Zirconi dioxit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Zirconi dioxit
ZrO2powder.jpg
Kristallstruktur Zirconium(IV)-oxid.png
Danh pháp IUPACZirconium dioxide
Zirconium(IV) oxide
Tên khácZirconia
Baddeleyite
Nhận dạng
Số CAS1314-23-4
Thuộc tính
Công thức phân tửZrO2
Khối lượng mol123.218 g/mol
Bề ngoàiBột trắng
Khối lượng riêng5.68 g/cm3
Điểm nóng chảy 2.715 °C (2.988 K; 4.919 °F)
Điểm sôi 4.300 °C (4.570 K; 7.770 °F)
Độ hòa tan trong nướckhông đáng kể
Độ hòa tantan trong axit HF, axit H2SO4 nóng
Chiết suất (nD)2.13
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).
Có  kiểm chứng (cái gì Có KhôngN ?)

Zirconi dioxide (công thức là ZrO2), đôi khi được gọi với một cái tên khác là zirconia (thường cái tên này bị nhầm lẫn với zircon), là một dạng hợp chất oxit tinh thể màu trắng của zirconi. Dạng tự nhiên nhất của nó, với cấu trúc tinh thể monoclinic, là chất khoáng baddeleyite. Zirconia có cấu trúc khối ổn định, khối này được tổng hợp tạo ra nhiều nhiều màu sắc khác nhau để sử dụng làm đá quý và mô phỏng kim cương.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Việc sử dụng chính của hợp chất zirconia là sản xuất gốm sứ,[1][2] với các ứng dụng khác bao gồm cả lớp phủ bảo vệ trên các hạt titan dioxit,[3] như là vật liệu chống cháy, cách điện, chất mài mòn và men. Zirconia ổn định được sử dụng trong cảm biến oxi và màng tế bào nhiên liệu vì nó có khả năng cho phép oxi di chuyển tự do qua cấu trúc tinh thể ở nhiệt độ cao. Độ dẫn ion cao (và tính dẫn điện thấp) làm cho nó trở thành một trong những chất điện cực hữu ích nhất.[3] Zirconi dioxit cũng được sử dụng như chất điện phân rắn trong các thiết bị có chứa crom.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2012. 
  2. ^ http://minerals.usgs.gov/minerals/pubs/commodity/zirconium/
  3. ^ a ă Ralph Nielsen "Zirconium and Zirconium Compounds" in Ullmann's Encyclopedia of Industrial Chemistry, 2005, Wiley-VCH, Weinheim. doi:10.1002/14356007.a28_543