Viêm ruột

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bệnh viêm ruột gồm có hai dạng chính: bệnh viêm loét ruột kết mạn tính và bệnh Crohn[5][6][7].

  • Bệnh viêm loét đại tràng mạn tính: bệnh khu trú ở ruột kết và trực tràng, trong trường hợp bệnh nhẹ chỉ có trực tràng bị tổn thương. Trong trường hợp bệnh nặng, có loét rộng, có thể mất nhiều niêm mạc, có nguy cơ giãn kết tràng do độc và đó là biến chứng gây tử vong
  • Bệnh Crohn: được đặc trưng có những vùng của dạ dày-ruột bị dày lên, có viêm lan ra tất cả các lớp, loét sâu, lớp viêm mạc nứt nẻ và sự có mặt của u hạt. Chỗ tổn thương có thể ở bất kỳ chỗ nào của dạ dày-ruột, xem kẻ vào những vùng mô tương đối bình thường

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Ở bệnh nhân bị bệnh viêm ruột mãn tính có các biểu hiện như tăng sự di cư của bạch cầu, sản xuất cytokine bất thường, tăng sản xuất các chất chuyển hóa của acid arachidonic, tăng sự sản xuất chất nhầy của các chất chuyển hóa của arachidonic acid và tăng hình thành gốc tự do ở mô ruột bị viêm.

Chẩn đoán[sửa | sửa mã nguồn]

  • Viêm đại tràng mạn do nhiễm khuẩn và ký sinh trùng: thường gặp nhất là do chlamydia, herpes và amíp, lao ruột, lỵ trực khuẩn, viêm đại tràng giả mạc do Clostridium diffcile
  • Bệnh Crohn: đây là loại bệnh có cơ chế bệnh sinh và hình thái lâm sàng rất gần với viêm loét đại trực tràng chảy máu, chẩn đoán phân biệt cần dựa vào nội soi với hình ảnh tổn thương khu trú hay nhảy cóc và nhất là sinh thiết với sự hiện diện của tế bào biểu mô khổng lồ.
  • Bệnh viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ: thường xảy ra ở người già có dấu hiệu xơ vữa động mạch. Lâm sàng có dấu hiệu thiếu máu ruột sau khi ăn. Xác định bằng chụp nhuộm động mạch mạc treo thấy hình ảnh teo hẹp.
  • Viêm đại tràng do tia xạ: tiền sử bệnh nhân có chiếu tia xạ vùng bụng nhất là hạ vị.

Triệu chứng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bệnh viêm đại tràng mạn tính: tiêu chảy nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nhầy máu, nếu nặng có khi chỉ toàn nhầy máu mà không có phân, chảy máu trực tràng, những biểu hiện bên ngoài ruột giống như bệnh Crohn
  • Bệnh Crohn: đau bụng, tiêu chảy, sốt, sút cân, chảy máu trực tràng và những tổn thương ngoài ruột gồm tổn thương khớp, da, loét miệng, loạn chức năng gan

Phòng ngừa[sửa | sửa mã nguồn]

Với bệnh Crohn, chế độ ăn uống có vai trò quan trọng, nhưng với bệnh viêm ruột kết mạn tính thì chế độ ăn uống vai trò thấp hơn.

Song song với việc điều trị theo chỉ định của bác sĩ, cần có chế độ dinh dưỡng tốt cho hệ tiêu hóa của bệnh nhân, tránh stress và khám sức khỏe định kỳ. Không chỉ vậy, đây cũng là những biện pháp giảm nguy cơ mắc bệnh đối với người khỏe mạnh. 

Khi có triệu chứng, cần đi khám bệnh sớm và điều trị kịp thời khi tổn thương chưa lan rộng; theo dõi thường xuyên, định kỳ 6 tháng 1 lần bằng soi đại tràng và sinh thiết đại tràng và đại tràng sigma để phát hiện giai đoạn loạn sản nặng hoặc là giai đoạn đầu của tiến triển ung thư.

Thực phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Hạn chế     [sửa | sửa mã nguồn]

Đồ tươi/sống[sửa | sửa mã nguồn]

Rau sống.

Chất xơ cứng, dạng không tan (dạng cellulose):[sửa | sửa mã nguồn]

Hạt khô, trái cây khô/đóng hộp,... khi bị tiêu chảy để thành ruột khỏi bị “cọ xát”.

Acid béo không bão hòa[sửa | sửa mã nguồn]
  • Omega 6 (linoleic acid LA): dầu thực vật, chất béo, thịt mỡ, trứng. Eicosanoids tạo ra từ omega 3 có tác dụng chống viêm nhưng nếu tạo ra từ omega 6 lại có tác dụng gây viêm[8].
  • Acid béo chuyển hóa, hydro hóa không bão hòa (trans-unsaturated fatty acid, trans fat): dầu thực vật, thực phẩm đã qua chế biến/chế biến sẵn (thức ăn nhanh)[9].
Sữa tươi, thực phẩm có nhiều đường lactose[sửa | sửa mã nguồn]

Sữa như một yếu tố dị nguyên, khi uống vào có thể kích thích niêm mạc đại tràng.

Nước ngọt có ga, đồ ngọt.[sửa | sửa mã nguồn]
Các chất kích thích[sửa | sửa mã nguồn]
  • Chua, cay: gia vị (ớt, tỏi sống).
  • Rượu bia, thuốc lá, cà phê.

Nên dùng     [sửa | sửa mã nguồn]

Uống đủ nước.[sửa | sửa mã nguồn]
Nhiều đạm[sửa | sửa mã nguồn]

Thịt nạc, cá nạc, sữa đậu nành.

Chất xơ mềm[sửa | sửa mã nguồn]
  • Rau luộc có nhiều lá (rau ngót, rau  muống, rau cải...) khi không bị tiêu chảy.
  • Củ sen: ngăn ngừa các bệnh có liên quan đến ruột, kiểm soát tình trạng sưng phồng do ruột bị viêm nhiễm, ngăn chặn tình trạng xuất huyết ở thực quản, ruột, dạ dày, ruột kết và mũi. Xem thêm Các bài thuốc cầm máu viêm ruột
Probiotic (lợi khuẩn)[sửa | sửa mã nguồn]

Sữa chua. Một số thử nghiệm khoa học cũng phát hiện rằng sữa chua có vi khuẩn "tốt", được gọi là probiotic, làm giảm viêm[8].

Acid béo không bão hòa[sửa | sửa mã nguồn]
  • Omega 3 (eicosapentaenoic acid EPA): dầu cá. EPA chặn một số hóa chất trong cơ thể là các leukotriene. Dầu cá là một nguồn tốt của EPA. Trong một số xét nghiệm, mọi người được hưởng lợi từ liều rất cao của nó. dù nhiều người không thích mùi vị tanh cá[8]. Các chuyên gia khuyên người tiêu dùng lựa chọn sử dụng dầu oliu và dầu hạt cải (canola) có hai loại axit béo omega 6 lẫn omega 3 cân bằng lẫn nhau.
  • Omega 9 (oleic acid OA): dầu ôliu (olive oil), dầu hạt cải (canola oil, rapeseed oil). Nghiên cứu dẫn đầu bởi tiến sĩ Andrew Hart ở Đại học Đông Anglia (UEA) ở Anh thực hiện với 25.000 bệnh nhân độ tuổi 40 – 65 cho thấy, những người có hàm lượng acid oleic trong bữa ăn cao nhất giảm được tới 90% nguy cơ viêm loét đại tràng chảy máu. Acid oleic giúp phòng ngừa viêm loét đại tràng chảy máu bằng cách ngăn chặn các hóa chất gây viêm trong ruột. Theo ước tính của các nhà nghiên cứu, khoảng một nửa số ca viêm loét đại tràng chảy máu có thể phòng ngừa nếu acid oleic được sử dụng phổ biến trong bữa ăn. Dùng 2 – 3 thìa canh dầu ôliu mỗi ngày là cách đơn giản để phòng bệnh[10].

Thói quen[sửa | sửa mã nguồn]

Ăn[11][12]:[sửa | sửa mã nguồn]
  • Đúng giờ, không nên bỏ bữa.
  • Vừa đủ, tránh ăn quá nhiều. Ăn quá nhiều có thể gây áp lực cho hệ tiêu hóa, đồng thời làm cho các triệu chứng bệnh viêm ruột tồi tệ hơn. Cố gắng ăn 5 hoặc 6 bữa nhỏ mỗi ngày, mỗi bữa cách nhau 2 đến 3 giờ sẽ tốt hơn chế độ ăn 3 bữa mỗi ngày như bình thường.
  • Tránh ăn các món ăn lạ.
  • Khi chế biến thức ăn nên hấp hoặc luộc, hạn chế xào rán.
Làm việc, nghỉ ngơi điều độ[13].[sửa | sửa mã nguồn]
Giữ tinh thần thoải mái[sửa | sửa mã nguồn]
  • Tránh suy nghĩ, stress quá mức, trầm cảm, lo âu[14]. Mặc dù stress không gây ra bệnh viêm ruột, nó có thể làm cho các dấu hiệu và triệu chứng tồi tệ hơn và có thể gây bùng nổ.  Khi bị stress, quá trình tiêu hóa bình thường có thể thay đổi, gây ra dạ dày trống chậm hơn và tiết ra axit hơn. Stress cũng có thể tăng tốc hoặc làm chậm việc tiêu hóa ở đường ruột. Nó cũng có thể gây ra những thay đổi trong mô ruột[15].
  • Thư giãn.
  • Tập thể dục, dưỡng sinh (yoga, thiền, thở bằng bụng).

Điều trị[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu ý[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bệnh viêm ruột (IBDs) rất khó chữa khỏi hẳn mà chỉ có thể phòng ngừa thứ phát do chưa xác định được chính xác nguyên nhân gây bệnh cũng như hiện nay vẫn chưa có thuốc để điều trị dứt điểm. Vì vậy mục đích của điều trị là giúp giảm bệnh, tránh các biến chứng. Do đó, bệnh nhân có thể sẽ được yêu cầu chữa trị suốt đời để giúp kiểm soát các triệu chứng của họ và cần học cách sống chung với bệnh, nhận biết các dấu hiệu để can thiệp, điều trị kịp thời. Tùy theo tình trạng, giai đoạn của bệnh, tổng trạng của bệnh nhân mà bác sĩ sẽ chỉ định dùng thuốc cụ thể. Với các ca viêm loét đại tràng nhẹ, có thể điều trị ngoại trú, trường hợp nặng phải nhập viện. Thời gian nằm viện trung bình của một bệnh nhân viêm loét đại tràng từ bảy - mười ngày.  
  • Việc điều trị bệnh viêm loét đại tràng khá phức tạp, đòi hỏi sự hợp tác cao độ của bệnh nhân, bởi bệnh rất dễ tái phát. Theo thống kê, đối với bệnh viêm loét đại tràng, hiệu quả của điều trị nội khoa đáp ứng 70%, 50% bệnh lý tái phát sau hai năm. 25% cần phải phẫu thuật[16]
  • Biện pháp duy nhất để điều trị khỏi bệnh hoàn toàn là phẫu thuật cắt bỏ đại tràng. Phương pháp này thường được áp dụng trong trường hợp nặng thủng đại tràng, phình đại tràng gây nhiễm độc, xuất huyết nặng hoặc ung thư hoặc khi bệnh không đáp ứng khi điều trị bằng thuốc.

Thuốc tây[17][sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù có nhiều điểm khác biệt nhau về nguyên nhân, triệu chứng nhưng cả hai dạng bệnh trên có những nguyên lý chung trong điều trị, những thuốc dùng là giống nhau

Hợp chất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Các aminosalicylate hoặc corticosteroid (corticoid) là thuốc lựa chọn đầu tiên ở dạng bệnh hoạt động. Hợp chất aminosalicylate và dẫn chất dùng để điều trị các ca bệnh nhẹ và có vai trò đặc biệt trong điều trị bệnh viêm ruột kết mạn tính loét, nhưng vai trò của những thuốc này trong điều trị bệnh Crohn chưa được xác định rõ. Từ sulfasalazine đã mở đường cho việc phát triển Olsalazine (2 phân tử acid 5-amino salicylic liên kết với nhau qua cầu nối azo), Mesalazine (5-amino salicylic acid). Các thuốc này đều có hoạt tính với viêm ruột kết tràng loét mạn tính hoạt động, lại dung nạp tốt hơn sulfasalazine vì chất sulfasalazine có nhiều tác dụng phụ mà chủ yếu là do phần sulffonamide gây ra. Nhưng với những bệnh nhân dung nạp tốt sulfasalazine thì các thuốc mới không có ưu điểm gì hơn.
  • Thuốc quan trọng thứ hai dùng trong điều trị viêm ruột kết mạn tính loét là các corticosteroid. Corticosteroid có hoạt tính rộng và là thuốc ưu tiên dùng trong những ca bệnh cấp tính từ vừa đến nặng nhất, liều dùng và đường dùng thuốc phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh, việc dùng corticosteroid đường toàn thân chỉ dành riêng cho những bệnh nhân không đáp ứng với liệu pháp dùng tại chỗ. Prednisone hay prednisolone đường uống hay được sử dụng.
  • Các thuốc khác dùng trong bệnh viêm ruột hoạt động phải kể đến thuốc ức chế miễn dịch. Nhiều nghiên cứu tập trung vào các chất azathioprin hay chất chuyển hóa của nó là mercaptopurine. Thuốc thể hiện hiệu quả chậm, nhưng có ích cho những bệnh nhân bị bệnh Crohn, nhất là bị rò và cho những ca viêm kết tràng mạn tính loét khó trị. Nhưng kết quả tốt nhất đạt được với những bệnh nhân đang dùng corticosteroid, rồi dùng thêm các chất ức chế miễn dịch. Methotrexat liều thấp có ích với bệnh Crohn và bệnh viêm ruột kết mạn tính loét, nhưng ciclosporin thì kết quả kém.
  • Metronidazol có tác dụng hạn chế trong viêm ruột nhưng lại có tác dụng trong những biểu hiện của bệnh Crohn vùng đáy chậu. Các kháng sinh khác được dùng theo kinh nghiệm: ciprofloxacin được ưa chuộng, nhưng thiếu bằng chứng  thuyết phục và đã được dùng kết hợp với metronidazol và liệu pháp không được dung nạp tốt. Ritarubin được dùng kết hợp với một macrolid (clarithromycin hay azithromycin) tỏ ra có hiệu quả. 
  • Một số thuốc đã được dùng trong viêm ruột hoạt động: các globulin, miễn dịch, các interferon, các acid béo chuỗi ngắn, heparin, yếu tố XIII, chloroquin, triglyceride của các acid omega3, omeprazol camostat mesylat, ketotifen, infliximad. Các chất ức chế yếu tố gây hoại tử khối u như: thalidomid, oxypentifyllin đã được thử, trong đó thalidomid có một số kết quả tốt.
  • Các thuốc chống tiêu chảy phải dùng cẩn thận và trong viêm ruột nặng phải tránh hoàn toàn loại thuốc này vì nguy cơ gây độc cho ruột kết to. Trong trường hợp bệnh nặng, phải chống suy dinh dưỡng.

Đối tượng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Với những bệnh nhân có bệnh ở đoạn cuối của kết tràng hay ở trực tràng, thì có thể dùng thuốc tại chỗ như các thuốc đạn prednisolone hay mesalazine là thích hợp. Nhưng đối với viêm trực kết tràng thì thuốc thụt thích hợp hơn với các dung dịch thụt mesalazine (Pentasa Enemas 1g/100ml) hay corticosteroid. Kết quả cho thấy dùng mesalazine đường trực tràng có hiệu quả hơn dùng corticosteroid đường trực tràng để điều trị viêm kết tràng mạn tính loét.
  • Nếu bệnh nặng, bệnh nhân sẽ phải nhập viện, không ăn uống, nuôi ăn qua tĩnh mạch để đại tràng được nghỉ ngơi. Bên cạnh đó, người bệnh sẽ được cho dùng thuốc kháng viêm Mesalazine (5-ASA) phối hợp với corticoid, nếu vẫn không hiệu quả thì thêm thuốc ức chế miễn dịch. Trong những trường hợp nặng nhất thì tiêm tĩnh mạch hydrocortison hay methylprednisolon hay methylpresnisolon. Ban đầu dùng liều cao, sau giảm dần khi triệu chứng được cải thiện, nhưng tác dụng phụ của cách dùng này là vấn đề cần quan tâm. Vì vậy, người ta chú ý đến những corticosteroid khó hấp thu hoặc chuyển hóa nhanh như beclomethasone, budesonid, fluticasone, tixocortol. Budesonid dùng đường uống gây thoái triển bệnh Crohn và tác dụng tương đương với các corticosteroid thường dùng, nhưng tác dụng phụ ít hơn. Nó có hiệu quả hơn mesalazine trong trường hợp bệnh Crohn ở hồi tràng hay kết tràng, hay cả hai.
  • Điều trị duy trì: thuốc 5-aminosalicylat làm cho bệnh viêm ruột kết mạn tính loét đã thuyên giảm được ổn định. Mesalazine có thể làm giảm những đợt tái phát bệnh Crohn sau khi xử lý phẫu thuật. Nói chung các corticoid không có hiệu quả trong duy trì cả hai bệnh.

Thuốc nam/Đông y [sửa | sửa mã nguồn]

Bài thuốc 1[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Mật lợn tươi: 1 cái (lợn có trọng lượng từ 70 kg đến 100 kg).

Nghệ vàng tươi: 02 lạng.

Mật ong: 30ml.

Ngải cứu tươi: 5 bó to (Tương đương với khoảng 500g).

Cách làm[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ tươi và ngải cứu rửa sạch, cắt nhỏ cho vào máy xay sinh tố xay cùng với 0,5 lít nước thật nhuyễn. Khi xay ngải cứu và nghệ: nên xay ngải cứu trước lọc lấy nước sau đó dùng nước đó xay nghệ cho đỡ nhiều nước. Lọc có thể dùng vải màn xô 2 lớp (vải phin) lấy nước. Bã bỏ đi. Mật lợn lọc lấy nước (vì mật lợn hay có sạn sỏi bên trong). Cho tất cả phần nước hỗn hợp nghệ + ngải cứu + nước mật lợn + mật ong vào một nồi, lúc đầu đun to lửa, nhớ mở vung nồi cho thuốc bay hơi nhanh, khi thuốc ở dạng sệt thì đun nhỏ lửa và khuấy đều luôn tay để cô lại thành cao. Nấu khoảng 5 giờ. Khi thuốc bám vào đũa không nhỏ lại xuống nồi là được. Thành phẩm thu được dẻo như kẹo kéo. Cho phần cao đó vào một cái lọ bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh để sử dụng dần. Lưu ý: Để tránh mất thời gian và đủ lượng dùng, ta nên làm một lần với tỷ lệ trên cho 4 hoặc 5 cái mật lợn.

Cách dùng[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi ngày 2 lần: Sáng và tối, uống vào trước bữa ăn 30 phút. Liều lượng mỗi lần 1 viên to như hạt lạc là đủ. Cần uống liên tục trong 3 tháng.

Bài thuốc 2 [sửa | sửa mã nguồn]

Lấy vài lá Sanchezia tươi rửa sạch và nhai sống với một hạt muối là cắt cơn đau lập tức, dùng một thời gian thì khỏi hẳn. Ngoài việc ăn sống còn có thể sắc lá khô thay nước chè uống hằng ngày.

Bài thuốc 3 [sửa | sửa mã nguồn]

Khi giết gà lấy thịt người ta thường bóc lớp màng màu vàng mặt trong dạ dày gà hay gọi là mề phơi khô để dành. Màng mề gà còn có tên kê nội kim, kê hoàng bì, kê chuẩn bì. Khi dùng đem đốt tồn tính hoặc sao vàng với cát cho phồng lên, tuỳ theo kinh nghiệm và cách chữa trị. Kê nội kim (sao với cát, sau đó rây bỏ cát) ngày dùng 6 - 12g tán bột chia 3 - 4 lần uống. Trẻ em dùng 1/3 liều.

Bài thuốc 4[sửa | sửa mã nguồn]

Lấy rau diếp cá 50 g, sắc lấy nước, ngày uống 2-3 lần trước bữa ăn, dùng 4 – 6 ngày sẽ khỏi.

Các bài thuốc cầm máu viêm ruột[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bác sĩ Thanh Bình (18/09/2013). “Ăn đúng cách trong bệnh viêm đại tràng mạn tính”. 
  2. ^ Nguyễn Phượng (15 tháng 6 năm 2014). “6 thực phẩm bệnh nhân viêm loét đại tràng cần tránh”. 
  3. ^ ThS. Bùi Hữu Thời (19 tháng 8 năm 2010). “Cảnh giác với viêm đại tràng mạn tính”. 
  4. ^ Dược sĩ Phạm Thiệp (12 tháng 11 năm 2009). “Các thuốc điều trị viêm ruột”. Sức Khỏe & Đời Sống. 
  5. ^ Baumgart DC, Carding SR (2007). “Inflammatory bowel disease: cause and immunobiology.”. The Lancet 369 (9573): 1627–40. doi:10.1016/S0140-6736(07)60750-8. PMID 17499605. 
  6. ^ Baumgart DC, Sandborn WJ (2007). “Inflammatory bowel disease: clinical aspects and established and evolving therapies.”. The Lancet 369 (9573): 1641–57. doi:10.1016/S0140-6736(07)60751-X. PMID 17499606. 
  7. ^ Xavier RJ, Podolsky DK (2007). “Unravelling the pathogenesis of inflammatory bowel disease.”. Nature 448 (7152): 427–34. doi:10.1038/nature06005. PMID 17653185. 
  8. ^ a ă â Robinson, Jennifer (ngày 10 tháng 11 năm 2014). “Make an Ulcerative Colitis Diet Plan”. WebMD, LLC. WebMD Medical Reference. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2014. 
  9. ^ “Long-term intake of dietary fat and risk of ulcerative colitis and Crohn's disease”. PubMed.gov. Gut. 1 tháng 1 năm 2014. doi:10.1136/gutjnl-2013-305304. PMID 23828881. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2014. 
  10. ^ “Dietary arachidonic and oleic acid intake in ulcerative colitis etiology”. PubMed.gov. Eur J Gastroenterol Hepatol. 1 tháng 1 năm 2014. doi:10.1097/MEG.0b013e328365c372-26(1)11-8. PMID 24216567. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2014. 
  11. ^ Bác sĩ Thanh Bình (18/09/2013). “Ăn đúng cách trong bệnh viêm đại tràng mạn tính”. 
  12. ^ Nguyễn Phượng (15 tháng 6 năm 2014). “6 thực phẩm bệnh nhân viêm loét đại tràng cần tránh”. 
  13. ^ ThS. Bùi Hữu Thời (19 tháng 8 năm 2010). “Cảnh giác với viêm đại tràng mạn tính”. 
  14. ^ “Viêm loét đại trực tràng chảy máu: Bệnh không thể xem nhẹ”. 10 tháng 10 năm 2014. 
  15. ^ “Viêm loét đại tràng”. 
  16. ^ Bác sĩ Mã Phước Nguyên (22 tháng 5 năm 2014). “Cần điều trị kịp thời bệnh viêm loét đại tràng”. 
  17. ^ Dược sĩ Phạm Thiệp (12 tháng 11 năm 2009). “Các thuốc điều trị viêm ruột”. Sức Khỏe & Đời Sống. 
  • Thuốc biệt dược & cách sử dụng, phần chuyên khảo, DS.Phạm Thiệp-DS.Vũ Ngọc Thuý, NXB Y Học 2005

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]