Sinh vật lông roi sau

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sinh vật lông roi sau
Thời điểm hóa thạch: Neoproterozoic–Recent
Phân loại khoa học
Liên vực (superdomain) Neomura
Vực (domain) Eukaryota
(không phân hạng) Unikonta
(không phân hạng) Opisthokonta
Các phân nhóm

Sinh vật lông roi sau (danh pháp khoa học: Opisthokonta, từ tiếng Hy Lạp: ὀπίσθιος (opísthios) = "hậu, sau" + κοντός (kontós) = "sào, cột" nghĩa là "lông roi, tiên mao") là một nhóm rộng các sinh vật nhân chuẩn (Eukaryota), bao gồm cả các giới quen thuộc như động vậtnấm[1], cùng với các vi sinh vật nhân chuẩn khác mà đôi khi được gộp trong ngành cận ngànhChoanozoa (trước đây xếp trong giới sinh vật nguyên sinh (Protista)[2]. Các nghiên cứu di truyền cũng như siêu cấu trúc đều hỗ trợ mạnh quan điểm cho rằng Opisthokonta tạo thành một nhóm đơn ngành.

"Opisthokonta" và "nhóm Fungi/Metazoa" đôi khi được coi là đồng nghĩa của nhau[3].

Lông roi[sửa | sửa mã nguồn]

Một đặc trưng phổ biến trong nhóm này là ở chỗ các tế bào lông roi, chẳng hạn như ở tinh trùng của phần lớn động vật và các bào tử của ngành nấm Chytridiomycota, đẩy chính chúng di chuyển bằng một lông roi sau. Chính đặc trưng này đem lại tên gọi cho nhóm.

Ngược lại, các tế bào lông roi ở các nhóm sinh vật nhân chuẩn khác đẩy chính chúng di chuyển bằng một hay nhiều lông roi trước.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quan hệ gần gũi của động vật và nấm đã được Cavalier-Smith đề xuất vào năm 1987[4], khi đó ông sử dụng tên gọi không chính thức opisthokonta (tên gọi chính thức đã từng được sử dụng để chỉ nấm trong nhóm Chytridiomycota), và nó được xác nhận trong các nghiên cứu di truyền muộn hơn[5].

Các nghiên cứu phát sinh chủng loài đầu tiên đặt chúng gần thực vật và các nhóm sinh vật khác có ti thể với nếp màng trong phẳng, nhưng đặc trưng này không ổn định.

Cavalier-Smith và Stechmann[6] cho rằng các sinh vật nhân chuẩn một lông rung như Opisthokonta và Amoebozoa, gộp lại cùng nhau tạo thành nhóm sinh vật một lông roi (Unikonta), tách rời với các sinh vật nhân chuẩn hai lông rung khác (gọi là sinh vật hai lông roi - Bikonta), ngay sau khi chúng tiến hóa.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong các giả thiết về các mối quan hệ của sinh vật nhân chuẩn


Plantae



Chromalveolata





Amoebozoa


Opisthokonta 


Animalia



Choanozoa





Fungi



Nucleariida





Một trong các quan điểm về các giới lớn và các nhóm thân cây của chúng.[7]



Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Shalchian-Tabrizi K., Minge M. A., Espelund M. và ctv. (2008). “Multigene phylogeny of choanozoa and the origin of animals”. PLoS ONE 3 (5): e2098. doi:10.1371/journal.pone.0002098. PMC 2346548. PMID 18461162. 
  2. ^ Steenkamp E. T., Wright J., Baldauf S. L. (January năm 2006). “The protistan origins of animals and fungi”. Mol. Biol. Evol. 23 (1): 93–106. doi:10.1093/molbev/msj011. PMID 16151185. 
  3. ^ “Fungi/Metazoa group”. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2009. 
  4. ^ Cavalier-Smith, T. (1987). “The origin of fungi and pseudofungi”. Trong Rayner Alan D. M. (chủ biên). Evolutionary biology of Fungi. Cambridge, Anh: Nhà in Đại học Cambridge. tr. 339–353. ISBN 0-521-33050-5. 
  5. ^ Wainright P. O., Hinkle G., Sogin M. L., Stickel S. K. (tháng 4 năm 1993). “Monophyletic origins of the metazoa: an evolutionary link with fungi”. Science (tạp chí) 260 (5106): 340–2. PMID 8469985. 
  6. ^ Stechmann, A.; Thomas Cavalier-Smith (2002). “Rooting the eukaryote tree by using a derived gene fusion”. Science 297 (5578): 89–91. doi:10.1126/science.1071196. PMID 12098695. 
  7. ^ Cây phát sinh chủng loài dựa vào:
    • Eichinger L.; Pachebat J.A.; Glöckner G.; Rajandream M.A.; Sucgang R.; Berriman M.; Song J.; Olsen R.; Szafranski K.; Xu Q.; và ctv. (2005). “The genome of the social amoeba Dictyostelium discoideum”. Nature 435 (7038): 43–57. doi:10.1038/nature03481. PMID 15875012. 
    • Steenkamp E.T.; Wright J.; Baldauf S.L. (2006). “The Protistan Origins of Animals and Fungi”. Molecular Biology and Evolution 23 (1): 93–106. doi:10.1093/molbev/msj011. PMID 16151185. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]