Yoasobi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
YOASOBI
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quánNhật Bản
Dòng nhạcJ-pop
Năm hoạt động2019 (2019)–nay
Hãng đĩaSony Music Japan
Websitewww.yoasobi-music.jp
Thành viên
  • Ayase (music)
  • ikura (vocal)

YOASOBI là một "bộ đôi âm nhạc Nhật Bản" tạo ra "âm nhạc từ những tiểu thuyết" (novel into music). YOASOBI có 2 thành viên chính, gồm nhà sản xuất nhạc Vocaloid Ayase chủ yếu đảm nhiệm phần sáng tác, soạn nhạc, viết lời và ikura phụ trách góp giọng. Nhóm đã phát hành gần 20 video âm nhạc, trong đó có 8 bài hát đã được phát hành thêm bản tiếng Anh và nằm trong đĩa mở rộng thứ 2 "E-SIDE". Hầu hết đều dựa trên truyện ngắn được đăng trên Monogatary, một trang web do Sony Music Japan điều hành.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Cả hai thành viên của YOASOBI đều có thành công trong sự nghiệp âm nhạc trước khi thành lập nhóm. Ayase đã thu hút được nhiều người theo dõi trên trang Niconico của mình kể từ lần tải lên đầu tiên vào ngày 24 tháng 12 năm 2018, bài hát có tựa đề Sentensei Assault Girl (先天性アサルトガール?). Vào ngày 23 tháng 11 năm 2019, anh ấy đã phát hành EP, Yūrei Tōkyō (幽霊東京?), đạt thứ ba trên bảng xếp hạng album của iTunes.[1][2] Rira Ikuta (幾田りら?), biểu diễn dưới tên ikura, đã phát hành hai EP: Rerise vào năm 2017 và Jukebox vào năm 2019.[3]

Nổi lên với đĩa đơn đầu tay: "Yoru ni Kakeru"[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát đầu tiên do bộ đôi phát hành là "Yoru ni Kakeru" (Tiến vào màn đêm), dựa trên truyện ngắn "Thanatos no Yūwaku" của Mayo Hoshino. Video âm nhạc được phát hành vào ngày 16 tháng 11 năm 2019, đạt 10 triệu lượt xem trong 5 tháng trên YouTube cũng như phổ biến trên TikTok.[4] Sau đó, nó được phát hành dưới dạng đĩa đơn vào ngày 15 tháng 12 năm 2019 và đứng đầu bảng xếp hạng phổ biến trên cả SpotifyLine Music.[5] Hơn năm tháng sau khi phát hành, đĩa đơn này đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Japan Hot 100 vào ngày 1 tháng 6 năm 2020 và nhiều ngày sau đó.[6]

Các ca khúc tiếp theo: "Ano Yume wo Nazotte" và "Halzion"[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thành công của bản phát hành đầu tiên, vào ngày 18 tháng 1 năm 2020, YOASOBI phát hành đĩa đơn thứ hai của họ, "Ano Yume wo Nazotte" (Truy tìm giấc mơ đó), lần này dựa trên "Yume no Shizuku to Hoshi no Hana" của Sōta Ishiki.[7] Vào ngày 20 tháng 4 năm 2020, YOASOBI đã phát hành một đoạn teaser cho đĩa đơn thứ ba của họ, "Halzion", dựa trên "Soredemo, Happy End" của Shunki Hashizume. "Halzion" đánh dấu lần đầu tiên YOASOBI hợp tác với một tiểu thuyết gia chuyên nghiệp, trong khi hai người đầu tiên là những nhà văn nghiệp dư. Đĩa đơn được phát hành như một dự án quảng cáo của Suntory để quảng cáo cho thức uống năng lượng mới của họ có tên ZONe.[8] Đĩa đơn được phát hành chính thức vào ngày 11 tháng 5 năm 2020.[9]

"Tabun", "Gunjō" và "Haruka"[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nửa cuối năm, YOASOBI phát hành đĩa đơn thứ tư "Tabun" vào ngày 20 tháng 7. Bài hát dựa trên truyện ngắn cùng tên của Shinano. Vào ngày 1 tháng 9, bộ đôi phát hành đĩa đơn thứ năm, "Gunjō". Bài hát được hợp tác cùng với manga Blue Period cho quảng cáo Alfort Mini Chocolate của Bourbon, và dựa trên Ao o Mikata ni. Văn bản câu chuyện dựa trên quảng cáo truyền hình của Alfort. Vào ngày 18 tháng 12, bộ đôi phát hành đĩa đơn thứ sáu "Haruka", dựa trên tiểu thuyết của Osamu Suzuki, Tsuki Ōji.

Vào ngày 31 tháng 12 năm 2020, họ ra mắt trong chương trình NHK Kōhaku Uta Gassen lần thứ 71 và biểu diễn "Yoru ni Kakeru", đây cũng là buổi biểu diễn trực tiếp đầu tiên của họ.

THE BOOK và các sản phẩm sau đó[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 6 tháng 1 năm 2021, YOASOBI phát hành vở kịch mở rộng đầu tiên của họ và bản phát hành vật lý đầu tiên THE BOOK, bao gồm 6 bài hát trước đó và 3 bài hát mới, "Encore" dưới dạng bài hát quảng cáo, "Epilogue" dưới dạng phần giới thiệu và "Prologue" dưới dạng outro. Bộ đôi cũng phát hành đĩa đơn thứ bảy, "Kaibutsu", trong cùng ngày. Bài hát đã được chỉ định làm bài hát chủ đề mở đầu cho mùa thứ hai của loạt phim truyền hình anime BEASTARS. Bài hát chủ đề kết thúc của anime và đĩa đơn thứ tám của nhóm "Yasashii Suisei", được phát hành vào ngày 20 tháng 1 năm 2021, duy nhất ở định dạng vật lý vào ngày 24 tháng 3 năm 2021.

Bộ đôi đã mở trang web fanclub của họ "Club YOASOBI" (CLUB 夜遊) vào ngày 20 tháng 1,  và thông báo rằng họ sẽ tổ chức buổi hòa nhạc đầu tiên, KEEP OUT THEATER vào ngày 14 tháng 2. Họ đã tổ chức và biểu diễn tại bên trong của tòa nhà đang được xây dựng tại địa điểm cũ của Shinjuku Milano cho 40.000 khán giả trực tuyến.

Nhóm cũng vừa phát hành 2 ca khúc mới: một cho chương trình buổi sáng Mezamashi TV của kênh Fuji TV với tựa đề "Mō Sukoshi Dake", được phát hành vào ngày 10/6. Bài còn lại dành cho quảng cáo dịch vụ di động ahamo của NTT Docomo, có tựa đề "Sangenshoku" (三原色), dựa trên tiểu thuyết có tên "RGB" của nhà viết kịch Yūichirō Komikado.

Đĩa mở rộng E-SIDE và THE BOOK 2[sửa | sửa mã nguồn]

Vào 0h ngày 12/11/2021 (giờ Nhật), YOASOBI chính thức phát hành đĩa mở rộng thứ 2 của mình mang tên "E-SIDE". Bao gồm 8 bài hát của bộ đôi được chuyển ngữ sang tiếng Anh bởi Konnie Aoki.

Danh sách bài hát:

E-SIDE
STTTựa đềThời lượng
1."Into the Night"4:19
2."Haven't"4:16
3."Monster"3:25
4."Comet"3:33
5."RGB"3:39
6."Encore"4:30
7."Blue"4:06
8."Tracing a Dream"4:01
Tổng thời lượng:31:49

Bộ đôi cũng vừa phát hành đĩa mở rộng tiếp theo "THE BOOK 2" vào 0h ngày 1/12/2021 (giờ Nhật).

Danh sách bài hát:

THE BOOK 2
STTTựa đềThời lượng
1."Tsubame (feat. Midories)"3:36
2."Sangenshoku"3:40
3."Taisho Roman"2:46
4."Mō Sukoshi Dake"3:38
5."Yasashii Suisei"3:33
6."Kaibutsu"3:25
7."Moshimo inochi ga kaketara"3:21
8."Love Letter"3:30

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ayase - nhà sản xuất (lời bài hát, sáng tác, keyboard, ...)
  • ikura - giọng hát
Thành viên hỗ trợ[10][11][12]
  • Zakuro Misohagi - keyboard, chorus
  • AssH - guitar
  • Honogumo - trống
  • Hikaru Yamamoto - bass, synth bass

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Bản tiếng Nhật[sửa | sửa mã nguồn]

STT Ngày phát hành Tiêu đề Tạm dịch/ Tựa tiếng Anh Tư liệu chuyển thể Album Biểu đồ vị trí Chứng chỉ
Tác giả Tiêu đề Billboard Japan Hot 100
1 15 tháng 12 năm 2019 "Yoru ni Kakeru" (夜に駆ける?) "Tiến vào màn đêm"

(Racing into the Night)

Mayo Hoshino (星野舞夜?) "Thanatos no Yūwaku" (タナトスの誘惑?) THE BOOK 1 [6]
  • RIAJ (tải xuống): Bạch kim kép [13]
  • RIAJ (phát trực tuyến): Kim cương [14]
2 18 tháng 1 năm 2020 "Ano Yume wo Nazotte" (あの夢をなぞって?) "Truy tìm giấc mơ đó"

(Tracing that Dream)

Sōta Ishiki (いしき蒼太?) "Yume no Shizuku to Hoshi no Hana" (夢の雫と星の花?) 32 [15]
  • RIAJ (phát trực tuyến): Bạch kim
3 11 tháng 5 năm 2020 "Halzion" (ハルジオン?) "Halzion" Shunki Hashizume (橋爪駿輝?) "Soredemo, Happy End" (それでも、ハッピーエンド?) 10
  • RIAJ (tải xuống): Vàng
  • RIAJ (phát trực tuyến): Bạch kim
4 20 tháng 7 năm 2020 "Tabun" (たぶん?) "Có lẽ"

(Probably)

Shinano (しなの?) "Tabun" (たぶん?) 15 [16]
  • RIAJ (phát trực tuyến): Bạch kim
5 1 tháng 9 năm 2020 "Gunjou" (群青?) "Xanh lam"

(Ultramarine)

Nhóm sáng tạo alfort (alfort creative team?) "Blue Period" (ブルーピリオド?) 6
  • RIAJ (tải xuống): Vàng
  • RIAJ (phát trực tuyến): Bạch kim
6 18 tháng 12 năm 2020 "Haruka" (ハルカ?) "Haruka" Suzuki Osamu (鈴木おさむ?) "Tsuki Ōji" (月王子?) 17
  • RIAJ (phát trực tuyến): Bạch kim
7 2 tháng 7 năm 2021 (phát hành trước vào 6/1/2021 trong EP THE BOOK) "Encore" (アンコール?) "Encore" Kamina Minakami (かみなみながみ?) "SEKAI NO OWARI to, Sayonara no Uta" (世界の終わりと, さよならのうた?) 8
  • RIAJ (phát trực tuyến): Bạch kim
8 6 tháng 1 năm 2021 "Kaibutsu" (怪物?) "Quái thú"

(Monster)

Paru Itagaki (板垣巴留?) "Jibun no Mune ni Jibun no Mimi o Oshi Atete" (自分の胸に自分の耳を押し当てて?) 2
  • RIAJ (tải xuống): Vàng
  • RIAJ (phát trực tuyến): Bạch kim
9 20 tháng 1 năm 2021 "Yasashii Suisei" (優しい彗星?) "Ngôi sao chổi dịu dàng"

(Comet)

"Shishiza Ryūseigun no Mama ni" (獅子座流星群のままに?) 14
  • RIAJ (phát trực tuyến): Vàng
10 10 tháng 5 năm 2021 "Mō Sukoshi Dake" (もう少しだけ?) "Chỉ một chút nữa thôi" (Just a little more) Chiharu (千春?) "Meguru" (めぐる?) THE BOOK 2 4
11 2 tháng 7 năm 2021 "Sangenshoku" (三原色?) "Ba màu cơ bản"

(Primary colors)

Yuichiro Komikado (小御門優一郎?) "RGB" (RGB?) 4
12 9 tháng 8 năm 2021 "Love Letter" (ラブレター?) "Bức thư tình" Hatsune (はつね?) "Ongaku-san e" (音楽さんへ?) 4
13 15 tháng 9 năm 2021 "Taishō Roman" (大正浪漫?) "Chuyện tình Taisho" NATSUMI (NATSUMI?) "Taishou Romance" (大正ロマンス?) 2
14 25 tháng 10 năm 2021 "Tsubame (feat. Midories)" (ツバメ (feat. ミドリーズ)?) "Chim én" Nana Ototsuki (乙月なな?) "Chiisana Tsubame no Ōkina Yume" (小さなツバメの大きな夢?) 19

Bản tiếng Anh (đĩa mở rộng E-SIDE)[sửa | sửa mã nguồn]

Các bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Yoru ni Kakeru[sửa | sửa mã nguồn]

"Yoru ni Kakeru" (tiếng Nhật: 夜に駆ける, "Racing into the Night", tạm dịch: "Tiến vào màn đêm") là bài hát đầu tiên được phát hành bởi YOASOBI. Nó được phát hành vào ngày 15 tháng 12 năm 2019. Nội dung chính của ca khúc dựa trên Thanatos no Yūwaku (タナトスの誘惑, "Seduction of Thanatos", tạm dịch: Sức quyến rũ của Thanatos), một truyện ngắn được viết bởi Mayo Hoshino (星野舞夜) được xuất bản trên trang web lưu trữ truyện Monogatary.

Bài hát đã trở thành một Meme Internet trên các phương tiện truyền thông như FacebookTikTok nhờ giai điệu vui tươi và tương đối bắt tai của mình. Và cũng một phần do không phải ai cũng tìm hiểu kĩ về nội dung của bài hát, nên đã có nhiều người tưởng nhầm đây là bài hát có nội dung tươi sáng, mặc dù nội dung của bài hát tương đối trầm và đen tối.

Video ca nhạc của bài hát được đăng tải trên YouTube vừa đạt được cột mốc 200 triệu lượt xem và 2 triệu lượt thích cách đây không lâu. Trong khi đó, video của bài hát được ikura thể hiện trong dự án phụ THE HOME TAKE của kênh YouTube âm nhạc "one-shot" THE FIRST TAKE cũng vừa đạt được 100 triệu lượt xem.

Vào ngày 18 tháng 8 năm 2021, Yoru ni Kakeru đã đạt cột mốc được phát trực tuyến hơn 600 triệu lần trên các nền tảng nghe nhạc số.[17]

Bản tiếng Anh của bài hát cũng đã được phát hành chính thức vào ngày 2 tháng 7 năm 2021 với tựa đề "Into the Night".

Cả 2 bản video âm nhạc chính thức trên của YOASOBI đều đang bị cộng đồng YouTube giới hạn độ tuổi với lí do được nhiều người cho là có cảnh tự sát trong hoạt ảnh MV.

Ano Yume wo Nazotte[sửa | sửa mã nguồn]

"Ano Yume wo Nazotte" (tiếng Nhật: あの夢をなぞって, "Tracing that Dream", tạm dịch: "Truy tìm giấc mơ đó") là bài hát thứ hai mà nhóm phát hành. Nó được ra mắt vào ngày 18 tháng 1 năm 2020, dựa trên "Yume no Shizuku to Hoshi no Hana" (夢の雫と星の花), một truyện ngắn được viết bởi Sōta Ishiki (いしき蒼太) được đăng trên trang web lưu trữ truyện trang web Monogatary. Giống như đĩa đơn trước của YOASOBI, tài liệu nguồn của bài hát này cũng đã giành được giải thưởng lớn trong lễ trao giải cuối năm của trang web, Monocon 2019. Video âm nhạc mô tả một câu chuyện tình lãng mạn ở trường trung học trong một lễ hội pháo hoa.

Bài hát được dùng trong video quảng cáo của CALORIE MATE có tên "Midnight Train".

Bản tiếng Anh của bài hát mang tên "Tracing A Dream", được phát hành trong đĩa mở rộng thứ 2 của YOASOBI "E-SIDE".

Halzion[sửa | sửa mã nguồn]

"Halzion" hay "Harujion" (tiếng Nhật: ハルジオン) là đĩa đơn thứ ba của YOASOBI, được phát hành vào ngày 11 tháng 5 năm 2020. Bài hát dựa trên "Soredemo, Happy End" (それでも、ハッピーエンド), một truyện ngắn được viết bởi Hashizume Shunki (橋爪駿輝), đánh dấu lần đầu tiên YOASOBI hợp tác với một tiểu thuyết gia chuyên nghiệp, trong khi hai tác giả đầu tiên là những nhà văn nghiệp dư. Không giống như hai bài hát trước đây của bộ đôi, tài liệu nguồn không dựa trên trang web lưu trữ Monogatary. Thay vào đó, cả bài hát và truyện ngắn đều được phát hành như một phần của chiến dịch quảng cáo của SUNTORY được gọi là "Dự án bài hát đắm chìm" để quảng cáo cho thức uống năng lượng mới của họ có tên ZONe. Chiến dịch cũng bao gồm các bài hát của Kizuna AI và Kaf.

Video âm nhạc của bài hát này được đăng tải trên kênh YouTube chính thức của nhóm đã bất ngờ bị cắt đoạn quảng cáo cho thức uống năng lượng ZONe vào đầu năm 2021 mà không rõ nguyên nhân và cũng không có bất kì thông báo gì từ Ayase hay staff nhóm về việc này. Thay vào đó, bài hát đang được dùng làm nhạc quảng cáo mới cho máy chơi game Nintendo Switch.

Tabun[sửa | sửa mã nguồn]

"Tabun" (tiếng Nhật: たぶん, "Probably", tạm dịch: "Có lẽ") là đĩa đơn thứ tư của YOASOBI, được phát hành vào ngày 20 tháng 7 năm 2020. Bài hát được sáng tác dựa trên tiểu thuyết cùng tên của Shinano (しなの). Bài hát được chọn làm nhạc phim Tabun của đạo diễn Yuki Saito. Phim đã được khởi chiếu các rạp tại Nhật vào ngày 13 tháng 11 năm 2020.

Bản tiếng Anh của bài hát có tên "Haven't", nằm trong đĩa mở rộng E-SIDE của YOASOBI.

Gunjō[sửa | sửa mã nguồn]

"Gunjō" (tiếng Nhật: 群青, "Ultramarine", tạm dịch: "Xanh lam") là đĩa đơn thứ năm của nhóm, được phát hành vào ngày 1 tháng 9 năm 2020. Bài hát hợp tác cùng với manga Blue Period cho quảng cáo Alfort Mini Chocolate của Bourbon, và dựa trên Ao o Mikata ni. Văn bản câu chuyện dựa trên quảng cáo truyền hình của Alfort.

Bài hát được lấy cảm hứng từ những chương đầu tiên của bộ Manga Blue Period. Nhân vật chính của bộ truyện, Yatora Yaguchi, trong giờ Mĩ thuật đã nhận được một đề bài với nội dung là "Khung cảnh em thích nhất".

Bản tiếng Anh của "Gunjō" mang tên "Blue".

Haruka[sửa | sửa mã nguồn]

"Haruka" (tiếng Nhật: ハルカ) là bài hát thứ sáu của bộ đôi. Nó được phát hành vào ngày 18 tháng 12 năm 2020, và dựa trên Tsuki Ōji (月 王子), một cuốn tiểu thuyết của Osamu Suzuki từ chương trình radio Jump Up Melodies Top 20 của Tokyo FM, mà YOASOBI đã làm khách mời. Haruka là tên của nữ nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết trên. Bài hát mô tả về một cuộc gặp gỡ và chia tay, được rút ra từ quan điểm của "một thứ gì đó" đã theo dõi sự trưởng thành của một cô gái hơn bất kỳ ai khác.

Encore[sửa | sửa mã nguồn]

"Encore" (tiếng Nhật: アンコール, romaji: Ankōru) được phát hành vào ngày 6 tháng 1 năm 2021 như một bài hát chính cho album mở rộng đầu tiên của họ THE BOOK, thông qua Sony Music Entertainment Japan. Bài hát dựa trên SEKAI NO OWARI to, Sayonara no Uta (世界の終わりと, さよならのう た, "End of the World, and Song of Good-bye") của Kamina Minakami, đã giành chiến thắng trong cuộc thi YOASOBI Vol. 1, và cũng được sử dụng cho quảng cáo Google Pixel 5, Pixel 4a (5G).

Đĩa đơn riêng của bài hát cũng đã được phát hành vào ngày 2 tháng 7 năm 2021.

Bản tiếng Anh cùng tên của bài hát vừa được phát hành trong EP "E-SIDE" của bộ đôi.

Kaibutsu / Yasashii Suisei[sửa | sửa mã nguồn]

"Kaibutsu" (怪物, lit. Tựa tiếng Anh: "Monster", tạm dịch: "Quái thú") và "Yasashii Suisei" (優しい彗星, lit. "gentle comet", tựa tiếng Anh: "Comet", tạm dịch: "Ngôi sao chổi dịu dàng") đều được phát hành vào tháng 1 năm 2021 và được phát hành cùng nhau dưới dạng đĩa đơn A-side đôi vào ngày 24 tháng 3 năm 2021, thông qua Sony Music Entertainment Japan. Đĩa đơn đạt vị trí thứ hai trên Bảng xếp hạng đĩa đơn oricon hàng tuần với 24.000 bản được bán trong tuần đầu tiên.

Cả hai bài hát đã được chỉ định lần lượt làm nhạc mở đầu/kết thúc phim cho mùa thứ hai của bộ anime truyền hình BEASTARS. "Kaibutsu" được dựa trên tiểu thuyết gốc Jibun no Mune ni Jibun no Mimi o Oshi Atete (自分の胸に自分の耳を押し当てて, Ấn tai vào ngực) được viết bởi Paru Itagaki, người viết và minh họa cho BEASTARS, và được chọn làm bài hát chủ đề mở đầu cho anime. Trong khi "Yasashii Suisei" được dựa trên Shishiza Ryūseigun no Mama ni (獅子座流星群のままに, As it is Leo meteor rain) được viết bởi cùng một tác giả, và được dùng làm bài hát chủ đề kết thúc cho anime.

Video âm nhạc "Kaibutsu" được công chiếu vào ngày 13 tháng 1 năm 2020, do Rina Mitsuzumi đạo diễn, với hoạt hình 2D của Kaori Onishi và đồ họa chuyển động của Jun Matsuda và Cafuu. Video âm nhạc mô tả xung đột và quyết tâm của nhân vật chính, Legoshi, mang cảm giác về tốc độ và bóng tối. Cả MV bản tiếng Anh của bài hát (trên YouTube) và single "Monster" đều vừa được phát hành cùng lúc vào 0h ngày 30 tháng 7 năm 2021 (giờ Nhật).

Video âm nhạc "Yasashii Suisei" được công chiếu vào ngày 25 tháng 3 năm 2021. Nó được đạo diễn và sản xuất bởi Kōhei Kadowaki, người cũng đã sản xuất video kết thúc cho anime BEASTARS. Video âm nhạc tập trung vào các nhân vật quan trọng của anime, Louis và Ibuki, thể hiện thế giới quan phù du và nhẹ nhàng giữa hai người rất tinh tế với hơn 2.500 hình minh họa do đạo diễn vẽ.

Bản tiếng Anh "Comet" của bài hát "Yasashii Suisei" vừa được phát hành trong đĩa mở rộng E-SIDE của YOASOBI.

Mō Sukoshi Dake[sửa | sửa mã nguồn]

"Mō Sukoshi Dake" (もう少しだけ, "Just a Little More") là bài hát đã được YOASOBI phát hành.

Vào ngày 18 tháng 1 năm 2021, YOASOBI thông báo họ sẽ phụ trách viết một bài hát chủ đề mới cho Mezamashi TV, bản tin buổi sáng của Fuji TV kể từ tháng 4 năm 2021. Bài hát chủ đề mới sẽ dựa trên một câu chuyện ngắn được chọn từ cuộc thi YOASOBI Vol.3 với Mezamashi TV (夜遊びコンテスト vol.3 with めざましテレビ) do Mezamashi TV tổ chức và trang web tiểu thuyết do Sony Music Entertainment Japan, Monogatary điều hành.  Truyện ngắn được chọn đã được công bố vào ngày 15 tháng 3, có tựa đề Meguru (めぐる。, "It Will Come Around"), được viết bởi Chiharu, được chọn ra từ tổng số 5.605 truyện ngắn dự thi.

Tên bài hát "Mō Sukoshi Dake" được công bố vào ngày 29 tháng 3 năm 2021, và được sử dụng làm bài hát chủ đề cho chương trình trong một năm kể từ cùng ngày. Bản đầy đủ của bài hát đã được phát sóng vào ngày 4 tháng 5 trên chương trình radio YOASOBI's All Night Nippon X của họ và được phát hành vào ngày 10 tháng 5 trên các nền tảng nhạc kỹ thuật số và phát trực tuyến.

Ảnh bìa đĩa đơn được thiết kế bởi Hmng, một đạo diễn hoạt hình và người tạo ra nhân vật. Ảnh minh họa thể hiện thế giới quan của truyện ngắn và âm nhạc từ việc xem bói trên màn hình tivi, còn ảnh minh họa cắt bỏ khoảnh khắc nữ sinh trung học đi chơi xuất hiện trong truyện ngắn.

Lí do bài hát mang tên "Mou Sukoshi Dake" được Ayase chia sẻ: "Những suy nghĩ tiêu cực như không muốn đi làm, không muốn đi học, em nghĩ xảy ra khá nhiều với mọi người vào mỗi sáng. Tuy vậy, mỗi buổi sáng, chúng ta thử bước thêm một bước, thử trải nghiệm thêm một ngày, sẽ cảm nhận được rằng đó là một ngày tốt đẹp hơn chúng ta đã nghĩ. Chính bản thân em cũng đã từng như vậy. Vì vậy, với cảm xúc "chỉ bước thêm một bước nữa thôi", sẽ thật tuyệt vời nếu chúng ta có thể xích lại gần nhau hơn. Đó là lý do chúng em chọn "Chỉ một chút nữa thôi" (Mou Sukoshi Dake) làm tựa đề cho ca khúc này."

Video âm nhạc của bài hát đã được công chiếu trên YouTube vào 8h sáng (giờ Nhật) ngày 22 tháng 11 năm 2021.

Sangenshoku[sửa | sửa mã nguồn]

"Sangenshoku" (三原色, "Primary colors", tạm dịch: "Ba màu cơ bản") là bài hát được thu âm bởi YOASOBI. Ca khúc là nhạc nền quảng cáo của hãng NTT Docomo "ahamo Hajimaru yo" (ahamo はじまるよ), được dựa theo cuốn tiểu thuyết "RGB" (Hệ màu RGB) của tác giả Komikado Yuichiro, cùng tác giả với bài hát "Harujion".

"Sangenshoku" đã được phát hành chính thức vào ngày 2 tháng 7 năm 2021, cùng thời điểm ra mắt với "Yoru ni Kakeru" bản tiếng Anh. MV của bài hát cũng đã được đăng tải lên YouTube vào ngày kế tiếp.

MV bản tiếng Anh của bài hát mang tên "RGB" đã được đăng tải lên YouTube vào 0h ngày 16 tháng 7 (giờ Nhật). Single cùng tên cũng đã được phát hành cùng lúc.

Love Letter[sửa | sửa mã nguồn]

"Love Letter" (ラブレター, Raburetā) là bài hát kế tiếp của bộ đôi này sau khi vừa phát hành bản tiếng Anh của "Kaibutsu" với tên gọi "Monster". Ca khúc này được viết bởi Ayase, dựa trên bức thư Ongaku-san e của bé Hatsune từ dự án Letter Song Project, hợp tác với chương trình radio Sunday's Post. Bài hát đã đạt vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng đĩa đơn kết hợp oricon và thứ 4 trên Billboard Japan Hot 100.

Taishō Roman[sửa | sửa mã nguồn]

"Taishō Roman" (大正浪漫, Taishō Romance hoặc Romance) là bài hát tiếng Nhật thứ 12 của YOASOBI. Ca khúc được viết dựa trên tiểu thuyết cùng tên của NATSUMI, kể về mối tình lãng mạn giữa 2 người đến từ 2 thời kỳ khác nhau của Nhật Bản cùng với mối quan hệ là "bạn chắp bút" (pen-pal).

NTT docomo đã kết hợp cùng với YOASOBI để phát hành phiên bản VR của MV này lên YouTube.

Về mặt thương mại, ca khúc đã đạt vị trí thứ 2 trên Billboard Japan Hot 100 và thứ 5 của Bảng xếp hạng đĩa đơn độc lập oricon.

Tsubame[sửa | sửa mã nguồn]

"Tsubame" (ツバメ, tạm dịch: "Chim én") là bài hát được thu âm bởi YOASOBI, kết hợp cùng với nhóm đặc biệt Midories. Đây cũng là ca khúc chủ đề của loạt chương trình truyền hình trẻ em SDGs thuộc NHK, Hirogare! Irotoridori.

Bài hát dựa trên cuốn tiểu thuyết Chiisana Tsubame no Ōkina Yume của Nana Ototsuki. "Tsubame" thể hiện những khía cạnh và hành vi của con người đối với thiên nhiên và sự cảm thông đối với người khác qua góc nhìn của một con chim én.

Về mặt thương mại, "Tsubame" đã đạt vị trí thứ 19 trên Billboard Japan Hot 100 và xếp thứ 29 trên Bảng xếp hạng đĩa đơn kết hợp oricon.

Moshimo inochi ga kaketara[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là bài hát mới được thêm vào đĩa mở rộng mới nhất của YOASOBI có tên THE BOOK 2. Tên bài hát được tạm dịch: "Nếu tôi có thể vẽ cuộc sống".

Buổi diễn trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

  • KEEP OUT THEATER (2021)[18]
  • UT x YOASOBI 『SING YOUR WORLD』 (2021)[19]

Ấn phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách ấn phẩm, ngày phát hành, tên, nhà xuất bản và ISBN
Ngày phát hành Tên Nhà xuất bản ISBN Tham khảo
18/10/2020 YOASOBI Novels: Yoru ni Kakeru Futabasha 978-4-575-24321-5 [20]
14/2/2021 Yume no Shizuku to Hoshi no Hana (bản truyện tranh) 978-4-575-44001-0 [21]
19/2/2021 Haruka to Tsuki no Ōji-sama (tiểu thuyết minh họa) 978-4-575-31602 [22]
16/11/2021 Taishō Roman YOASOBI "Taishō Roman" Original Novel 978-4-575-24446-5 [23]
978-4-575-24447-2 (limited) [24]

Chương trình Radio[sửa | sửa mã nguồn]

  • YOASOBI's All Night Nippon X (YOASOBIのオールナイトニッポンX?) (2021–)[25]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lễ trao giải, năm trao giải, hạng mục giải thưởng, (các) ứng cử viên của giải thưởng và kết quả đề cử
Lễ trao giải Năm Hạng mục Đề cử Kết quả Tham chiếu
Billboard Japan Music Awards 2020 Hot 100 của năm "Yoru ni Kakeru" Đoạt giải [26]
MTV Video Music Awards Nhật Bản Bài hát của năm Đoạt giải [27]
Giải thưởng âm nhạc SPACE SHOWER 2021 Bài hát của năm Đoạt giải [28]
Japan Gold Disc Awards 5 Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất YOASOBI Đoạt giải [29]
MTV Video Music Awards Japan Nghệ sĩ của năm Đoạt giải [30]
TBS "Shining! Japan Record Awards" lần thứ 63 Giải đặc biệt Đoạt giải [31]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “YOASOBI、「あの夢をなぞって」が「とくダネ!」6月度お天気コーナーのマンスリー・ソングに決定” (bằng tiếng Nhật). Yahoo! Japan. CD Journal. ngày 1 tháng 6 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2020.
  2. ^ “人気ボカロP『Ayase』が1周年を記念して "幽霊東京" のセルフカヴァーを公開”. Coshitan (bằng tiếng Nhật). ngày 24 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2020.
  3. ^ “幾田りら、2ndミニ・アルバムの全国流通開始 収録曲「ロマンスの約束」MVも公開” (bằng tiếng Nhật). CD Journal. ngày 12 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2020.
  4. ^ “YOASOBI、デビュー曲「夜に駆ける」MVが1,000万回再生突破” (bằng tiếng Nhật). Billboard Japan. ngày 24 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2020.
  5. ^ “YOASOBI「夜に駆ける」がついに月間ランキング・BGMランキング1位に!「LINE MUSIC」4月の月間ランキングを発表” (bằng tiếng Nhật). Music.jp. ngày 12 tháng 5 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2020.
  6. ^ a b “Hot 100 [2020/06/01 付け]”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2020.
  7. ^ “YOASOBI、第2弾楽曲「あの夢をなぞって」配信” (bằng tiếng Nhật). Barks. ngày 18 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2020.
  8. ^ “YOASOBI、コラボ企画『IMMERSIVE SONG PROJECT』に書き下ろした新曲「ハルジオン」リリース決定” (bằng tiếng Nhật). Billboard Japan. ngày 20 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2020.
  9. ^ “YOASOBI「ハルジオン」原作者・橋爪駿輝が語る、音楽と文学の融合「文章が別の形へ昇華されていくのはエキサイティング」” (bằng tiếng Nhật). Real Sound. ngày 12 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2020.
  10. ^ YOASOBI [@YOASOBI_staff] (31 tháng 12 năm 2020). “#NHK紅白 YOASOBIチームに加わってくれたバンドメンバーをご紹介Fire” (Tweet) (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2021 – qua Twitter.
  11. ^ Ayase [@Ayase_0404] (14 tháng 2 năm 2021). “改めて、今日この夜、共に音を鳴らしてくれた最高のメンバーを紹介させてください。愛溢れすぎてBIG HUG💥” (Tweet) (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2021 – qua Twitter.
  12. ^ 幾田 りら [@ikutalilas] (26 tháng 2 năm 2021). “#THEFIRSTTAKE 群青 いかがでしたか?” (Tweet) (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2021 – qua Twitter.
  13. ^ “ダウンロード認定 一般社団法人 日本レコード協会” (bằng tiếng Japanese). RIAJ. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) Note: To retrieve all digital certifications type "YOASOBI" in the field "アーティスト" and select "検索"
  14. ^ “ストリーミング認定 一般社団法人 日本レコード協会” (bằng tiếng Japanese). RIAJ. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) Note: To retrieve all streaming certifications type "YOASOBI" in the field "アーティスト" and select "検索"
  15. ^ “Hot 100 [2020/06/22 付け]”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2020.
  16. ^ “Billboard Japan 2020/07/29”.
  17. ^ “YOASOBI「夜に駆ける」史上初のストリーミング累計6億回再生突破”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). Billboard IP Holdings, LLC. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2021.
  18. ^ “2月14日開催、初の配信ライブ「KEEP OUT THEATER」チケット発売開始”. Yoasobi Official Website. Sony Music Entertainment Japan. 19 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2020.
  19. ^ “YOASOBI「UT」発売生配信ライブ 「三原色」初披露、28万人視聴”. Nikkan Sports. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2021.
  20. ^ “夜に駆ける YOASOBI小説集”. Futabasha (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2021.
  21. ^ “夢の雫と星の花”. Futabasha (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2021.
  22. ^ “ハルカと月の王子さま”. Futabasha (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2021.
  23. ^ “大正浪漫 YOASOBI『大正浪漫』原作小説”. Futabasha (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2021.
  24. ^ “大正浪漫 YOASOBI『大正浪漫』原作小説 Blu-rayつき限定版”. Futabasha (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2021.
  25. ^ “YOASOBI、『オールナイトニッポンX』パーソナリティに。Ayaseによる「Bitter Sweet Samba」リミックスが番組共通OPテーマ”. Barks (bằng tiếng Nhật). Japan Music Network. 16 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2021.
  26. ^ Billboard Japan (3 tháng 12 năm 2020). “YOASOBI Tops Billboard Japan's 2020 Year-End Charts With Song Not Released on CD”. Billboard. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2021.
  27. ^ “VMAJ 2020 WINNERS”. MTV Japan. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2021.
  28. ^ “WINNERS / SPACE SHOWER MUSIC AWARDS 2021”. Space Shower (bằng tiếng Nhật). Space Shower Network. 8 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2021.
  29. ^ “ベスト5ニュー・アーティスト(邦楽部門)”. www.golddisc.jp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2021.
  30. ^ “ベWINNERS”. vmaj.jp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2021. Đã bỏ qua văn bản “VMAJ 2021” (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |access-date= (trợ giúp)
  31. ^ “第63回 『輝く!日本レコード大賞』”. tbs.co.jp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2021. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |access-date= (trợ giúp)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]