Đầu máy Đổi mới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
D19E
D19E - 949 locomotive.jpg
D19E-949 đang tiến vào ga Hà Nội
Loại và xuất xứ
Chế tạoCSR Ziyang Locomotive Co., Ltd (2003-2007) Nhà máy xe lửa Gia Lâm (2008-2012)
KiểuCKD7F
Ngày chế tạo2003 - 2012
Total produced80
Thông số kỹ thuật
Configuration:
 • UICCo' Co'
Khổ1000 mm
Wheel diameter1000 mm
Length16892 mm
Width2900 mm
Height3900 mm
Axle load13 t
Loco weight78 t
Fuel typeDiesel
Fuel capacity3500 lít
Engine typeCaterpiller CAT3512B
TransmissionAC-DC
Train brakesKhí nén
Performance figures
Maximum speed120 km/h
Power output1455 kW
Tractive effort250 kN
Career
Điều hành bởiĐường Sắt Việt Nam
LoạiD19E
Numbers901-980
Official nameĐổi Mới
LocaleViệt Nam
Delivered2003
First run2003

D19E - "Đổi mới" (còn được gọi là CKD7F) là dòng đầu máy diesel phục vụ cho Đường sắt Việt Nam và được nhập khẩu về từ năm 2003 từ nhà máy Tư Dương, Trung Quốc sau đó là sản xuất trực tiếp bởi Nhà máy xe lửa Gia Lâm. Biệt danh của dòng đầu máy này là "Đổi mới". Đây là loại đầu máy có số lượng nhiều thứ nhất Việt Nam. Tổng công ty Đường sắt Việt Nam hiện có 80 đầu máy xe lửa diesel D19E, được quản lý bởi Xí nghiệp đầu máy Hà Nội, Xí nghiệp đầu máy Sài Gòn, Xí nghiệp đầu máy Đà Nẵng, xí nghiệp đầu máy Yên Viên. Được sử dụng chủ yếu cho Tuyến đường sắt Bắc-Nam từ Hà Nội đến Thành phố Hồ Chí Minh ,Tuyến Hà Nội-Hải PhòngTuyến Hà Nội-Lào Cai.


Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2001, để đáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng tăng của Đường sắt Việt Nam vì thế cần đầu máy diesel khổ 1000mm mới và tiến hành đấu thầu quốc tế cho việc này. Tháng 6 cùng năm, Nhà máy Tư Dương Trung Quốc (Ziyang Locomotive Co., Ltd) giành được gói thầy đầu máy diesel. Tổng giá trị hợp đồng là 7,36 triệu đô la Mỹ. Sau đó 6 tháng những thiết kế đầu tiên đã được cho ra mắt. Thiết kế này ban đầu được gọi là CKD7F, sau đó đổi thành D19E theo yêu cầu của Đường sắt Việt Nam (“D” là đầu máy diesel, “19” công suất định mức 1900 mã lực, "E" là cho hệ thống truyền động điện), ngoài ra đầu máy còn được gọi là Đổi Mới (tên được lấy từ chính sách "Đổi mới").

Vào tháng 11 năm 2001, 10 đầu máy đầu tiên (901-910), đã hoàn thành công đoạn chế tạo tại nhà máy Tư Dương, tỉnh Tứ Xuyên. Các đầu máy này lúc đầu sử dụng các bánh xe thuộc khổ ray tiêu chuẩn (1435mm) tạm để vận chuyển đến Nhà máy đầu máy Côn Minh tại đây các đầu máy được lắp đặt lại thành khổ ray hẹp (1000mm). Từ giữa tháng 12 năm 2001 đến đầu tháng 1 năm 2002, các đầu máy này đã hoàn thành nhiều cuộc thử nghiệm khác nhau tại Nhà máy Đầu máy Côn Minh, Đường sắt Côn MinhTuyến nhánh Côn Minh-Tiêu Sơn, sau đó được vận chuyển theo các sườn núi thuộc tuyến Đường sắt Côn Minh dọc theo biên giới Trung-Việt tới nhà ga Shanyao (Hà Khẩu). Ngày 15 tháng 01 năm 2002, 10 đầu máy xuất phát từ ga Shanyao đến ga Lào Cai (Việt Nam), đầu máy được các cán bộ kỹ thuật Đường sắt Việt Nam nghiệm thu; ngày 20 tháng 01 cùng năm, Lễ bàn giao đầu máy D19E được tổ chức tại ga Lào Cai. Do đây là lần đầu tiên Việt Nam sau lệnh cấm vận nhập khẩu số lượng lớn thiết bị đường sắt nên Chính phủ Việt Nam rất coi trọng lễ bàn giao. Tham dự lễ bàn giao: Đại diện tỉnh Lào Cai, đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đại diện Bộ Giao thông vận tải, đại diện Bộ Tài chính, đại diện Bộ Thương mại[1].

Những đầu máy này sau đó được giao cho Xí nghiệp đầu máy Hà Nội quản lí, sử dụng chủ yếu để kéo tàu khách và tàu hàng trên tuyến Đường sắt Bắc Nam. Vào tháng 5 năm 2002, Đường sắt Việt Nam tiến hành thử nghiệm tốc độ D19E trên tuyến đường sắt Bắc Nam vì khả năng bám đường tốt, đặc biệt các khúc cua nên đã rút ​​ngắn được thời gian di chuyển từ Hà Nội đến Thành phố Hồ Chí Minh từ 32 giờ đến 30 giờ. Cùng năm, Đường sắt Việt Nam lại tiến hành đấu thầu lần thứ hai lô đầu máy (911-920). Đơn hàng này cũng do nhà máy Tư Dương trúng thầu và sau đó được giao cho Xí nghiệp đầu máy Sài Gòn quản lí. Năm 2003, Đường sắt Việt Nam vì đã khá hài lòng với nhà máy Tư Dương nên đã trực tiếp đặt mua lô đầu máy thứ 3 gồm 20 đầu máy (921-940) với tổng giá trị hợp đồng là 14,4 triệu đô la Mỹ trực tiếp từ nhà máy Tư Dương việc giao hàng sau đó cũng được hoàn thành vào tháng 8 năm 2004.[2]

Năm 2005, trước tình hình hoạt động tốt của 40 đầu máy trên mạng lưới Đường sắt Việt Nam, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam đã khởi động dự án “Lắp ráp đầu máy CKD7F trong nước”. Ngày 19 tháng 5 năm 2006, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam và Công ty TNHH Đầu máy Tư Dương đã ký hợp đồng xuất khẩu 20 bộ linh kiện đầu máy CKD7F và hợp đồng xuất khẩu công nghệ sang Việt Nam” tại Hà Nội. Sau đó nhà máy Tư Dương đã xuất khẩu 5 đầu máy CKD7F làm mẫu sang cho Việt Nam và 15 bộ linh kiện, phụ tùng để lắp ráp 15 đầu máy, đồng thời xuất khẩu công nghệ lắp ráp đầu máy cho Công ty cổ phần xe lửa Gia Lâm ở Việt Nam. Lô đầu máy diesel D19E (941-960) lắp ráp tại Việt Nam lần này có sự khác biệt rõ ràng về màu sơn, hình dáng so với ba lô đầu máy sản xuất tại Trung Quốc đầu tiên. Từ năm 2011 đến năm 2012, Công ty xe lửa Gia Lâm đã sản xuất lô thứ năm gồm 20 đầu máy D19E (961-980).

Tính năng kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Bố cục chung[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng đầu máy này là dòng có số lượng lớn nhất trong các đầu máy mà ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM quản lí hiện nay, với số lượng lên tới 80 chiếc, được xí nghiệp đầu máy Tư Dương (Trung Quốc) xếp loại thuộc dòng CKD7F. Đặc trưng của dòng đầu máy này tại Việt Nam là màu sơn xanh-đỏ và xanh-tím (cũng là 2 thiết kế khác nhau) cùng biển tên Đổi mới ở 2 mặt (riêng các máy 902, 903, 905, 906, 910, 921, 923, 924, 925, 927, 928, chữ Đổi mới đã không còn nữa). Các đầu máy từ số 901 đến 940 được thiết kế 2 đầu góc cạnh, các đầu máy từ 941 đến 980 được bo tròn 2 đầu.

Cấu tạo cơ bản gồm buồng lái 1, buồng lái 2, gian điện khí, gian động lực, gian làm mát. Buồng lái 1 và 2 cấu tạo đối xứng nhau ở 2 đầu của thân đầu máy, cả hai buồng lái đều có chức năng điều khiển như nhau. Trong buồng lái có bố trí bàn điều khiển, quạt gió, đèn chiếu sáng.

Đầu máy sử dụng động cơ diesel Caterpillar 3512B EFI, bộ truyền động sử dụng máy phát điện JF221 dùng để kéo tàu hàng và tàu khách và động cơ kéo điện ZQDR-310 DC[3]. Bộ phận chạy là giá chuyển hướng 3 trục loại 13 tấn/trục. Trên đầu máy có thiết kế hệ thống điều khiển bằng vi tính, hệ thống khống chế cấp điện đoàn tàu, hệ thống đón nhận tín hiệu tự động, hệ thống cấp gió hai đường và bộ phận hãm điện trở.

Thiết kế thứ nhất và thứ hai "Đổi mới đầu bằng" và "Đổi mới"[sửa | sửa mã nguồn]

D19E-910 kéo tàu hàng SH4. Một trong số 10 chiếc "Đổi mới đầu bằng".

"Đổi mới đầu bằng" là thiết kế đầu tiên của D19E, bao gồm 10 đầu máy mang số hiệu từ 901-910 đều được giao cho Đường Sắt Việt Nam vào ngày 20 tháng 1 năm 2002[2]. Đặc điểm của thiết kế này là phần mặt của đầu máy có hình dáng thẳng và bằng hơn so với thiết kế thứ 2, chiều rộng có số đo ngắn hơn với thiết kế 2 là 50mm, có số lượng ô lưới tản nhiệt và cửa sổ ít hơn so với những thiết kế còn lại đây cũng là thiết kế có trọng lượng bé nhất. Ngoài ra đây cũng là loại đầu máy đổi mới duy nhất có máy phát điện, có thể cung cấp điện cho 1-2 toa xe mà không cần toa phát điện. Phần nội thất bên trong buồng lái có bàn cabin không có vách ngăn phía giữa hai bên lái tàu như thiết kế 2, cho nên đây là lý do nó có tên gọi là " Đổi mới đầu bằng", phần cabin cũng hẹp hơn thế hệ 2. Bởi vì đây là thiết kế có trọng lượng bé nhất vì thế hay được trọng dụng để kéo những đoàn tàu khách dài qua cầu Long Biên thay cho đầu máy D12E. Những thiết kế còn lại muốn qua sông Hồng thường sẽ phải chạy đơn qua cầu Long Biên hoặc sử dụng cầu Thăng Long trên tuyến đường sắt Bắc Hồng Văn Điển thay thế.

Đổi mới thiết kế 2 (D19E-914) Kéo tàu SPT2

Đầu máy này được sử dụng chủ yếu ở các tuyến Đường sắt Hà Nội Hải Phòng, Đường sắt Hà Nội Lào Cai, và khu vực từ ga Đà Nẵng đến ga Hà Nội thuộc tuyến đường sắt Bắc Nam.

Thiết kế thứ hai "Đổi Mới" này bao gồm các đầu máy D19E từ lô hàng thứ 2 và thứ 3 có số hiệu từ 911-940. Đây là dòng đầu mới Đổi Mới được nâng cấp từ thiết kế 1. Nhiều lưới tản nhiệt là ống thoát khí phía trên nóc hơn, ngoài ra các đầu máy Đổi Mới này cũng "đối xứng" hơn so với Thiết kế 1. Hiện tại được sử dụng chủ yếu để kéo tàu khách và hàng trên tuyến đường sắt Bắc Nam. Thường được sử dụng để kéo tàu thằng từ ga Hà Nội đến ga Sài Gòn không thay máy và ngược lại. Do tới 20 chiếc thuộc xí nghiệp đầu máy Sài Gòn quản lý nên đầu máy này hay được bắt gặp tại các khu vực phía Nam hơn là phía Bắc

Thiết kế 3 và thiết kế 4 "Cà tím" và "Cà tím mất mũi"[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các đầu máy[sửa | sửa mã nguồn]

Stt Model Số hiệu Loại Xí nghiệp quản lí Ghi chú
1 CKD7F0001 D19E 901 Thiết kế 1 XNĐM Vinh
2 CKD7F0002 D19E 902 Thiết kế 1 XNĐM Hà Nội Không còn chữ Đổi Mới
3 CKD7F0003 D19E 903 Thiết kế 1 XNĐM Hà Nội Không còn chữ Đổi Mới
4 CKD7F0004 D19E 904 Thiết kế 1 XNĐM Hà Nội
5 CKD7F0005 D19E 905 Thiết kế 1 XNĐM Hà Nội Không còn chữ Đổi Mới
6 CKD7F0006 D19E 906 Thiết kế 1 XNĐM Hà Nội Không còn chữ Đổi Mới
7 CKD7F0007 D19E 907 Thiết kế 1 XNĐM Hà Nội
8 CKD7F0008 D19E 908 Thiết kế 1 XNĐM Hà Nội
9 CKD7F0009 D19E 909 Thiết kế 1 XNĐM Vinh
10 CKD7F0010 D19E 910 Thiết kế 1 XNĐM Hà Nội Không còn chữ Đổi Mới
11 CKD7F0011 D19E 911 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
12 CKD7F0012 D19E 912 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
13 CKD7F0013 D19E 913 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
14 CKD7F0014 D19E 914 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
15 CKD7F0015 D19E 915 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
16 CKD7F0016 D19E 916 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
17 CKD7F0017 D19E 917 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
18 CKD7F0018 D19E 918 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
19 CKD7F0019 D19E 919 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
20 CKD7F0020 D19E 920 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
21 CKD7F0021 D19E 921 Thiết kế 2 XNĐM Hà Nội Không còn chữ Đổi Mới
22 CKD7F0022 D19E 922 Thiết kế 2 XNĐM Hà Nội
23 CKD7F0023 D19E 923 Thiết kế 2 XNĐM Hà Nội Không còn chữ Đổi Mới
24 CKD7F0024 D19E 924 Thiết kế 2 XNĐM Hà Nội Không còn chữ Đổi Mới
25 CKD7F0025 D19E 925 Thiết kế 2 XNĐM Hà Nội Không còn chữ Đổi Mới
26 CKD7F0026 D19E 926 Thiết kế 2 XNĐM Vinh
27 CKD7F0027 D19E 927 Thiết kế 2 XNĐM Hà Nội Không còn chữ Đổi Mới
28 CKD7F0028 D19E 928 Thiết kế 2 XNĐM Hà Nội Không còn chữ Đổi Mới
29 CKD7F0029 D19E 929 Thiết kế 2 XNĐM Hà Nội
30 CKD7F0030 D19E 930 Thiết kế 2 XNĐM Hà Nội
31 CKD7F0031 D19E 931 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
32 CKD7F0032 D19E 932 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
33 CKD7F0033 D19E 933 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
34 CKD7F0034 D19E 934 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
35 CKD7F0035 D19E 935 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
36 CKD7F0036 D19E 936 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
37 CKD7F0037 D19E 937 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
38 CKD7F0038 D19E 938 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
39 CKD7F0039 D19E 939 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn
40 CKD7F0040 D19E 940 Thiết kế 2 XNĐM Sài Gòn

Thư viện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Một số vụ tai nạn[sửa | sửa mã nguồn]

Số hiệu đoàn tàu Ngày Số hiệu đầu máy Địa điểm Thương tích Ghi chú
Bị thương Chết
E1 12 tháng 3 năm 2005 D19E-909 Khu gian Đá Bàng - Cầu Hai (Km 752+500) thuộc thị trấn Lăng Cô, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế ~100 12 Vụ tai nạn được xác định là do tàu chạy quá tốc độ quy định.
TN6 6 tháng 8 năm 2010 D19E-921 Km 225+200 quốc lộ 1 ? ? Va chạm với xe tải vượt đường ngang
SE5 6 tháng 2 năm 2011 D19E-951 Cầu Ghềnh, Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai 20 2 Va chạm với xe container vượt đường ngang
LP5 10 tháng 7 năm 2013 D19E-909 Quốc lộ 5, Thanh Hà, Hải Dương. ? ? Va chạm với xe container vượt đường ngang
NA2 19 tháng 9 năm 2014 D19E-924 địa phận xã Tân Thành, Vụ Bản, Nam Định 0 0 Va chạm với xe container vượt đường ngang
SE5 10 tháng 3 năm 2015 D19E-968 km 639 + 700, thuộc xã Hải Lâm, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 3 1 (lái tàu bị mắc kẹt trong cabin) Va chạm với xe tải chở đá vượt đường ngang
SE5 8 tháng 6 năm 2015 D19E-951 ấp Thái Hòa, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom 0 0 Va chạm với xe container vượt đường ngang
SE2 20 tháng 2 năm 2017 D19E-906 km 438 + 245, khu gian Lăng Cô - Cầu Hai, thuộc xã Lộc Tiến, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 3 4 Va chạm với xe tải vượt đường ngang
TN5 28 tháng 2 năm 2018 D19E-963 Km 915+200 đường ngang dân sinh có biển báo đoạn qua thôn Thọ Bắc, xã Tịnh Thọ, huyện Sơn Tịnh 0 1 Va chạm với xe tải vượt đường ngang
SE19 24 tháng 5 năm 2018 D19E-927 khu vực đường ngang có gác chắn thuộc khu gian ga Khoa Trường, xã Trường Lâm, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa 0 2 (là lái tàu, bị mắc kẹt trong cabin) 2 nhân viên gác chắn tàu hỏa đã không kéo rào chắn kịp thời
SE19 30 tháng 6 năm 2018 D19E-905 xã Nghi Kim, TP Vinh, Nghệ An. 0 0 Va chạm với xe bồn vượt đường ngang
NA1 10 tháng 7 năm 2018 D19E-902 đoạn giao cắt với Quốc lộ 7A (điểm có rào chắn đường bộ thuộc cung đường sắt Diễn Châu), tại km 293+395 đoạn qua xã Diễn Phúc, huyện Diễn Châu. 0 0 Va chạm với xe tải vượt đường ngang
SNT2 1 tháng 10 năm 2019 D19E-955 100 km về phía Nam ga Nha Trang 0 0 Va chạm với xe tải vượt đường ngang

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [云南日报 “我国新型内燃机车出口越南”] Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp). 21 tháng 1 năm 2002.
  2. ^ a b “Hekou Sanyuan Trading Co., Ltd”.
  3. ^ “Đổi Mới Co-Co Diesel Electric Locomotive”. railwaysinvietnam. 8 tháng 6 năm 2015.