del Toro bình luận: "Tôi nghĩ đây là một thông điệp tuyệt vời cho trẻ em... 'Cái gã mà bạn vừa đánh gục mười phút trước? Đó chính là cái gã mà bạn phải làm việc cùng vào năm phút sau.' Đó chính là cuộc sống... Chúng ta sẽ chỉ hoàn thành khi chúng ta làm việc cùng nhau."[17]

Nội dung phim tập trung vào mối quan hệ giữa Becket và Mori, nhưng lại không phải là một câu chuyện tình cảm như thường lệ. Cả hai đều là những con người bị thương tổn về mặt tinh thần và quyết định để quá khứ của mình ngủ yên. Trong thời gian luyện tập điều khiển Jaeger, họ đã trải qua quá trình "opening up", đi vào trong những suy nghĩ, hồi ức và bí mật của người kia. Mối quan hệ của họ là một mối quan hệ tôn trọng lẫn nhau và tin tưởng nhau tuyệt đối. Hunnam bình luận rằng bộ phim là "một câu chuyện tình mà không có một câu chuyện tình nào cả. Nó nói về tất cả các yếu tố cần thiết cho tình yêu mà không cần phải chạm đến ngưỡng của tình yêu".[18][19] Cả hai nhân vật Becket và Mori đều đã trải qua những nốt trầm của riêng mỗi người; một trong những ý tưởng trọng tâm của kịch bản chính là về việc hai con người bị thương tổn có thể hòa vào nhau làm một, với các mảnh ghép còn thiếu được kết nối với nhau như một trò chơi xếp hình.[20] Del Toro cũng nhấn mạnh những cảm xúc thân mật của các nhân vật bằng cách thực hiện các cảnh quay tập luyện chiến đấu của họ theo cách mà anh sẽ quay các cảnh tình dục.[21]

Del Toro, tự nhận mình là một người theo chủ nghĩa hòa bình, đã tránh những thứ mà anh gọi là "thẩm mỹ buôn bán xe hơi" hay "thẩm mỹ video chiêu quân", và gắn cho nhân vật của mình các thứ bậc phương Tây như "marshal" hay "ranger" thay vì các cấp bậc quân đội như "đại úy", "thiếu tá" hay "đại tướng". Vị đạo diễn nói: "Tôi tránh việc tạo ra các thể loại thông điệp mang ý nghĩa rằng chiến tranh là điều đúng đắn. Chúng ta đã có đủ hỏa lực trên thế giới này rồi."[22] Del Toro không muốn tạo ra những cảnh quay về những cái chết và sự tàn phá khủng khiếp ở trong các phim điện ảnh bom tấn hiện đại, anh muốn trình ra hình ảnh các con phố và tòa nhà đang được sơ tán trước khi bị Kaiju tấn công, và anh cũng cho rằng việc miêu tả những hình ảnh tàn phá kia là "vô cùng tàn nhẫn". Vị đạo diễn phát biểu:

Tôi không muốn con người ta bị bóp nát. Tôi muốn cái sự hân hoan mà tôi từng có khi nhìn thấy Godzilla tung cả cái xe tăng lên mà không thèm nghĩ đến việc có người đang ở trong chiếc xe tăng ấy… Điều mà tôi muốn nói chính là bạn không thể làm bất cứ điều gì ngoài kêu la khi bạn ở trong tình cảnh đó. Có nhiều băn khoăn về sự mỏng manh của status quo và sự an toàn của người dân, nhưng trong tâm trí tôi—thật lòng mà noí—bộ phim này như một thế giới khác vậy. Không có bất cứ sự tương quan nào với thế giới thực. Chẳng cần phải sợ việc Kaiju tấn công bị sao chép bởi vì một Kaiju sẽ đọc được nó trên báo và nói, "Mình sẽ hủy diệt Seattle." Trong trường hợp của tôi, tôi sẽ làm theo cách truyền thống. Nó sẽ diễn ra ngay sau Thế chiến II và là một cỗ máy bắt chước, theo một cách, để Nhật Bản có thể chữa lành các vết thương chiến tranh.Và thật là toàn bộ khi để Kaiju nổi giận trong thành phố đó.[23]

Viết cho tờ Los Angeles Review of Books, Wai Chee Dimock kết nối chủ đề chính của phim về sự thống nhất to với hình ảnh lặp lại về chiếc giày mất tích, cho rằng "giấc mơ không tưởng" đang dẫn dắt các nhân vật là

những con người yếu đuối như chúng ta lại có thể "thống nhất"—không chỉ ở trong quá kinh kết nối thần kinh diễn ra giữa hai người điều khiển Jaeger mà cũng, nói một cách bao quát hơn, trong một mạng phân dạng fractal web của sự giống nhau, lấp đầy thế giới với những bản sao của chính mình và với tầm quan trọng được sắp xếp phong phú và với các cấp độ tái biểu cảm phong phú, bắt đầu từ đôi giày dưới chân chúng ta.[24]

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 2 năm 2006, các nguồn tin xác nhận Guillermo del Toro sẽ tham gia đạo diễn cho kịch bản phim kỳ ảo Killing on Carnival Row của Travis Beacham, nhưng dự án này chưa bao giờ được thực hiện.[25] Beacham sau đó đã thai nghén Siêu đại chiến trong năm tiếp theo. Trong lúc đi dạo ven bờ biển gần Santa Monica Pier, anh đã tưởng tượng ra cảnh một người máy và một quái vật khổng lồ đang chiến đấu với nhau đến chết. "Chúng chỉ chợt hiện ra trong đám sương mù, những thứ khổng lồ, thần thánh ấy." Ý tưởng về việc mỗi người máy đều được điều khiển bởi hai phi công dần được hình thành sau đó, và rồi câu hỏi được đặt ra là "điều gì sẽ xảy ra nếu như hai người đó đều hi sinh?" Quyết định rằng đây sẽ là "một câu chuyện về sự mất mát, và việc bước tiếp sau mất mát, và chiến đấu với tội lỗi của người sống sót", Beacham đã bắt tay vào thực hiện phần kịch bản cho phim.[26] Ngày 28 tháng 5 năm 2010, báo chí đưa tin hãng Legendary Pictures đã mua lại một bản truyện phim chi tiết dài 25 trang của Beacham với tiêu đề Siêu đại chiến.[27]

Ngày 28 tháng 7 năm 2010, del Toro được xác nhận sẽ ngồi ghế đạo diễn cho phiên bản phim chuyển thể từ tác phẩm At the Mountains of Madness của cố nhà văn H. P. Lovecraft cho hãng Universal Studios, với James Cameron tham gia vào quá trình sản xuất.[28] Khi del Toro bàn bạc với Legendary Pictures về khả năng được hợp tác với hãng trong một bộ phim, ông bị hấp dẫn bởi bản truyện phim chi tiết của Beacham.[29] Del Toro đã ký một hợp đồng với hãng Legendary: trong thời gian đạo diễn cho At the Mountains of Madness, ông sẽ tham gia sản xuất và đồng biên kịch cho Siêu đại chiến; và bởi vì lịch sản xuất của cả hai phim điện ảnh này khá trùng nhau với nhau, ông sẽ chỉ nhận ghế đạo diễn của Siêu đại chiến khi dự án At the Mountains of Madness bị hủy bỏ.[30]

Ngày 7 tháng 3 năm 2011, tin tức cho biết hãng Universal không thể tiếp tục thực hiện At the Mountains of Madness do del Toro không thể dàn xếp được dự án với 150 triệu USD kinh phí và nhãn phim R.[31][32] Del Toro sau đó đã phản ứng, "Khi điều đó xảy ra, nó chưa từng xảy ra đối với tôi trước đây, nhưng tôi thực sự đã khóc rất nhiều suốt cả cuối tuần ấy. Tôi không muốn mình trông như một linh hồn bé bỏng, nhưng tôi cảm thấy bị hủy diệt. Tôi đã khóc rất nhiều cho bộ phim ấy."[33] Dự án bị hủy bỏ vào thứ sáu, và del Toro ký hợp đồng đạo diễn cho Siêu đại chiến vào ngày thứ hai liền kề.[34]

Del Toro đã bỏ ra một năm để làm việc với Beacham cho phần kịch bản, và được công nhận là một nhà đồng biên kịch của phim. Ông giới thiệu các ý tưởng mà ông vẫn luôn muốn được thấy ở thể loại phim này, ví dụ như cách Kaiju sinh nở và cảnh Kaiju tấn công nhìn từ con mắt của một đứa trẻ.[21] Phần kịch bản cũng được viết lại bởi Neil Cross, người trước đó từng tạo ra loạt phim truyền hình Luther và là tác giả của phim kinh dị Mẹ ma mà del Toro tham gia sản xuất, dù vậy, vai trò của Cross trong Siêu đại chiến không được ghi chú lại.[35] Drew Pearce cũng thực hiện một vài vai trò không được ghi chú cho kịch bản phim.[36]

Quay phim[sửa | sửa mã nguồn]

Công tác quay phim bắt đầu được diễn ra từ ngày 14 tháng 11 năm 2011[37] và tiếp tục diễn ra tại Toronto cho tới tháng 4 năm 2012.[38] Del Toro cập nhật về quá trình quay phim sau hai tuần phim đóng máy.[39] Phim được gọi bằng hai tên Silent SeasStill Seas trong suốt quá trình sản xuất.[40]

Del Toro chưa bao giờ quay một phim điện ảnh trong dưới 115 ngày, nhưng với Siêu đại chiến ông chỉ mất 103 ngày. Nhằm đạt được thành tích này, del Toro đã phải làm việc từ 17 đến 18 tiếng mỗi ngày, và bảy ngày một tuần trong hầu hết thời gian quay. Del Toro có một cách tiếp cận mới trong việc chỉ đạo các diễn viên, cho phép những cử động và ứng khẩu mềm mại hơn; ông vẫn giữ vững sự kiểm soát chặt chẽ cho quá trình sản xuất, "Mọi thứ, 100% đều qua tôi dù sớm hay muộn. Tôi không ủy thác bất cứ thứ gì. Nhiều người thích điều này, nhiều người không, nhưng mọi thứ phải được thực hiện theo cách đó."[41]

Siêu đại chiến được quay bằng máy quay Red Epic.[42] Lúc đầu Guillermo del Toro quyết định sẽ không quay hoặc chuyển đổi bộ phim sang định dạng 3D do các hiệu ứng sẽ không hoạt động với kích cỡ của các người máy và quái vật trong phim, ông giải thích,

Tôi không muốn thực hiện bộ phim dưới định dạng 3D bởi vì khi bạn có những nhân vật khổng lồ như thế… mọi thứ xảy ra rất tự nhiên, bạn đang nhìn vào hai tòa nhà cứ cho là cao 300 feet [đằng xa] đi, nếu bạn chuyển động sẽ không có thị sai. Chúng to đến nỗi, dưới định dạng 3D, bạn khó có thể nhận biết được bất cứ thứ gì cho dù bạn có chuyển động nhanh đến mức nào… Muốn áp dụng hiệu ứng 3D cho những người máy và quái vật to lớn tức là bạn đang thu nhỏ phối cảnh lại, khiến chúng mang kích cỡ của con người.[43]

Sau đó phim được xác nhận sẽ được công chiếu dưới định dạng 3D, với công tác chuyển đổi diễn ra 40 tuần dài hơn so với các phim khác. Del Toro phát biểu, "Tôi có thể nói gì với bạn bây giờ? Tôi đã nghĩ lại rồi. Tôi không thể làm việc cho văn phòng. Tôi có thể làm như Romney."[44]

Del Toro đã cắt đi gần một tiếng đồng hồ của phim. Các cảnh phim không được sử dụng chủ yếu giới thiệu sâu hơn vào các nhân vật và vai trò của họ một cách chi tiết hơn, tuy nhiên vị đạo diễn cho rằng những cảnh đó là không cần thiết, "Chúng ta không thể cứ giả vờ rằng đây là Ibsen với một đống quái vật và người máy khổng lồ. Tôi không thể cứ giả vờ rằng mình đang thực hiện một bản chiếu uyên bác của loài người." Mỗi phân cảnh về các nhân vật đều được biên tập lại về mức cho phép tối thiểu.[17] Del Toro muốn bộ phim chỉ dài khoảng hai tiếng, phù hợp với đối tượng người xem trẻ tuổi hơn. Alejandro González IñárrituAlfonso Cuarón đã giúp thực hiện phần dựng phim; Iñárritu đã cắt đi mười phút cảnh phim, và Cuarón thì cắt đi "một vài phút" và sắp xếp lại một vài phân cảnh.[45] Cả Iñárritu và Cuarón, cùng với James CameronDavid Cronenberg, đều nhận được một "lời cảm ơn đặc biệt" ở phần credit cuối của phim.[46]

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo diễn del Toro lấy ý tưởng phim từ kiệt tác Người khổng lồ của danh họa người Ý Francisco Goya.[29]

Del Toro đã mường tượng trong đầu rằng Siêu đại chiến sẽ là một chuyến phiêu lưu thành thật và đầy màu sắc, với một "cảm giác thoải mái và nhẹ nhàng không ngờ tới", trái ngược với "một bộ phim hè siêu bao trùm, siêu tối tăm, đầy hoài nghi". Vị đạo diễn tập trung vào "những hình ảnh to, đẹp và phức tạp", và những cảnh hành động sẽ làm hài lòng khán giả lớn tuổi, nhưng đồng thời ông cũng kỳ vọng sẽ có thể giới thiệu loài Kaiju và thể loại phim người máy đến với thế hệ trẻ nhỏ.[47] Và do đánh mạnh vào thể loại này, Siêu đại chiến cũng tránh được những sự so sánh đối với các phim đã từng phát hành. Del Toro định tạo ra một bộ phim nguyên bản nhưng có tầm ảnh hưởng rộng, thấm nhuần "vẻ đẹp sử thi" và "sự hùng vĩ đầy ca kịch".[48] Đoạn credit cuối đã đề tặng bộ phim này cho Ray HarryhausenHonda Ishirō, những người đã tiên phong gắn kết thể loại quái vật không lồ với điện ảnh qua hai bộ phim The Beast from 20,000 FathomsGodzilla.[49]

Siêu đại chiến vừa là lời tri ân đến dòng phim người máy và Kaiju, vừa có thể tự đứng riêng làm một phim điện ảnh nguyên bản, một thứ gì đó "mang ý thức về di sản, nhưng không phải là sự cóp nhặt hay tuyển tập của mọi thứ". Đạo diễn del Toro đã tuân theo quy chuẩn này từ khi phim còn nằm trên bản thảo, ông không hề mô phỏng hay tham khảo bất kỳ khuôn mẫu đi trước nào của thể loại phim này. Đạo diễn đã nhắc nhở các nhà thiết kế không được lấy các bộ phim như Gamera: The Giant Monster, Godzilla hay The War of the Gargantuas làm nguồn cảm hứng, "Tôi không muốn bộ phim trở nên hậu hiện đại, hoặc mang tính tham khảo, hoặc chỉ thuộc về một thể loại. Tôi thực sự muốn tạo ra một cái gì đó mới mẻ, một cái gì đó cuồng loạn vì những thứ này. Tôi cố gắng mang vẻ đẹp sử thi vào trong nó, và kịch nghệ và cả sự hùng vĩ đầy ca kịch."[48][50] Thay vì văn hóc đại chúng, ông lấy ý tưởng từ các tác phẩm nghệ thuật như Người khổng lồ của danh họa người Ý Francisco de Goya và các bức vẽ quyền Anh của George Bellows.[29][51] Các nhà thiết kế của phim bao gồm Wayne Barlowe, Oscar Chichoni, hai nhà điêu khắc quái vật David Meng và Simon Lee, cùng nhà thiết kế của Quỷ đỏ II: Binh đoàn địa ngụcNgười Hobbit Francisco Ruiz Velasco.[29] Del Toro cũng thừa nhận rằng một số thiết kế cho dự án chuyển thể cuốn tiểu thuyết At the Mountains of Madness vốn đã bị hủy bỏ của anh có thể sẽ được sử dụng trong Siêu đại chiến.[21]

Tổng cộng gần một trăm Kaiju và một trăm Jaeger đã được thiết kế, nhưng chỉ một vài mẫu trong số đó được xuất hiện trên phim; cứ mỗi tuần các nhà làm phim lại "làm một buổi American Idol" và bình chọn ra mẫu thiết kế đẹp nhất.[4] Trong quá trình thiết kế Kaiju, các họa sĩ của phim thường lấy ý tưởng từ thiên nhiên hơn là từ các tác phẩm đi trước. Đạo diễn del Toro bình luận: "Về bản chất, Kaiju vô cùng kì dị theo một cách, nhưng theo một cách khách chúng lại luôn theo một bầy đàn: bạn sẽ thấy một Kaiju bò sát, một Kaiju côn trùng, hay một Kaiju giáp xác… Vì vậy nên quá trình đưa một bản thiết kế kì dị tới việc biến nó thành một loài động vật có giải phẫu và chi tiết thật sự vô cùng thú vị."[5] Del Toro cố tránh việc tạo ra một loài Kaiju quá tương đồng với một sinh vật trên Trái Đất, mà thay vào đó sẽ sáng tạo chúng trở thành một giống loài ngoài hành tinh.[52] Del Toro gọi loài Kaiju trong phim là "những vũ khí", đồng thời ví chúng như "đội ngũ dọn dẹp, hay bọn mèo được đem tới các nhà kho để dọn sạch lũ chuột." Một vài chi tiết thiết kế nhất định sẽ được xuất hiện trên mọi Kaiju; đây là chủ đích để thể hiện việc chúng đều có kết nối với nhau và được thiết kế với chung một mục đích.[30] Mỗi Kaiju đều được gắn cho một tính cách con người để gợi lại tính thẩm mỹ trong các phim điện ảnh Kaiju cũ của Nhật Bản.[6] Trong khi các phim điện ảnh khác của del Toro đều có sự xuất hiện của các quái vật cổ mang nhiều thương tích, thì bề ngoài Kaiju có ít các vết sẹo hay các di chứng từ các nền văn minh đi trước hơn, điều này nhằm minh chứng rằng chúng là những sáng tạo kỹ thuật chứ không phải là kết quả của một hệ thống tiến hóa.[52]

Knifehead, quái Kaiju đầu tiên xuất hiện trong phim, là một lời tri ân đến loài kaiju ì ạch trong phim điện ảnh Nhật Bản những năm 1960, và được chủ ý tạo hình cho giống với một bộ đồ quái vật bằng cao su có người đóng ở bên trong; với phần đầu được lấy cảm hứng từ đầu của loài cá mập yêu tinh.[17] Phần da lưng của Kaiju với khả năng phóng điện từ chính là thứ mà del Toro thích nhất, ông gọi nó là một "kẻ gắt gỏng với cả một bụng bia"; chuyển động lê lết của gorilla được sử dụng làm hình ảnh tham khảo.[53] Quái Kaiju Otachi là sự tôn kính đối với loài rồng của thần thoại Trung Quốc. Vị đạo diễn gọi đây là một "con dao quân dụng Thụy Sĩ của một Kaiju"; với gần 20 phút lên hình, Kaiju này được gắn với nhiều hình dạng khác nhau để khán giả không bị chán nản. Nó chuyển động như loài rồng Komodo trong nước, phô ra nhiều răng nanh và túi cổ chứa axit, và đôi cánh giang ra khi cần.[4] Otachi cũng thông minh hơn các Kaiju khác, phát triển cả một chiến lựoc để chống lại các Jaeger.[53] Onibaba, quái Kaiju đã khiến Mako Mori trở thành trẻ mồ côi, lấy ý tưởng từ các ngôi đền của Nhật và loài giáp xác.[53] Slattern, Kaiju lớn nhất, thì dễ được nhận ra hơn do có một chiếc cổ siêu dài và cái đầu "nửa sừng, nửa vương miện" mà del Toro cho là vừa quỷ quái vừa lẫm liệt.[53]

Gipsy Danger, Jaeger đến từ Mỹ, được dựa trên hình dáng của các tòa nhà theo trường phái Art DecoThành phố New York như Tòa nhà Chrysler hay Tòa nhà Empire State, nhưng đồng thời cũng thấm nhuần chuyển động hông và dáng đi xạ thủ của John Wayne. Cherno Alpha, Jaeger đến từ Nga, được dựa theo hình dáng và họa tiết sơn trên xe tăng dòng T của Nga, kết hợp với một silo chứa khổng lồ nhằm tạo diện mạo của một nhà máy điện hạt nhân sống với tháp giải nhiệt đặt trên đầu.[4] Crimson Typhoon, Jaeger ba tay từ Trung Quốc được điều khiển bởi ba người, có hình dáng mô phỏng một "chiến binh nhỏ thời Trung cổ"; phần họa tiết của Jaeger này gợi đến gỗ sơn mài Trung Quốc với các gờ mạ vàng.[53] Striker Eureka, Jaeger của Úc, được del Toro phỏng theo xe hơi của Land Rover; đây là Jaeger thanh lịch và nam tính nhất với phần ngực nở, lớp sơn ngụy trang gọi nhớ tới vùng rừng núi Úc, và sự can đảm của những phi công điều khiển Jaeger này.[53] Trang phục của các phi công điều khiển Jaeger trong phim đều do Shane Mahan và Kate Hawley thiết kế trong nhiều tháng. Bộ đồ phi công Nga được thiết kế theo phong cách cũ và gợi tới các bộ đồ của phi hành gia.[29]

Kỹ xảo[sửa | sửa mã nguồn]

Công ty Industrial Light & Magic đã được gửi gắm để thực hiện phần kỹ xảo cho Siêu đại chiến. Del Toro đã thuê hai chuyên viên kỹ xảo từng đoạt giải Oscar, John KnollHal T. Hickel, cả hai đều được biết đến với vai trò tương tự trong bộ ba tiền truyện Chiến tranh giữa các vì sao và loạt phim Cướp biển vùng Caribbean. Shane Mahan, đồng sở hữu của công ty Legacy Effects, được biết đến với tác phẩm bộ giáp sắt trong Người Sắt, được nhắm đến cho công việc xây dựng bộ giáp, mũ giáp và khu điều khiển Conn-Pod.[54] Họa sĩ kỹ xảo từng thắng giải Oscar Clay Pinney, vốn được biết đến với các công trình trong Independence DayStar Trek, cũng được mời đảm nhiệm phần kỹ xảo cho phim. Công ty công nghệ Hybride Technologies, một phân ban của Ubisoft, và Rodeo FX cũng có những đóng góp nhất định cho phần kỹ xảo.[55][56]

Đạo diễn del Toro sử dụng các tác phẩm nghệ thuật cổ điển như bức tranh in mộc bản Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa của họa sĩ Hokusai làm tài liệu tham khảo cho các cảnh thủy chiến trong phim.

Del Toro quan điểm bộ phim này như một công trình opera:

Đây là một trong những lời đầu tiên mà tôi nói với các nhân sự tại ILM. Tôi đã nói, "Bộ phim này cần phải thật kịch trường, ca kịch và lãng mạn." Chúng tôi sử dụng những từ ngữ không hay đi liền với những bom tấn công nghệ cao… Chúng tôi đi những bảng màu rất, rất, rất, rất bão hòa cho trận chiến ở Hong Kong. Tôi vẫn luôn bảo John phải nghĩ về cái chất Mexico bên trong anh và phải bão hòa được những sắc lục và tìm và hồng và cam.

Bức tranh in mộc bản Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa của họa sĩ ukiyo-e Hokusai là một mô típ chung cho các trận thủy chiến trên biển; Del Toro nhắc lại, "Tôi sẽ nói là 'Hãy cho tôi một cơn sóng Hokusai'… chúng tôi sử dụng thời tiết và những cơn sóng trong phim một cách rất ca kịch."[57] Vị đạo diễn cũng bảo Knoll rằng anh không nhất thiết phải khớp các ánh sáng từ cảnh quay này tới cảnh quay kia: "Sẽ thật là không chính thống khi làm điều đó, nhưng tôi nghĩ kết quả sẽ thật đẹp, thật phi nghệ thuật và mạnh mẽ, chứ không phải là những thứ mà bạn sẽ liên tưởng đến khi nhắc tới một bộ phim hành động khoa học viễn tưởng lớn." Del Toro cho rằng phần nước biển kỹ thuật số của phim là phần kỹ xảo gây phấn khích nhất, "Thủy động lực của nước trong phim thực sự rất đẹp, và cũng thật xúc cảm một cách nghệ thuật và khó tin. Chúng tôi đã thống nhất trong việc biến nước gần như trở thành một nhân vật hoàn chỉnh. Chúng tôi tính toán với nước vô cùng chính xác. Tôi sẽ nói là 'Tránh xa con sóng ra [khỏi khung hình này].'"[57]

Siêu đại chiến cũng có một số cảnh quay sử dụng hiệu ứng hình thu nhỏ do 32TEN Studios cung cấp, dưới sự giám sát của nhà sản xuất VFX Susan Greenhow và hai giám sát viên VFX John Knoll and Lindy DeQuattro của ILM. Các cảnh quay sử dụng máy quay RED Epic với rig 3D, sau đó sẽ do 32TEN chịu trách nhiệm sản xuất. 32TEN cũng cung cấp nhiều yếu tố hiệu ứng thực tế cho đội nhóm của ILM bao gồm mây bụi, kính vỡ và các hiệu ứng nước.[58]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Pacific Rim (nhạc phim)
Ramin Djawadi
Ramin Djawadi, người tạo nên phần nhạc nền cho Siêu đại chiến.

Phần nhạc nền của Siêu đại chiến được biên soạn bởi nhà soạn nhạc Ramin Djawadi.[59] Đạo diễn Del Toro chọn Djawadi thực hiện phần này sau khi được biết tới những thành tựu của anh cho Vượt ngục, Người SắtGame of Thrones: "Những khúc nhạc của cậu ấy mang tới sự uy quyền, và đồng thời cũng chứa đựng những mảnh hồn tuyệt vời nhất của nhân thế." Đạo diễn cũng cho biết một số bản nhạc rap tiếng Nga cũng sẽ được sử dụng trong bộ phim.[60] Album nhạc phim được phát hành trực tuyến trên trang Amazon vào ngày 18 tháng 6 năm 2013 và dưới định dạng đĩa CD vào ngày 25 tháng 6 năm 2013.[61] Phiên bản đĩa vật lý của album được ra mắt vào ngày 9 tháng 7 năm 2013 bởi hãng đĩa WaterTower Music, ba ngày trước khi phim được công chiếu tại rạp.[62] Hai nhạc sĩ Tom MorelloPriscilla Ahn cũng hợp tác với Djawadi trong một vài bản nhạc.[62] Hai bài hát được sử dụng trong bộ phim nhưng không được xuất hiện trong album là "Just Like Your Tenderness" do Luo Xiaoxuan trình bày và bài hát kết phim "Drift" do Blake Perlman và Rza phối hợp trình bày.[63] Album nhận được nhiều ý kiến đánh giá tích cực từ giới chuyên môn. The Action Elite chấm cho album năm trên năm sao,[64] tờ Empire chấm bốn,[65] MSNFilmtracks cũng chấm cho album bốn trên năm sao.[66][67] Ngày 27 tháng 7 năm 2013, album đạt vị trí xếp hạng cao nhất là thứ 7 trên bảng xếp hạng Billboard Top Soundtracks của Mỹ.[68]

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Siêu đại chiến ban đầu được dự kiến sẽ ra mắt công chúng vào tháng 7 năm 2012. Tuy nhiên hãng Warner Bros. đã quyết định dời lịch chiếu sang ngày 10 tháng 5 năm 2013. Tháng 3 năm 2012, hãng một lần nữa lại thông báo dời lịch công chiếu của phim sang ngày 12 tháng 7 năm, 2013.[69] Phim được ra mắt tại Thành phố México vào ngày 1 tháng 7 năm 2013.[70]

Quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 11 năm 2012, trang web chính thức của Siêu đại chiến cho ra mắt cùng lúc hai video lan truyền—một trong đó cho thấy cảnh cuộc chiến với quái thú Kaiju quay bằng máy quay cầm tay.[71] Các bản vẽ thiết kế của người máy Jaeger cũng được đăng tải trực tuyến.[71] Ngày 5 tháng 6 năm 2013, cuốn truyện tranh Pacific Rim: Tales from Year Zero được phát hành, với Travis Beacham đảm nhiệm phần sáng tác và Alex Ross đảm nhiệm phần tranh bìa. Tales from Year Zero được coi như là phần giới thiệu cho những sự kiện xảy ra trước phần đầu của phim, với bối cảnh được đặt vào mười hai năm trước đó.[72][73] Vào ngày 18 tháng 6, Insight Editions cho xuất bản Pacific Rim: Man, Machines, and Monsters, cuốn sách ảnh do David S. Cohen thực hiện. Cuốn sách biên tập lại quá trình sản xuất bộ phim với các quan niệm mỹ thuật, nhiếp ảnh, quá trình quay phim của dàn diễn viên và đội ngũ làm phim, và lời tựa của đạo diễn del Toro.[74] Ngày 2 tháng 7, một video lan truyền khác được cho đăng tải, trong đó nhân vật Hannibal Chau do Ron Perlman thủ vai, đang quảng bá cho mối buôn bán nội tạng Kaiju của mình, Kaiju Remedies.[75]

Trong ngày 12 tháng 7 năm 2013, tức ngày Siêu đại chiến được công chiếu, một video lan truyền khác được phát hành để quảng bá cho phim. Video này là sự hợp tác giữa hãng phim (bao gồm cả del Toro) và mạng lưới YouTube Polaris (còn được biết đến với tên The Game Station). Trong video, năm thành viên của mạng lưới YouTube này (ví dụ như Game Grumps) được biến đổi thành các người điều khiển Jaeger đang chiến đấu với Kaiju.[76] Tới ngày 16 tháng 7, một phiên bản tiểu thuyết hóa của Siêu đại chiến do Alex Irvine sáng tác được phát hành.[77] Hiệp hội NECA cũng cho bày bán các mô hình của Kaiju và Jaeger.[78]

Video game[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Pacific Rim (video game)

Một video game chiến đấu một người chơi cho dòng Xbox 360PlayStation 3 dựa trên nội dung của Siêu đại chiến đã được Ủy ban Phân loại Úc công bố. Được phát triển và phát hành bởi Yuke's, Pacific Rim: The Video Game được ra mắt cùng thời điểm phim được công chiếu vào ngày 12 tháng 7 năm 2013[79] và nhận được nhiều phản hồi tiêu cực từ người chơi cũng như giới chuyên môn.[80] Hãng Reliance Games cũng tham gia phát triển một tựa game cho các định dạng smartphone mang tên Pacific Rim: The Mobile Game; phiên bản này cũng nhận được nhiều đánh giá tiêu cực.[81]

Phương tiện tại gia[sửa | sửa mã nguồn]

Siêu đại chiến được phát hành trực tuyến trên iTunes StoreVudu vào ngày 1 tháng 10 năm 2013.[82] Phim được bày bán dưới định dạng DVD và Blu-ray tại Mỹ vào ngày 15 tháng 10 năm 2013, và tại Anh và các quốc gia khác vào ngày 25 tháng 11 năm 2013.[83] Phiên bản Collector's Edition cũng được ra mắt cùng ngày.[84] Nhằm quảng bá cho việc phát hành các phiên bản tại gia, Bryan Harley và Roque Rodriguez từ Fresno, California đã sản xuất ra một phiên bản "sweded" (nhại lại các cảnh quay) của cảnh đại chiến giữa Gipsy Danger và Otachi sau khi đạo diễn del Toro bị ấn tượng bởi đoạn trailer Siêu đại chiến phiên bản "sweded" được đăng tải trên kênh YouTube của bộ đôi này vào tháng 3 năm 2013.[85] Tính tới tháng 3 năm 2014, 961.845 DVD cùng với 1.427.692 đĩa Blu-ray của Siêu đại chiến đã đợc tiêu thụ tại Mỹ, thu về lần lượt 10.045.530 USD và 24.634.992 USD tiền doanh thu, đem lại doanh thu tổng cộng 37,079,122 USD cho nhà sản xuất.[86]

Tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Doanh thu phòng vé[sửa | sửa mã nguồn]

Siêu đại chiến thu về tổng cộng 101,8 triệu USD chỉ tính riêng tại thị trường Mỹ và Canada và 309,2 tại các quốc gia và vùng lãnh thổ khác, đưa tổng mức doanh thu toàn cầu lên tới 411.002.906 USD.[3]

Phim thu về 3,6 triệu USD từ suất chiếu sớm vào đêm thứ năm, với 23% con số này đến từ các suất chiếu IMAX. Sau đó, Siêu đại chiến đối đầu trực tiếp với Những đứa trẻ to xác 2 và ngay lập tức rớt lại phía sau trong ngày đầu ra mắt, với doanh thu 14,6 triệu USD.[87] Phim về vị trí thứ 3 vào dịp cuối tuần ra mắt với 37,2 triệu USD thu về, xếp sau Kẻ trộm mặt trăng 2Những đứa trẻ to xác 2. Đây là phim có doanh thu ra mắt cao nhất trong sự nghiệp của del Toro, vượt qua cả Quỷ đỏ II: Binh đoàn địa ngục. Khoảng 50% lượng vé bán ra là cho các suất chiếu 3D, giúp Siêu đại chiến trở thành phim có tỉ lệ vé 3D cao thứ hai trong năm 2013, theo sau Cuộc chiến không trọng lực.[88] Trong dịp cuối tuần thứ hai, doanh thu phim tụt dốc 57% với con số 16 triệu USD thu về, và trong dịp cuối tuần thứ ba, con số tiếp tục giảm thêm 52% nữa với 7,7 triệu USD.[89][90]

Ngày 22 tháng 7 năm 2013, Siêu đại chiến đạt cột mốc quán quân doanh thu phòng vé quốc tế dịp cuối tuần.[91] Phim ra mắt thành công tại Trung Quốc với doanh thu 45,2 triệu USD, trước khi bị hạ bệ bởi Người Hobbit: Đại chiến năm cánh quân,[92] phim điện ảnh có doanh thu ra mắt tại Trung Quốc lớn nhất của hãng Warner Bros. và cũng là phim điện ảnh Hollywood có doanh thu ra mắt tại Trung Quốc cao thứ sáu từ trước tới nay.[93] Ngày 19 tháng 8 năm 2013, Siêu đại chiến vượt mốc doanh thu 100 triệu USD tại Trung Quốc, trở thành phim điện ảnh Mỹ có doanh thu tại Trung Quốc cao thứ sáu từ trước tới nay..[94] Cuối cùng, phim thu về 114,3 triệu USD tại Trung Quốc, giúp quốc gia này trở thành thị trường lớn nhất của phim.[95] Tại Nhật Bản, phim xếp thứ năm về doanh thu phòng vé trong tuần lễ ra mắt, với doanh thu mở màn là 3 triệu USD (xếp sau Thế chiến Z với doanh thu ra mắt 3,4 triệu USD).[96][97]

Tháng 9 năm 2013, tạp chí Forbes vinh danh Siêu đại chiến là "phim điện ảnh tiếng Anh hiếm gặp trong lịch sử cán mốc 400 triệu USD khi vừa mới cán mốc 100 triệu USD nội địa".[8]

Đánh giá chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Siêu đại chiến nhận được nhiều phản hồi tích cực từ giới phê bình điện ảnh. Trên hệ thống tổng hợp kết quả đánh giá Rotten Tomatoes, phim nhận được 71% lượng đồng thuận dựa theo 266 bài đánh giá, với điểm trung bình là 6,6/10. Các chuyên gia của trang web nhất trí rằng, "Dù phô bày nhiều phong cách hơn bản chất, nhưng Siêu đại chiến là một sinh vật hiện đại thuần nhất chứa đựng hình ảnh kỳ ảo và những tiếng cười không thể chối cãi."[14] Trên trang Metacritic, phần phim đạt số điểm 64 trên 100, dựa trên 48 nhận xét, chủ yếu là những lời khen ngợi.[98]

Robbie Collin từ The Daily Telegraph thưởng cho bộ phim năm sao tuyệt đối và cho rằng việc xem bộ phim này đã gợi nhớ anh về bộ phim hoạt hình yêu thích hồi còn nhỏ. Anh khen ngợi del Toro vì đã mang tầm ảnh hưởng của mình vào thể loại phim này và đem bản ngã nghệ thuật của ông vào trong dự án theo một cách khiến khán giả thấy họ chìm đắm hoàn toàn trong bộ phim thay vì xem nó từ xa.[99] Todd McCarthy của The Hollywood Reporter cho bộ phim một phản hồi tích cực, gọi phim là sự tổng hợp của những sự tiềm năng mà mọi bộ phim quái vật từ trước tới nay đã cố gắng lấp đầy.[100] Lou Lumenick của The New York Post cho bộ phim bốn sao tuyệt đối, viết rằng phim "không hề thiếu đi khối óc, cơ bắp, sự bắt mắt, sáng suốt hay thậm chí cả những chất thơ", khen ngợi các phân cảnh hành động "trong sạch và nhất quán" và "chất xúc tác kinh khủng" giữa Hunnam và Kikuchi.[101] Drew McWeeny của HitFix thì nhấn mạnh vào một vài khía cạnh khác của phim, đặc biệt chú ý tới công tác sản xuất và thiết kế nghệ thuật. Anh cũng khen ngợi công tác quay phim đã "bắt giữ hoàn hảo" các khoảnh khắc của phim, đồng thời miêu tả phần nhạc nền phim "thuyệt vời một cách lố bịch".[102] Peter Travers của Rolling Stone gọi bộ phim là một "tác phẩm của một nhà nhân đạo đã sẵn sàng để xua đuổi sự hoài nghi để nhường chỗ cho lòng trắc ẩn", và đồng thời cũng nhấn mạnh việc del Toro đã "chỉ đạo những cảnh hành động với nhịp đập con tim".[103] Stephanie Zacharek của The Village Voice đã gọi phim là một "buổi chiêu đãi mùa hè đầy xung động", khen ngợi các cảnh hành động "chói lòa một cách khiêm tốn" và tự do khỏi những tinh hoa, nhưng đồng thời cũng phê bình cốt truyện dễ đoán và gợi ý del Toro nên dành nhiều thời gian cho các phim hư ảo hơn.[104] Angela Watercutter từ Wired gọi đây là "bộ phim tuyệt đỉnh nhất mùa hè" và cho rằng phim tập trung vào khung cảnh hơn là đặc điểm chi tiết "dường như chẳng quan trọng" trong bộ phim hè bomtaansa này.[15] Richard Roeper cho phim điểm B, bình luận rằng dù là Jaeger hay Kaiju thì cũng "chẳng hạ gục được bất cứ Transformers nào."[105] Leonard Maltin cho bộ phim hai sao rưỡi trên bốn sao, nhận xét "ba phần tư của một bộ phim khá tốt nhưng lại chưa biết điểm dừng."[106]

Richard Corliss từ tạp chí Time thì ít hăng hái hơn khi cho rằng phần hành động của phim đã bị hạ thấp bởi cách trần thuật "trơ lì", đồng thời gọi bộ phim là "45 phút tuyệt vời được đùm trong 90 phút nửa vời."[107] Justin Chang của Variety thì lại phê bình bộ phim khi thiếu đi các sắc thái và sự tinh tế mà các phim điện ảnh trước của del Toro đã có.[108] Mike LaSalle của San Francisco Chronicle phản ứng vô cùng tiêu cực khi khi bình luận "Nếu đây là thứ tốt nhất mà ta có thể làm được đối với các bộ phim—khi nghĩ rằng những thứ như thế này có thể chạm được đến tâm hồn của khán giả—thì có lẽ chúng ta nên mang đống đồ nghề và mấy cái máy quay phim cho bọn khủng long ngoài hành tinh và xem xem chúng có thể làm những gì… Đạo diễn Guillermo del Toro, người đã đem tới cho chúng ta Pan's Labyrinth chỉ một vài năm trước đó, từng được biết đến như một nhà làm phim sáng suốt và có thẩm mỹ, [...]. Nhưng anh ta chắc cũng thường xuyên đánh mất máy tính của mình… Tại sao lại phải tới rạp để nhìn ngắm máy tính của người khác sau khi đã nhìn ngắm máy tính của mình suốt cả tuần?… Dàn diễn viên cũng không thể nào giúp Siêu đại chiến tốt lên được. Họ chỉ có thể làm dịu bớt nỗi đau mà thôi."[109] Cây viết Ed Gonzalez từ Slant Magazine, người cho rằng bộ phim đang thiếu đi sự thấm thía, đã làm một phép so sánh với một video game: "một cuộc chơi kiểu cách nhưng đầy tính lập trình trước khi trận đánh trùm cuối chắc chắn diễn ra".[110] Alonso Duralde của The Wrap thì khiển trách việc đặt hầu hết các trận chiến trong phim vào bối cảnh ban đêm hoặc dưới mưa, cảm giác điều này khiến cho các cảnh hành động bị giảm giá trị, và cho rằng các diễn viên phụ—Day, Gorman, và Perlman—đã cướp lấy màn ảnh từ dàn diễn viên chính thiếu sức hút.[111] Jordan Hoffman từ Film.com chỉ ra rằng Hunnam là sợi liên kết yếu nhất của dàn diễn viên, và gọi anh là "một hố đen đầy sức hút".[112] Giles Hardie của The Sydney Morning Herald phê bình bộ phim vô cùng tỉ mỉ, tặng cho các phân cảnh hành động "điểm IQ năm trên năm" khi miêu tả bộ phim với một tiếng và hai mươi phút chỉ các cảnh chiến đấu được kết nối trớt qướt bởi mười phút cốt truyện.[113]

Đạo diễn Rian Johnson dành tặng cho phim nhiều lời khen ngợi.[114] Đạo diễn trò chơi Kojima Hideo cũng tương tự khi anh gọi bộ phim là "phim điện ảnh cốt yếu của một otaku" kèm lời nhận xét "chưa từng tưởng tượng được rằng có ngày sẽ may mắn được xem một bộ phim như vậy trong đời".[115] Nagai Go, người tiên phong cho ý tưởng phi công điều khiển người máy từ buồng lái ở bên trong, đã ngợi khen các cảnh hành động vui vẻ và mãnh liệt, trong khi đó nhà phát triển trò chơi Ueda Fumito cho rằng các cảnh chiến đấu đã vượt trội hơn những phim điện ảnh tokusatsu mà anh từng xem hồi còn nhỏ.[116] Nhà văn khoa học viễn tưởngWilliam Gibson gọi bộ phim là "Một màn phơi bày mê hồn của sự thông minh, thiết kế hình ảnh dí dỏm đáng khâm phục, mọi khung hình đều sống động với ngôn ngữ nhất quán, phát triển từ trái tim của một câu chuyện thiếu nhi… Một bức baroque không bao giờ vón cục, mà cũng chẳng bao giờ tôn sùng hóa chính nó."[117] Việc chỉ có một nhân vật nữ chính trong Siêu đại chiến đã khiến bộ phim không lọt qua bài kiểm tra Bechdel. Điều này dấy lên dư luận khi nhiều người gọi phim là một ví dụ điển hình cho việc tẩy chay phụ nữ ở Hollywood, trong khi đó nhiều người khác lại cho rằng bộ phim không hề coi Mako Mori là một đối tượng tình dục mà thay vào đó đã cho cô một cốt truyện riêng không dính dáng gì tới đàn ông.[118][119]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng Hạng mục Đề cử Kết quả
Giải ABFF Hollywood Nghệ sĩ của năm Idris Elba (cũng cho Mandela: Long Walk to FreedomThor 2: Thế giới Bóng tối) Đề cử
Giải Annie Thành tựu nổi bật, Kỹ xảo hoạt hình trong sản xuất phim người đóng Đoạt giải
Thành tựu nổi bật, hoạt họa nhân vật trong sản xuất phim người đóng Đề cử
Giải thưởng Điện ảnh Viện Hàn lâm Anh quốc Kỹ xảo hình ảnh đặc biệt xuất sắc nhất Đề cử
Giải Điện ảnh Critics' Choice Kỹ xảo hình ảnh xuất sắc nhất Đề cử
Hiệp hội Phê bình Điện ảnh Denver Phim khoa học viễn tưởng/kinh dị xuất sắc nhất Đề cử
Giải Empire Phim khoa học viễn tưởng/kỳ ảo xuất sắc nhất Đề cử
Giải Điện ảnh Hollywood Kỹ xảo hình ảnh xuất sắc nhất John Knoll Đoạt giải
Hiệp hội Phê bình Điện ảnh Las Vegas Phim kinh dị/khoa học viễn tưởng xuất sắc nhất Đoạt giải
Giải Sao Thổ Phim khoa học viễn tưởng hay nhất Đề cử
Đạo diễn xuất sắc nhất Guillermo del Toro Đề cử
Thiết kế sản xuất xuất sắc nhất Andrew Neskoromny và Carol Spier Đề cử
Dựng phim xuất sắc nhất Peter Amundson và John Gilroy Đề cử
Hiệu ứng đặc biệt tốt nhất John Knoll, James E. Price, Clay Pinney và Rocco Larizza Đề cử
Giải SLFCA Kỹ xảo hình ảnh đặc biệt xuất sắc nhất John Knoll Đề cử
Teen Choice Awards Phim hành động mùa hè Đề cử
Hiệp hội Kỹ xảo Điện ảnh Kỹ xảo hình ảnh nổi bật trong phim điện ảnh có sử dụng nhiều kỹ xảo hình ảnh John Knoll, Susan Greenhow, Chris Raimo và Hal Hickel Đề cử
Nhân vật hoạt hình nổi bật trong phim điện ảnh người đóng Jakub Pistecky, Frank Gravatt, Cyrus Jam và Chris Havreberg cho Kaiju Đề cử
Môi trường sáng tạo nổi bật trong phim điện ảnh người đóng Johan Thorngren, Jeremy Bloch, David Meny và Polly Ing cho "Hong Kong giả tưởng" Đề cử
Hình ảnh quay phim nổi bật trong phim điện ảnh người đóng Colin Benoit, Nick Walker, Adam Schnitzer và Victor Schutz cho "Thủy chiến Hong Kong" Đề cử
Kiểu mẫu nổi bật trong phim điện ảnh người đóng David Fogler, Alex Jaeger, Aaron Wilson và David Behrens Đề cử

Phim tiếp nối[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Pacific Rim: Trỗi dậy

Phần phim tiếp nối mang tên Pacific Rim: Trỗi dậy được công chiếu vào ngày 23 tháng 3 năm 2018.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tên của quái vật có nguồn gốc từ từ tiếng Nhật kaijū (怪獣?, "sinh vật kì lạ, quái vật"). Trong tiếng Nhật không có nhiều từ ngữ số nhiều, nhưng thường các từ mượn của tiếng Nhật trong tiếng Anh vẫn thường có số nhiều theo phong cách tiếng Anh.[4][5][6] Travis Beacham tin rằng cả "Kaiju" và "Kaijus" đều có nghĩa trong vũ trụ của phim, dù vậy anh vẫn thích "Kaiju" hơn.[7]
  2. ^ Tên của mecha này có nguồn gốc từ từ tiếng Đức Jäger ("thợ săn"). Trong tiếng Đức, danh từ số nhiều của từ này chỉ xuất hiện trong ngữ cảnh xác định chứ không phải là một hậu tố cho từ đó ("der Jäger" nghĩa là "thợ săn"; "die Jäger" nghĩa là "nhiều thợ săn"). Bởi vì đây là một phim tiếng Anh nên phim sử dụng từ số nhiều "Jaegers".

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ PACIFIC RIM (12A)”. British Board of Film Classification. 9 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  2. ^ “Pacific Rim (EN)”. Lumiere. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2017. 
  3. ^ a ă â “Pacific Rim”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2013. 
  4. ^ a ă â b Sacks, Ethan (7 tháng 7 năm 2013). “The Kaijus and Jaegers of Guillermo del Toro's 'Pacific Rim' are modern updates on classic movie monsters like Godzilla”. nydailynews.com. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  5. ^ a ă Mr. Beaks (24 tháng 8 năm 2011). “Guillermo Del Toro And Mr. Beaks Discuss DON'T BE AFRAID OF THE DARK, PACIFIC RIM And The Far-From-Used-Up Future Of AT THE MOUNTAINS OF MADNESS!”. aintitcool.com. Ain't It Cool News. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  6. ^ a ă Woerner, Meredith (1 tháng 7 năm 2013). “Unbelievable Pacific Rim video reveals all of the Kaiju's secrets”. io9.com. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  7. ^ Beacham, Travis. “The grammar of Pacific Rim”. the principle fantastic. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2013. 
  8. ^ a ă Mendelson, Scott (2 tháng 9 năm 2013). Pacific Rim And More Domestic 'Flops' That Became Global Hits”. Forbes. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  9. ^ “Pacific Rim 2: Steven S. DeKnight to Direct”. Collider. 23 tháng 2 năm 2016. 
  10. ^ “‘Pacific Rim 2’ Gets 2018 Release Date”. 
  11. ^ “Del Toro casts Perlman, Segura in Pacific Rim. globalpost.com. 30 tháng 6 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  12. ^ “IMDb Resume for Jane Watson (VI)”. IMDb. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  13. ^ Pacific Rim (2013) – Full cast and crew
  14. ^ a ă “Pacific Rim (2013)”. Rotten Tomatoes. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  15. ^ a ă Watercutter, Angela (10 tháng 7 năm 2013). “Pacific Rim Is Literally the Most Awesome Movie of the Summer”. wired.com. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  16. ^ Russo, Tom (6 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim is the heartfelt project from del Toro”. bostonglobe.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  17. ^ a ă â Mr. Beaks (8 tháng 7 năm 2013). “Mr. Beaks Talks PACIFIC RIM, World Building And Gargantuas With Guillermo del Toro And Travis Beacham! Part One Of Two!”. aintitcool.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  18. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên trauma
  19. ^ Outlaw, Kofi (tháng 8 năm 2012). “Charlie Hunnam Talks Love and Psychic Bonds in Pacific Rim. screenrant.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  20. ^ Murray, Rebecca. “Director Guillermo del Toro Discusses Pacific Rim. movies.about.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  21. ^ a ă â Fear, David (9 tháng 7 năm 2013). “TONY Q&A: Pacific Rim's Guillermo del Toro”. Time Out. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  22. ^ Howell, Peter (5 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim's Guillermo del Toro is a monster-loving pacifist”. thestar.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  23. ^ Turek, Ryan (8 tháng 7 năm 2013). “Shock Interview: Guillermo del Toro on the Development, Destruction and Family-Friendly Pacific Rim. shocktillyoudrop.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  24. ^ Dimock, Wai Chee (27 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim: Guillermo del Toro's Fractal Shoes”. Los Angeles Review of Books. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  25. ^ Cullin, Liam (9 tháng 2 năm 2006). “Guillermo Del Toro Directing Carnival Row. empiremovies.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  26. ^ “Monsters in the Mist” (PDF). 
  27. ^ Fleming, Mike (28 tháng 5 năm 2010). “Legendary Pictures Re-Teams With Clash Of The Titans Scribe On Pacific Rim. Deadline.com. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  28. ^ Fleming Jr, Mike (28 tháng 7 năm 2010). “Guillermo Del Toro And James Cameron Ready To Climb ‘Mountains Of Madness’”. Deadline.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  29. ^ a ă â b c Scheidt, Dave (11 tháng 7 năm 2012). “Exclusive Sneak Peak of the Costumes From Guillermo del Toro's Pacific Rim and Interview”. The Huffington Post. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  30. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên AICN-Quint
  31. ^ Fleming Jr, Mike (7 tháng 3 năm 2011). “Competition For Guillermo Del Toro’s Next Picture: Legendary Preps ‘Pacific Rim’”. Deadline.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  32. ^ Fleming Jr, Mike (9 tháng 3 năm 2011). “Q&A: Guillermo Del Toro On Why He Will Next Direct Pacific Rim After At The Mountains Of Madness Fell Apart”. Deadline.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  33. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên HeroComplex
  34. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên GDT-Collider
  35. ^ Kit, Boris (29 tháng 2 năm 2012). Luther Creator Neil Cross Set to Grow Ghost House's Day of the Triffids Adaptation”. hollywoodreporter.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  36. ^ 'Pacific Rim' Production Update From Guillermo del Toro”. Screenrant. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  37. ^ “Guillermo del Toro gives Update on PACIFIC RIM – Production has Begun”. geektyrant. 20 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  38. ^ “Productions currently filming in Toronto” (PDF). Toronto: Toronto Film and Television Office. 26 tháng 1 năm 2012. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  39. ^ Turek, Ryan (29 tháng 11 năm 2011). “Guillermo Del Toro Offers Pacific Rim Update”. Shock Till You Drop. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  40. ^ Bettinger, Brendan. “New Video and Photos from the PACIFIC RIM Set Show How Guillermo del Toro Turned Toronto Into Tokyo”. Collider.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  41. ^ Cohen, David S. (29 tháng 5 năm 2013). “Inside Pacific Rim with Guillermo del Toro”. variety.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  42. ^ “Guillermo del Toro Talks PACIFIC RIM, Why They Used the RED EPIC & Didn’t Do 3D; Reveals Blu-ray Will Have 30 Minutes of Deleted Scenes”. Collider. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  43. ^ Shaefer, Sandy. “Guillermo del Toro: Pacific Rim Is Not Japanese Monster Movie Homage; No 3D”. Screenrant. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  44. ^ Lesnick, Silas. “Guillermo del Toro Talks The Strain and Pacific Rim's 3D Conversion”. Shock Till You Drop. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  45. ^ Cruz, Gilbert (10 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim's Guillermo del Toro on 3-D, Long Movies, and Mexican Matinees”. vulture.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  46. ^ Longshore, James (16 tháng 7 năm 2013). “Film review: Pacific Rim – Sit in the back”. Romania-Insider.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  47. ^ McIntyre, Gina. “Guillermo del Toro edges toward greater success with Pacific Rim. Hero Complex – movies, comics, pop culture. Los Angeles Times. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  48. ^ a ă Castro, Adam-Troy (17 tháng 7 năm 2012). “Why Del Toro warned Pacific Rim designers never to watch Godzilla. blastr.com. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  49. ^ Johnson, Scott (13 tháng 7 năm 2013). “Pacific Rim After The Credits Spoiler”. comicbook.com. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  50. ^ Clark, Noelene (2 tháng 8 năm 2012). “Guillermo del Toro wants Pacific Rim Kaiju to 'start from scratch'. herocomplex.latimes.com. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  51. ^ Coyle, Jake (2 tháng 7 năm 2013). “Guillermo Del Toro's Pacific Rim Brings Back The Monster Movie”. huffingtonpost.com. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  52. ^ a ă Anders, Charlie Jane (8 tháng 7 năm 2013). “Why Pacific Rim Doesn't Look Like Any Movie You've Ever Seen Before”. io9.com. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  53. ^ a ă â b c d della Cava, Marco R. (9 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim: A monster challenge for special effects”. usatoday.com. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  54. ^ PACIFIC RIM Behind The Scenes: The Pilot Suits - Legacy Effects. YouTube. 17 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  55. ^ “Hybride Delivers VFX for Guillermo del Toro's Pacific Rim. itbusinessnet.com. 1 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  56. ^ “Rodeo FX Once Again Teams with ILM to Deliver Innovative and "Incredibly Realistic" VFX for "Pacific Rim". shootonline.com. 30 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  57. ^ a ă Cohen, David S. (29 tháng 5 năm 2013). Pacific Rim Visual Effects Get Operatic Twist”. variety.com. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  58. ^ “32TEN Studios Provides Practical Effects for Pacific Rim”. anw.com. 15 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  59. ^ “Ramin Djawadi to Score Guillermo Del Toro’s ‘Pacific Rim’”. filmmusicreporter.com. 27 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  60. ^ Weintraub, Steve 'Frosty' (8 tháng 8 năm 2012). “Guillermo del Toro Talks PACIFIC RIM Soundtrack and Collectables”. collider.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  61. ^ Pacific Rim on Amazon”. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  62. ^ a ă 'Pacific Rim' Soundtrack Details”. Film Music Reporter. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  63. ^ Vancheri, Barbara (12 tháng 7 năm 2013). “Actor gets choice role in Pacific Rim. Pittsburgh Post-Gazette. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  64. ^ Pacific Rim Movie Score (2013) Review”. The Action Elite. 2 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  65. ^ Graydon, Danny (15 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim. Empire. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  66. ^ Yang, Sherman (21 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim: Original Motion Picture Soundtrack. MSN. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  67. ^ “Filmtracks: Pacific Rim (Ramin Djawadi)”. Filmtracks.com. 6 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  68. ^ “Soundtracks: Jul 27, 2013”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  69. ^ “Release Schedule – NEW DATES & CHANGES”. Box Office Mojo. Tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  70. ^ “A Week In Movies: Pacific Rim Launches”. 6 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  71. ^ a ă “Pan Pacific Defense Corps”. Panpacificdefense.com. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2013. 
  72. ^ Casey, Dan (30 tháng 3 năm 2013). “Wondercon: Pacific Rim: Tales From Year Zero Alex Ross Cover Revealed « Nerdist”. Nerdist.com. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2013. 
  73. ^ PacRim (24 tháng 12 năm 2012). “Pacific Rim Le film: Merchandising/collectibles”. Pacificrimfilm.blogspot.com. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2013. 
  74. ^ “Pacific Rim: Man, Machines, and Monsters [Hardcover]”. Amazon.com. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2013. 
  75. ^ “Ron Perlman Has Your Pacific Rim Kaiju Remedies Right Here!”. dreadcentral.com. 2 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2013. 
  76. ^ “Youtube: Pacific Rim – Training Day”. Maker Studios. 12 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. 
  77. ^ Pacific Rim: The Official Movie Novelization: Alexander Irvine: 9781781166789: Amazon.com: Books”. amazon.com. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2013. 
  78. ^ Picard, Chris (7 tháng 6 năm 2013). “Exclusive: First Look at Finished NECA Pacific Rim Figures!”. Scified.com. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2013. 
  79. ^ Pacific Rim game revealed”. GameSpot. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  80. ^ Pacific Rim for Xbox360”. Metacritic. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  81. ^ Pacific Rim for iPhone”. Metacritic. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  82. ^ “New Releases for the Week of Oct 1”. vudu.com. 2 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2013. 
  83. ^ Picard, Chris (5 tháng 9 năm 2013). “Own Pacific Rim on BluRay and DvD October 15th!”. Scified.com. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2013. 
  84. ^ “Pacific Rim Collector's Edition (Blu-ray 3D + Blu-ray + DVD +UltraViolet Combo Pack) (2013)”. 
  85. ^ Tehee, Joshua (15 tháng 10 năm 2013). “Fresno Swede Fest founders help pitch 'Pacific Rim' DVD”. The Fresno Bee. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2013. 
  86. ^ Pacific Rim - Box Office Data, DVD and Blu-ray Sales, Movie News, Cast and Crew Information. The Numbers. Retrieved on 2014-06-05.
  87. ^ “Forecast: 'Pacific Rim' Goes to War With 'Grown Ups 2' This Weekend”. Box Office Mojo. 11 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  88. ^ “Weekend Box Office Results for May 24-26, 2013”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  89. ^ Subers, Ray (21 tháng 7 năm 2013). “Weekend Report: 'Conjuring' Haunts First With Record Opening”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  90. ^ Subers, Ray (28 tháng 7 năm 2013). “Weekend Report: 'Wolverine' Bleeds, But Still Easily Leads”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  91. ^ Finke, Nikki (22 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim #1 Internationally Over Weekend”. Deadline.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  92. ^ Nancy Tartaglione (25 tháng 1 năm 2015). “‘Hobbit’ Storms China; ‘Sniper’ Takes Out More Records: International Box Office”. Deadline.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  93. ^ McClintock, Pamela (4 tháng 8 năm 2013). “Box Office Report: Pacific Rim Scores Massive $45.2 Million China Debut”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  94. ^ “Weekend Box Office: 'The Butler' Opens To $25m, 'Kick-Ass 2', 'Jobs', And 'Paranoia' Crash”. Forbes. 19 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  95. ^ Bai Shi (Beijing Review) (9 tháng 2 năm 2014). “Hollywood Takes a Hit”. english.entgroup.cn. EntGroup Inc. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  96. ^ Schilling, Mark (14 tháng 8 năm 2013). Pacific Rim Fails to Wow Auds”. Variety. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  97. ^ Pacific Rim Japan Box Office”. Box Office Mojo. 15 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  98. ^ “Pacific Rim Reviews”. Metacritic. CBS. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  99. ^ Collin, Robbie (8 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim, review”. telegraph.com. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  100. ^ McCarthy, Todd (7 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim: Film Review”. hollywoodreporter.com. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  101. ^ Lumenick, Lou (9 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim baddies are big, but the heroes are better”. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  102. ^ McWeeny, Drew (8 tháng 7 năm 2013). “Review: Guillermo Del Toro's Pacific Rim is an eccentric and emotional thrill”. hitfix.com. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  103. ^ Travers, Peter (11 tháng 7 năm 2013). “Peter Travers' Three-Star Review of Pacific Rim. rollingstone.com. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  104. ^ Zacharek, Stephanie (8 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim: Building a Better Blockbuster”. villagevoice.com. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  105. ^ Roeper, Richard (12 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim Review”. Reelz. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  106. ^ Maltin, Leonard (12 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim Review”. Reelz. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  107. ^ Corliss, Richard (9 tháng 7 năm 2013). “Pacific Rim: Transformers Transcended”. entertainment.time.com. Time. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  108. ^ Chang, Justin (7 tháng 7 năm 2013). “Film Review: Pacific Rim. variety.com. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  109. ^ LaSalle, Mick (11 tháng 7 năm 2013). 'Pacific Rim' review: Humans don't deserve to win”. San Francisco Chronicle. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  110. ^ Pacific Rim – Film Review”. slantmagazine.com. 8 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  111. ^ Duralde, Alonso (8 tháng 7 năm 2013). Pacific Rim Review: There Be Monsters in Here Somewhere”. thewrap.com. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  112. ^ Hoffman, Jordan (8 tháng 7 năm 2013). “Review: Pacific Rim. film.com. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  113. ^ Hardie, Giles (9 tháng 7 năm 2013). “Pacific Rim is an all-action monster with no tale”. The Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  114. ^ Woerner, Meredith (4 tháng 2 năm 2013). Pacific Rim gets a rave review from Rian Johnson, plus some stunning new images”. io9.com. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  115. ^ “Hideo Kojima Reviews Pacific Rim In Eight Tweets”. 5 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  116. ^ “Metal Gear's Shinkawa Draws Pacific Rim Poster & Japan's Creators Laud Film”. animenewsnetwork.com. 10 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  117. ^ Gibson, William (20 tháng 7 năm 2013). “Pacific Rim, over 140 characters:”. tweetlonger.org. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  118. ^ Romano, Aja (18 tháng 8 năm 2013). “The Mako Mori Test: 'Pacific Rim' inspires a Bechdel Test alternative”. The Daily Dot. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 
  119. ^ McGuinness, Ross (18 tháng 7 năm 2013). “The Bechdel test and why Hollywood is a man’s, man’s, man’s world”. Metro. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]