Lưu hoàng hậu (Đường Duệ Tông)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Duệ Tông Lưu Hoàng hậu
睿宗劉皇后
Hoàng hậu nhà Đường
Tại vị 684690
Tiền nhiệm Trung Tông Vi hoàng hậu
Kế nhiệm Trung Tông Vi hoàng hậu (lần 2)
Thông tin chung
Phối ngẫu Đường Duệ Tông
Hậu duệ
Thụy hiệu Túc Minh Thuận Thánh hoàng hậu
肅明順聖皇后
Thân phụ Lưu Diên Cảnh
Sinh ?
Từ Châu
Mất 693
Trường An, Nhà Đường
An táng Kiều lăng (桥陵)

Lưu hoàng hậu (chữ Hán: 劉皇后, ? - 693), gọi đầy đủ là Túc Minh Thuận Thánh hoàng hậu (肅明順聖皇后), là Hoàng hậu của Đường Duệ Tông Lý Đán, một vị Hoàng đế nhà Đường trong lịch sử Trung Quốc.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Không rõ tên thật lẫn ngày sinh của Lưu hoàng hậu. Bà xuất thân từ gia tộc ở Bành Thành, Từ Châu, có ông nội là Hình Bộ thượng thư Lưu Đức Uy (劉德威) và cha là Thiểm Châu thứ sử Lưu Diên Cảnh (劉延景).

Dưới triều của Đường Cao Tông Lý Trị, Lưu thị trở thành vương phi của Tương vương Lý Đán. Lưu vương phi hạ sinh ra 3 con là Ninh vương Lý Thành Khí (李成器) và hai công chúa là Thọ Xương công chúa (壽昌公主) và Đại Quốc công chúa (代國公主).

Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 684, Đường Cao Tông băng hà, hoàng thái tử Lý Hiển nối ngôi trở thành Đường Trung Tông. Tuy nhiên, chỉ sau khoảng 2 tháng là bị Võ Tắc Thiên phế truất. Lý Đán được đưa lên làm hoàng đế thay thế, tức Đường Duệ Tông. Lưu vương phi được sắc phong làm Hoàng hậu. Con trai Lưu hoàng hậu là Lý Thành Khí được sắc phong làm Hoàng thái tử.

Năm 690, Đường Duệ Tông nhường ngôi cho mẹ mình là Võ Tắc Thiên làm hoàng đế nhà Chu, làm gián đoạn nhà Đường. Đường Duệ Tông bị giáng xuống làm Hoàng tự (皇嗣) thay vì Thái tử, đổi họ Lý thành họ Võ. Lưu hoàng hậu sau 7 năm tại ngôi bị giáng xuống làm Hoàng tự phi (皇嗣妃).

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 693, dưới Triều đại của Võ Tắc Thiên, đại thần Võ Thừa Tự (武承嗣) được Võ Tắc Thiên tin tưởng, do có mâu thuẫn với Võ Đán (đã đổi họ Lý thành họ Võ), đã vu cáo Lưu thị cùng người thiếp của Võ Đán, Đậu thị lập đàn bùa phép mưu hại Võ hậu. Do đó Võ hậu cho xử tử cả Lưu thị và Đậu thị.

Vào một dịp khi Lưu thị và Đậu thị đến thỉnh an Võ Tắc Thiên, chờ đến khi cả hai đi khỏi, Võ Tắc Thiên đã sai người giết cả hai. Thi thể cả hai người được giấu kín trong cung. Trước sự mất tích của hai người vợ, Võ Đán lo sợ không biết mẹ mình sẽ làm gì tiếp theo. Sau đó kế hoạch vu khống đến tai Võ Tắc Thiên, Võ Tắc Thiên đã cho xử tử kẻ vu khống.

Năm 710, Đường Duệ Tông đăng cơ trở thành hoàng đế lần thứ 2. Lưu hoàng hậu được truy phong thụy hiệuTúc Minh Thuận Thánh hoàng hậu (肅明順聖皇后). Tuy nhiên, do không tìm được thi hài của Lưu hoàng hậu và Đậu Đức phi, Duệ Tông chỉ an táng trên danh nghĩa Lưu hoàng hậu vào lăng mộ hoàng tộc.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu hoàng hậu có với Đường Duệ Tông 3 người con, 1 hoàng tử và 2 hoàng nữ:

  1. Hoàng trưởng tử Lý Thành Khí [李成器; 679 - 15 tháng 1, 742], sau đổi tên là Lý Hiến (李憲), con trai trưởng của Duệ Tông. Ông tính người tài hoa, trọng thi ca, hưởng thụ. Khi Duệ Tông phục vị, ông nhường ngôi Hoàng thái tử cho người em là Lý Long Cơ, sau khi Long Cơ đăng ngôi, rất coi trọng ông, phong chức Thái tử Thái sư, Thái úy, tước vị Ninh vương (寧王). Sau khi qua đời, ông được tôn phong làm Nhượng hoàng đế (让皇帝).
  2. Hoàng trưởng nữ Thọ Xương công chúa [寿昌公主; 680 - ?], hạ giá Thôi Trân (崔珍).
  3. Hoàng tứ nữ Đại Quốc công chúa [代国公主; 689 - 734], tên Hoa (华), tiểu tự Hoa Uyển (华婉), sơ phong Thọ Quang huyện chúa (寿光县主), hạ giá lấy Trịnh Vạn Quân (郑万钧). Duệ Tông phục vị, tấn phong Vĩnh Xương công chúa (永昌公主), Huyền Tông tấn phong Đại Quốc Trưởng công chúa (代国长公主). bà sinh được 2 trai và 4 gái, con trưởng Trịnh Tiềm Diệu (鄭潛曜) về sau lấy Lâm Tấn công chúa (臨晉公主).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]