Binh pháp Tôn Tử

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Tôn Tử binh pháp)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bản bằng tre thời Càn Long.

Tôn Tử binh pháp (chữ Hán: 孫子兵法 ; Pinyin: Sūnzĭ Bīngfǎ; tiếng Anh:Sun Tzu's The Art of War) còn được gọi là Binh pháp Ngô Tôn Tử, là sách chiến lược chiến thuật tiếng Hoa do Tôn Vũ soạn thảo vào năm 512(TCN) đời Xuân Thu. Sách gồm 13 chương, mỗi chương bàn về một khía cạnh của nghệ thuật chiến tranh. Đây là một bộ binh pháp kinh điển hàng đầu thế giới, là cuốn sách nổi tiếng nhất của binh gia.

Đối với Tôn Tử cuộc chiến tranh phải có "đạo nghĩa", ấy là cái gốc để thắng quân giặc. Tôn Tử không giống Lão Tử - xuất thế vô vi, không giống Khổng Tử - nhập thế hành đạo mà ông có cả hai hành động đó.

Từ cuối thế kỷ 20 đến nay, Tôn Tử binh pháp trở nên phổ biến vì có áp dụng thực tiễn và hữu dụng trong nhiều giới kinh doanhquản lý.[1][2]

Mục lục

[sửa] Lịch sử

  • Cuốn "Tôn Tử binh pháp" do Tôn Vũ dâng lên Ngô Vương là cuốn binh pháp hoàn chỉnh, được viết vào năm 512 trước Công nguyên. Theo Sử ký và theo luận bàn về Tôn Tử của Tào Tháo, đều có ghi chép rõ ràng về 13 chương sách của Tôn Vũ. Từ đời nhà Đường, nhà Tống về sau, xuất hiện khá nhiều thuyết lầm lạc đối với cuốn Tôn Tử binh pháp. Bởi vì từ sau đời nhà Tuỳ cuốn binh pháp này đã bị thất truyền. Ở đời nhà Thanh người ta hiểu Tôn Tử binh phápTôn Tẫn binh pháp là cùng một cuốn sách, Tôn VũTôn Tẫn cũng là một người, thậm chí còn cho rằng chỉ có Tôn Tẫn mà không có Tôn Vũ.
  • Năm 1957 khi Quách Hoá Nhược viết về Binh pháp Tôn Tử còn dẫn lời Đỗ Mục cho rằng: Binh pháp Tôn Tử có 82 bài và 9 quyển hình vẽ cộng với cuốn "Ngô Việt Xuân Thu" ghi chép các câu hỏi và trả lời của Tôn Vũ với vua Ngô. Truyền đến đời Tam Quốc, được Tào Tháo chọn lựa, gọt sửa, biên tập và chú thích, bỏ chỗ thừa, chép những phần tinh tuý và xếp thành 13 thiên, tức là cuốn "Tôn Tử" lưu truyền đến ngày nay. Và khẳng định Tào Tháo đã giữ lại những nội dung chủ yếu của "Tôn Tử", đó là một cống hiến không thể lu mờ được [3]
  • Tháng 4 năm 1972, hai cuốn sách Tôn Tử binh pháp (Tôn Vũ) và Tôn Tẫn binh pháp đồng thời tìm thấy trong một ngôi mộ cổ từ thời nhà Hán ở tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Tháng 7 năm 1978, cuốn Tôn Tử binh pháp cũng được tìm thấy trong một ngôi nhà ở Thanh Hải Trung Quốc, những ngộ nhận kéo dài về cuốn Tôn Tử binh pháp bấy giờ mới được làm rõ. [4]
  • Từ trước tháng 4 năm 1972, bản Tôn Tử binh pháp được lưu chuyền cho là cổ nhất, đó là bản khắc đời Tống. Vào cuối đời nhà Hán đã được Tào Tháo chú giải, sau đó là Mạnh Thị nhà Lương, Lý Thuyên nhà Đường, Đỗ Mục, Trần Hạo , Giả Lâm, Mai Nhiêu Thần nhà Tống, Vương Triết, Hà Diên TíchTrương Dư. Trong đó bản chú giải của Tào Tháo là có giá trị hơn cả. Đến năm 1957, thượng tướng (TQ) Quách Hoá Nhược đã viết lại Tôn Tử binh pháp theo thể văn ngày nay, dựa vào bản khắc đời nhà Tống và có tham khảo bản Tôn Tử trong Tứ bộ tùng san thời Gia Tĩnh nhà Minh. Những bản này có 13 bài (thiên): Bài 1 Kế, bài 2 Tác chiến, bài 3 Công mưu, bài 4 Quân hình, bài 5 Binh thế, bài 6 Hư thực, bài 7 Quân tranh, bài 8 Cửu biến, bài 9 Hành quân, bài 10 Địa hình, bài 11 cửu địa, bài 12 Hoả công, bài 13 Dụng gián. Sau khi dịch Quách Hoá Nhược chia thành 13 bài là: 1 Bàn về chiến tranh, 2 Tiến công chiến, 3 Tốc quyết chiến, 4 Vận động chiến, 5 Chủ động tính, 6 Linh hoạt tính, 7 Địa hình, 8 Sử dụng gián điệp, 9 Phán đoán tình huống, 10 Hoả công, 11 Quản lý giáo dục, 12 Quan hệ chỉ huy, 13 Tu dưỡng của tướng soái, rồi lại chia thành 108 đoạn.
  • Từ năm 1972 về sau (khi đã có bản "gốc" Binh pháp Tôn Tử đời Hán) có nhiều hình thức viết về cuốn sách này nhằm giúp cho người đọc dễ hiểu, nhưng vẫn dựa trên nguyên tắc bản dịch của Quách Hoá Nhược, rồi đối chiếu sửa theo bản đời Hán. Bản của Mã Nhất Phu viết theo 13 thiên của Tôn Vũ, mỗi thiên có 3 phần là bản gốc, diễn giải (dựa theo Quách Hoá Nhược) và lời bình. Bản của Đức Thành lại biên tập theo ba mục lớn; 1, Tôn Tử binh pháp dẫn nhập ; 2, Tôn Tử binh pháp ứng dụng; 3, Tôn Tử binh pháp nghiên cứu
  • Kể từ bài viết của Tào Tháo đã có đến vài trăm người tham gia. Trên thế giới kể từ thế kỷ thứ bảy nó đã vào Nhật Bản do sứ thần đưa về, không lâu truyền đến Triều Tiên, đến thế kỷ 18 truyền vào Châu Âu qua nước Pháp, nước Anh, nước Đức mà lan khắp thế giới.[5]

[sửa] Cấu trúc

Tôn Tử được bố cục gồm 13 thiên (phần), mỗi phần đều nhấn mạnh vào yếu tố căn bản nhất của việc vận dụng nghệ thuật chiến tranh, bao gồm:

[sửa] Thủy kế

Phần này nhấn mạnh đến điều căn bản nhất của kế sách quân sự ("Thủy" đây có nghĩa là "Đầu tiên", "Khởi thủy"). Những điểm cơ bản mà Tôn Tử đặc biệt lưu ý trong phần này là:

  • Chiến tranh là việc hệ trọng, liên quan đến sự an nguy, mất còn của quốc gia, nhân dân, vì vậy phải khảo sát nghiên cứu cho thật kỹ.
  • Năm yếu tố căn bản cần nghiên cứu (Ngũ sự): Chính trị, Thời tiết Khí hậu, Địa hình Địa vật, Tổ chức cán bộ, "Quân pháp".
  • Bảy yếu tố so sánh (Thất kế): Chính trị, Tướng lĩnh, Thiên thời Địa lợi, Quân pháp, Tiềm lực quân sự, Huấn luyện, Chế độ thưởng phạt.
  • Dùng binh phải dối trá để đánh lứa đối phương.
  • Vận dụng sự khôn khéo và linh hoạt, không máy móc.
  • Phán đoán và có kế hoạch đầy đủ sẽ dẫn đến xác suất giành thắng lợi cao hơn.

[sửa] Tác chiến

Phần này nhấn mạnh các yếu tố về tổ chức, chuẩn bị chiến tranh. Chữ "tác" ở đây nên hiểu theo nghĩa là sắp đặt, tạo dựng (tạo tác, chế tác). Đáng lưu ý gồm:

  • Chiến tranh là sự hao tổn nguyên khí, vì vậy phải chấm dứt càng sớm càng tốt.
  • Phải biết tổ chức khai thác, bồi dưỡng và tái hồi phục tiềm lực quân sự.
  • Tận dụng chiến lợi phẩm
  • Chế độ khao thưởng binh lính
  • Nguyên tắc hành xử đối với tù binh. Đây là một nguyên tắc rất tiến bộ, vượt trước thời đại.
  • Sử dụng nhân tài.

[sửa] Mưu công

Thiên này nổi bật với tư tưởng "không đánh mà người tự khuất", "biết mình biết ta, trăm trận khong met moi". Tôn Vũ quan niệm chiến thắng toàn vẹn nhất là không cần động binh đao, không cần tổn hao nhân mạng, chỉ dùng mưu lược mà khiến kẻ địch phải tự trói tay xin hàng. Đồng thời ông cũng chỉ ra khuyết điểm chết người trong cầm quân đánh trận, đó là thiếu hiểu biết về đối thủ, không hiểu rõ sức mình. "Vi khong the: Yeu nho ve nhieu mat ma lai co the thang duoc ke dich manh ve nhieu mat, toi thieu la manh ve mot mat nao do..."

[sửa] Khác

Còn có các thiên: Hình thiên, Thế thiên, Hư thực, Quân tranh, Cửu biến, Hành quân, Địa hình, Cửu địa, Hỏa công và Dụng gián.

[sửa] Đánh giá

Mười ba chương sách của cuốn Tôn Tử gồm hơn 7000 chữ, quán xuyến tư tưởng và phương pháp của duy vật luận đơn thuần và biện chính pháp nguyên thuỷ, nêu lên được mối quan hệ phức tạp của chiến tranh với chính trị, ngoại giao, kinh tế, hoàn cảnh tự nhiên, cùng là tác dụng tương hỗ giữa năng động chủ quan của người dụng binh với quy luật khách quan, điều kiện hiện thực, đề cập một cách toàn diện quy luật phổ biến của chiến tranh và nguyên tắc trọng yếu của chỉ đạo chiến tranh.

Binh pháp Tôn Tử là binh thư sớm nhất, vĩ đại nhất thời cổ ở Trung Quốc, mà từ xưa đến nay được xếp hàng đầu trong bảy tập võ kinh. Người Nhật suy tôn Tôn Vũthuỷ tổ của binh học phương đôngthánh điển binh học và là binh thư thời cổ bậc nhất trế giới. Binh pháp của Tôn Vũ được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài, ở châu Âu cũng rất được tôn sùng . Trong chiến tranh Napoléon thường đọc Tôn Tử binh pháp. Hoàng đế Wilhelm II của Đức, người đã gây ra Chiến tranh thế giới thứ nhất, sau khi thất bại được đọc Tôn Tử binh pháp liền than rằng:

"Tiếc thay 20 năm trước đây ta không được xem cuốn sách này" [6].

Có người nói: Trong cuộc Chiến tranh vùng vịnh, các sỹ quan quân đội Hoa Kỳ đều mang theo Binh pháp Tôn Tử. Như vậy cho thấy cuốn binh pháp cổ đại có từ 2500 năm trước, trong cuộc chiến tranh hiện đại hoá hôm nay vẫn phát huy ảnh hưởng sâu rộng. Tôn Tử binh pháp không chỉ là bắu vật của văn hoá truyền thống của dân tộc Trung Hoa, mà còn là tinh hoa của văn hoá thế giới, là của cải tinh thần chung của nhân loại. [7] Trong khi dịch Tôn Tử binh pháp năm 1957, Quách Hoá Nhược tâm sự: Văn cổ của Tôn Tử cô đúc nếu dịch theo một cách đơn giản thì trúc trắc khó hiểu, tuy trung thành nhưng không "đạt". Cho nên một mặt phải hết sức trung thành với nguyên văn, từng chữ từng câu đều phải cố giữ ý nghĩa cũ của nó, không thể thêm thắt, nếu không sẽ hoá ra chú thích. Nhưng , một mặt khác giữ từ và câu trong giọng văn diễn tả lại phải bồi bổ thêm cho gọn ý, khiến người đọc dễ hiểu. Văn cổ của Tôn Tử , văn gọn nghĩa sâu, nhiều âm điệu, có thể nói để trong vườn sẽ toả mùi thơm của hoa quý, ném xuống đất sẽ có tiếng kêu của bạc vàng. Nhiều từ sắp đối nhau, nhiều câu trùng lắp thật là đẹp khiến người ta không nỡ và cũng không dám tự ý để làm mất thần sắc và âm điệu giàu có của nó[8]

Lời tựa do nhóm biên dịch cuốn Truyện Tôn Tử của Tào Nghiêu Đức có đoạn viết: Trước tác "Binh pháp Tôn Tử" là bộ binh pháp kinh điển hàng đầu thế giới, được danh tướng các thời đại đề cao, nức tiếng xưa nay. Tác dụng và giá trị của nó, không chỉ hạn hẹp trong phạm vi quân sự, mà các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, văn hoá, kinh tế, đều chịu ảnh hưởng sâu sắc.[9]

Mã Nhất Phu đánh giá về binh pháp Tôn Tử như sau: Ảnh hưởng của cuốn Tôn Tử không chỉ giới hạn ở lĩnh vực quân sự. "Tôn Tử" là phương lược trị quốc của chính trị gia, là tấm gương soi của nhà triết học, là pháp bảo của nhà ngoại giao, là báu vật ở trong con mắt của văn học gia; trong cuộc thương chiến kịch liệt hiện nay, đó cũng là sách giáo khoa chiến lược của những nhà kinh doanh. Vị thần kinh doanh Tùng Hạ của Nhật Bản cũng cho rằng, cuốn Tôn Tử là pháp bảo thành công của ông ta [10]

Binh pháp Tôn Tử được vận dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, hấp dẫn được sự chú ý nghiên cứu của nhiều nhân sĩ, cuối cùng đã gây thành một sức nóng Tôn Tử mang tính toàn cầu.

[sửa] Hạn chế

Do hạn chế của hiện thực khách quan và mức độ nhận thức đương thời, cuốn Tôn Tử không thể tránh khỏi những chỗ thiên lệch hoặc lầm lẫn, như xem nhẹ vai trò binh sĩ, chỉ chú trọng được lợi mà không để ý đến chính nghĩa hay là không chính nghĩa như: cượp bóc thôn xóm, giành lấy nhân lực của nước địch; mở rộng lãnh thổ, giành lấy của cải nước địch. Cần chú ý xem lại những phần đó.

[sửa] Trích dẫn

Có người nói rằng, phép biện chứng của Tôn Vũ chỉ khuôn trong lĩnh vực quân sự học, phạm vi nhỏ hẹp. Nhận định như vậy là thiên lệch, bất cứ loại tư tưởng nào, chỉ cần nó giàu tính triết học, vô luận nhìn từ góc độ nào, đều có ý nghĩa chỉ đạo phổ biến. Nhiều vấn đề trong 13 thiên Binh pháp như:

  • Tấn công địch khi nó không đề phòng, tác chiến một cách bất ngờ
  • Tự bảo vệ mình để giành thắng lợi
  • Tránh chỗ thực đánh vào chỗ hư
  • Giành thắng lợi theo tình hình của địch
  • Ra lệnh thì dùng văn, trị an thì dùng võ
  • . . .

Tuy nói về quân sự, nhưng phù hợp với các ngành nghề. Ở một số nước có nền kinh tế phát triển, ngay khi tuyển dụng nhân viên bán hàng, cũng không tách rời nội dung của Binh pháp Tôn Tử [11]. Câu cuối cùng chương 3 như sau:

故曰:知彼知己,百戰不殆;不知彼而知己,一勝一負;不知彼,不知己,每戰必敗 ("tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất đãi; bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ; bất tri bỉ, bất tri kỷ, mỗi chiến tất bại")
Biết người biết ta, trăm trận không nguy; không biết người mà chỉ biết ta, một trận thắng một trận thua; không biết người, không biết ta, mọi trận đều bại.

Câu này đã đi vào thành ngữ Trung Quốc và Việt Nam, rất phổ biến nhưng nội dung có khác đi:

"Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng" ("Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng")

[sửa] Chú thích

  1. ^ 'Art of War for Business Management Strategic Planning'
  2. ^ Floyd, Raymond E. http://www.allbusiness.com/management/benchmarking-strategic-planning/338250-1.html
  3. ^ Quách Hoá Nhược, trang 15
  4. ^ Binh pháp Tôn Tử của Mã Nhất Phu, NXB Văn hoá thông tin - 2005 trang 8-9
  5. ^ Mã Nhất Phu, trang 10
  6. ^ Binh pháp Tôn Tử của Quách Hoá Nhược, NXB quân đội nhân dân - 1964 trang 14
  7. ^ Mã Nhất Phu, Binh pháp Tôn Tử, NXB Văn hoá thông tin - 2005, trang 5
  8. ^ Quách Hoá Nhược, Binh pháp Tôn Tử, NXB Quân đội nhân dân, 1964, trang 4-5
  9. ^ Tào nghiêu Đức, Truyện Tôn Tử, nxb Hà Nội, 2001, trang 5
  10. ^ Mã Nhất Phu, sđd, trang 11
  11. ^ Tào Nghiêu Đức, trang 10

[sửa] Tham khảo

  • Quách Hoá Nhược, Binh pháp Tôn Tử, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội 1964
  • Tào Nghiêu Đức, Truyện Tôn Tử, NXB Hà Nội, 2001
  • Mã Nhất Phu, Binh pháp Tôn Tử, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội 2005
  • Đức Thành, Binh pháp Tôn Tử, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội 2006

[sửa] Liên kết ngoài