Đức thánh Tam Giang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đức Thánh Tam Giang là danh xưng mà người dân Việt Nam gọi chung hai vị thánh hiển linh từ Trương HốngTrương Hát. Đây là những vị tướng được nhắc tới nhiều nhất dưới thời vua Triệu Quang Phục. Tên gọi Tam Giang xuất phát từ tên gọi mà các triều đại Phong kiến Việt Nam phong cho hai ông: Tam Giang thượng đẳng thần. "Tam Giang" còn bắt nguồn từ cách gọi chung của ba con sông là sông Cầu, sông Thương, sông Đuống - nơi có nhiều đền thờ hai ông. Hai anh em ngài được đánh giá, đều là bậc tướng, trí dũng song toàn, "sinh vi dũng tướng, tử vi minh thần". Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt cổ vùng trung du thì đền thờ Thánh Tam Giang ban đầu vốn thờ Thần Rắn, về sau mới thờ Trương Hống, Trương Hát.

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Hống, Trương Hát sinh ra trong một gia đình gồm năm anh em, bốn trai, một gái. Ba người còn lại trong gia đình là Trương Lừng, Trương Lẫy, và người con gái là Trương Đạm Nương. Năm anh em sinh ngày 15, tháng Giêng, năm Nhâm Ngọ (502), người làng Vân Mẫu, xã Vân Mẫu, huyện Quế Dương (sau là Võ Giàng), quận Vũ Ninh, xứ Kinh Bắc, (nay là thôn Hai Vân, phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh). Mẹ là con gái họ Phùng, tên hiệu là Từ Nhan, sinh năm Quý Hợi 483 thời Tiền Lý Nam Đế. Theo cuốn thần phả hiện được lưu giữ tại Ban quản lý di tích Đền Vân Mẫu, thôn Hai Vân, phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh: Năm Từ Nhan 18 tuổi, vào đêm rằm tháng một (theo cách gọi xưa, còn theo cách gọi hiện nay thì là tháng 11) năm Canh Thìn (500) Từ Nhan nằm chiêm bao thấy Thần Long quấn mình trên sông Lục Đầu, sau đó bà mang thai. Sau 14 tháng mang thai, ngày 5 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (502) bà lên chùa lễ phật trở về đến xứ Cửa Cữu làng Vân Mẫu thì trở dạ, sinh ra một bọc 5 con. Người mẹ hết lòng chăm lo các con ăn học. Năm anh em là học trò của Tiên sinh Lã Thị người hương Chu Minh, lộ Bắc Giang (tức xã Hương Mạc, huyện Từ Sơn ngày nay). Anh em học đến đâu lầu thông kinh sử đến đấy, ngày ngày chăm đọc binh thư, siêng rèn võ nghệ, nên đều là những người tinh thông văn võ. Khi anh em 17 tuổi thì mẹ mất (ngày 15 tháng 4 âm lịch năm Kỷ Hợi 519) và 5 anh em đã táng mẹ tại xứ đồng Bãi Cả, hiếu thảo thờ mẹ 3 năm.[1]

Giúp Triệu Việt Vương đánh quân Lương[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàn cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 545 nhà Lương, đời vua Đại Đồng năm thứ bảy, cử tướng Dương PhiêuTrần Bá Tiên đem quân sang xâm lược Việt Nam. Lý Nam Đế đem quân chặn đánh nhưng vì quân ít không cản được giặc phải rút về miền núi động Khuất Lão (Tam Nông, Phú Thọ) trao quyền cho tướng Triệu Quang Phục, rồi mất tại đó. Triệu Quang Phục đưa quân về đầm Dạ Trạch (Hưng Yên) đánh phục kích, đồng thời truyền hịch trong dân gian tìm người tài giỏi đánh giặc giúp nước.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Triệu Quang Phục[sửa | sửa mã nguồn]

Hai ông Trương Hống, Trương Hát nghe có hịch chiêu tài, anh em bàn nhau xin lệnh thầy, dụng kế lập thân, về quê mộ quân để đi giúp nước. Sau này các ông đến địa phận làng Tiên Tảo, huyện Kim Hoa, phủ Đa Phúc, lộ Bắc Giang thấy đất có thế ỷ giốc, tiến thoái lưỡng tiện có thể dụng binh liền cho quân hạ trại, làm tờ chiêu dụ nhân dân. Tờ rằng: "Đất nước Vạn Xuân ta đang thanh bình, càn nguyên hanh thái, bỗng đâu giặc Lương xâm lấn, xã tắc đảo điên, muôn dân khốn khổ. Bọn Hống-Hát chúng tôi xuất thân con nhà lam lũ, được học võ nghệ, có chút mưu cơ, dám đem sức lực người bản xứ, dấy binh cuốc cầy, địch cùng lang sói ngoại bang, giúp Triệu Việt Vương giữ an bờ cõi, dám mong chư vị bàn dân hưởng ứng nghĩa quân thì lấy làm may lắm".Phụ lão làng ấy tiếp tờ, thấy các ông dung dị khác thường, uy nghi đường bệ, thi đua nhau cho con cháu đi theo làm quân sĩ.

Trận đầm Dạ Trạch[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Quang Phục được tin, sai sứ lên phong Trương Hống làm thượng tướng quân, Trương Hát làm phó tướng quân, Lã tiên sinh làm quân sư, Trương Lừng, Trương Lẫy làm tỳ tướng, Đạm Nương làm hậu binh lương và lo kế sách phản công. Đúng kỳ thúc giáp, hai phía cùng truyền lệnh quân cơ, tỏa binh tiếp trận, quân Triệu Quang Phục ở Dạ Trạch tiến lên, quân Hống-Hát ở Tiên Tảo kéo xuống, thủy bộ bốn mặt giáp công, xung đột tung hoành đánh rất dữ dội. Quân Lương không sao chống cự nổi, đại bại rã rời, số chạy dẵm đạp lên nhau, chết hại nhiều vô kể, số bị bắt mặt mày tái mét, run rẩy van xin, chánh tướng Trần Bá Tiên tử trận, phó tướng Dương Phiêu phải thu nhặt tàn quân rút về Bắc quốc.Dẹp xong giặc rồi, khải hoàn tấu tiệp, Triệu Việt Vương kéo quân về Long Biên sang sửa đô thành.Nước nhà độc lập, Triệu Quang Phục lên ngôi vua, phong thưởng cho các tướng có công đánh giặc. Vua Triệu phong thực ấp cho hai anh em họ Trương ở Kinh Bắc, Trương Hống ở làng Tiên Tảo, huyện Kim Anh (nay là thôn Tiên Tảo, xã Việt Long, huyện Sóc Sơn), Trương Hát ở làng Tam Lư, huyện Đông Ngàn (nay là thôn Tam Lư, Từ Sơn, Bắc Ninh) là nơi dấy binh cũ.

Tôi trung chẳng thờ hai vua[sửa | sửa mã nguồn]

Được tin Triệu Quang Phục lên ngôi vua, Lý Phật Tử (người họ Lý Nam Đế) đã đem quân đánh lại nhưng không thắng, bèn dùng kế cầu hôn gả con. Trương Hống và Trương Hát đã can Triệu Việt Vương đừng gã Cảo Nương cho Nhã Lang. Nhưng Triệu Quang Phục không nghe, mắc mưu của Lý Phật tử, rồi bị đánh úp. Lý Phật tử lên ngôi vua tự xưng là Hậu Lý Nam Đế và biết các ông là tướng tài giỏi bèn cho người vời ra làm quan. Song các ông nhất lòng trung quân không theo Lý Phật tử, thưa lại rằng: Tôi trung chẳng thờ hai vua, gái trinh chẳng đổi hai chồng, huống hồ ngươi là người bội nghĩa mà còn muốn khuất cái tiết bất di dịch này ư? Biết không thể khuất phục được, Lý Phật tử lệnh truy bắt các ông khắp nơi. Các ông trốn vào ở núi Phù Long; Nam Đế nhiều lần cho người đến truy nã không được, mới treo ngàn vàng cầu người bắt. Các ông bàn nhau cùng đem gia quyến xuôi dòng sông Cầu, uống thuốc độc để giữ trọn tấm lòng trung với vua. Nhân dân dọc theo sông Cầu và các nơi các ông từng đóng quân đánh giặc đã vô cùng khâm phục, thương tiếc, lập đền thờ làm Thần.

Câu truyện truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Câu truyện truyền thuyết nhắc tới Trương Hống, Trương Hát nhiều nhất là câu truyện về sự ra đời của bài thơ Nam quốc sơn hà – được cho là Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam. Truyền thuyết này là loại truyền thuyết anh hùng thường thấy trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Truyền thuyết này được văn bản hóa sớm nhất ở sách Việt điện u linh (1329). Ngoài ra, truyền thuyết còn được ghi lại trong các bộ sử lớn như Đại Việt sử ký toàn thư và các sách sử khác như Việt sử tiêu án, Việt sử tiệp kính, trong các bộ sách khác như Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất thống chí... Mặt khác, truyền thuyết này cũng sớm được lấy lại trong Lĩnh Nam chích quái và các sưu tập truyện cổ dân gian khác như Thiên Nam vân lục liệt truyện, Mã lân dật sử, các sách sử như Việt sử diễn âm,Việt sử quốc âm, Thiên Nam ngữ lục và các bản thần tích sưu tầm trước đây và hiện nay.[2]

Truyền thuyết về bài thơ Thần lần một[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tân Tị niên hiệu Thiên Phúc (981), triều Lê, Tống Thái Tông sai tướng quân Nhân Bảo, Tôn Toàn đem binh xâm lược phương Nam đến cửa biển Đại Than. Vua Đại Hành cùng tướng quân Phạm Cự Lượng dựng lũy, cầm cự với giặc ở sông Đồ Lỗ. Lê Đại Hành đêm canh ba nằm mộng thấy thần nhân tới bái lạy trên sông. Thần kể sự tình lúc còn sống theo vua đánh giặc, chết được Thượng đế thương tình ban tên cho là Thần bộ quan (thủy thần), thống lĩnh tướng các âm binh. Nay giặc Tống sang xâm phạm bờ cõi, xin được cùng hoàng đế đánh giặc Bắc Tống để cứu sinh dân". Vua tỉnh dậy, lập tức thắp hương khấn vái xin được thần nhân trợ giúp, sau đó giết súc vật, đốt vàng mã làm lễ cúng tế. Đêm ấy, Đại Hành lại mộng thấy thần nhân thống lĩnh âm binh tiến đánh giặc. Canh ba, đêm tháng mười, trời đất tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng, quân Tống kinh hoàng, tháo chạy tán loạn, thần nhân ẩn mình trên không trung lớn tiếng ngâm thơ:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư,
Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm,
Hội kiến thịnh trần tận tảo trừ.[3]

Sông núi nước Nam vua Nam ở,

Trời xanh đã định trong sách trời,
Cớ sao giặc Bắc sang xâm phạm,
Sẽ gặp cuồng phong đánh tơi bời.

Quân Tống nghe bài thơ đó đánh giết lẫn nhau rồi mạnh ai người nấy chạy tháo thân về nước. Vua phong thưởng tướng sĩ rồi truy phong công lao hai thần. Một là Khước Địch đại vương, lập đền ở ngã ba sông Long Nhãn (hay Long Nhỡn,cũng là sông Thương?). Một là Uy Linh đại vương, lập đền ở ven sông Như Nguyệt".[2][4][5]

Truyền thuyết về bài thơ Thần lần hai[sửa | sửa mã nguồn]

Xét Sử ký của Đỗ Thiện chép thời Nam Tấn Vương nhà Ngô đi đánh giặc Lý Huy ở Long Châu (Tây Long), đóng quân ở cửa Phù Lan (sông Lục Đầu), đêm ngủ mộng thấy hai người y quan kỳ vĩ, diện mạo khôi ngô, đến xin tòng quân trợ chiến. Sau khi Thần kể hết sự tình lúc sống theo Triệu Quang Phục đánh giặc, chết được Thượng đế thương vô tội chết chẳng phải mệnh, phong làm Thủy thần, thống lĩnh tướng các âm binh, hiệu là Thần Giang Đô Phó Sứ,đã từng trợ thuận Ngô Quyền trong chiến dịch Bạch Đằng vua tỉnh dậy, bảo đem cỗ rượu đến điện tế, khấn rằng: Quả có anh linh, hãy phù trợ chiến dịch này, nếu được thắng lợi, tức thì dựng miếu và phong tước, hương hỏa đời đời. Lại hôm khác, vua mộng thấy hai Vương đốc binh, bộ ngũ liên thuộc đều có mặt mày như quỷ thần cả, hàng ngũ rất nghiêm, bộ lạc rất chỉnh tề hội tại cửa Phù Lan. Binh ông anh đóng từ sông Vũ Bình đến sông Như Nguyệt tiến đến đầu nguồn sông Phú Lương; Binh ông em đi từ men sông Lạng Giang vào sông Nam Bình (sông Thương). Vua tỉnh dậy bảo với tả hữu, quả nhiên trận ấy được toàn thắng. Bình xong giặc Tây Long, vua sai Sứ chia chỗ lập đền thờ, đều phong làm Phúc Thần một phương, chiếu phong anh là Đại Đương Giang Đô Hộ Quốc Thần Vương, lập đền ở cửa sông Như Nguyệt(cửa sông Cà Lồ, Ngã ba Xà, chỗ sông Cà Lồ đổ ra sông Cầu). Còn em là Tiểu Đương Giang Đô Hộ Quốc Thần Vương, lập đền ở cửa sông Nam Bình (cửa sông Thương).

Thời vua Nhân Tông nhà Lý (1075), binh Tống nam xâm kéo đến biên cảnh; vua sai Thái uý Lý Thường Kiệt dựa bờ sông đóng cừ để cố thủ. Một đêm kia quân sĩ nghe trong đền có tiếng ngâm to rằng:

"Sông núi nhà Nam Nam đế ở
Phân minh trời định tại thiên thư.
Cớ sao nghịch lỗ sang xâm phạm?
Bọn chúng rồi đây sẽ bại hư."

Quả nhiên quân Tống chưa đánh đã tan rã. Thần mộng rõ ràng, mảy lông sợi tóc chẳng sai.[2][4][5]

Một số sắc phong[sửa | sửa mã nguồn]

Niên hiệu Trùng Hưng năm đầu (Trần Nhân Tông), sắc phong Như Nguyệt Khước Địch Đại Vương, năm thứ tư gia phong Thiện Hựu Dũng Cảm. Các triều vua về sau: Trần, Lê đem quân đánh giặc phương Bắc tại dòng sông Cầu đều được Thần âm phù đánh thắng và đều có sắc phong cao nhất cho Thần là "Tam Giang thượng đẳng thần".[2][5]

Nơi thờ[sửa | sửa mã nguồn]

Có 372 làng (con số thực tế có thể còn nhiều hơn, trước đây được ghi nhận là 290 làng) tôn thờ Đức Thánh Tam Giang, thuộc 5 tỉnh, 16 huyện thị ven các triền sông Cầu từ Đu, Đuổng (Thái Nguyên), qua Ngã Ba Xà (Tam Giang - Yên Phong), rồi tới Lục Đầu Giang (sông Cầu dài 290 km, như vậy trung bình cứ 1 km lại có một làng thờ). Theo kết quả kiểm kê năm 2013 của Ban Quản lý di tích tỉnh Bắc Giang thì Bắc Giang có 100 di tích đình, đền, nghè thờ Thánh Tam Giang[6].

Di tích cấp quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây liệt kê một số nơi thờ Đức Thánh Tam Giang đã được xếp hạng là di tích cấp quốc gia của Việt Nam:

Tại Bắc Ninh[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên di tích Địa phương Thời gian xây dựng Năm xếp hạng Ghi chú
1 Đền Xà Yên Phong nhà Lý[7] - Thờ Trương Hống. Đền là nơi Lý Thường Kiệt đọc bài thơ Nam quốc sơn hà[8]
2 Đình Diềm (Đình Viêm Xá)[9] thành phố Bắc Ninh 1692 1964 Ngày 13/1/1964
3 Đình Cổ Mễ[10] thành phố Bắc Ninh - -
4 Đền Điều Sơn[10] thành phố Bắc Ninh - - Thờ thân mẫu Thánh Gióng, Thánh Tam Giang, tướng Trần Lựu có công đánh giặc Minh thế kỷ XV
5 Đình Quả Cảm[10] thành phố Bắc Ninh nhà Lê (xây lại vào năm 1948) -
6 Đình Đọ Xá[10] thành phố Bắc Ninh nhà Lê -
7 Đình Trà Xuyên[10] thành phố Bắc Ninh nhà Lê (thế kỷ XVIII) -
8 Đình Đáp Cầu[10] thành phố Bắc Ninh nhà Lê -
9 Đền Dương Ổ[10] thành phố Bắc Ninh nhà Lê 2011
10 Cụm di tích Đền Vân Mẫu, Nghè Chu Mẫu, nhà cố Trạch[10] thành phố Bắc Ninh - - Là cụm di tích thờ phụng thân mẫu Thánh Tam Giang và Thánh Tam Giang (Trương Hống, Trương Hát, Trương Lừng, Trương Lẫy, Đạm Nương)
11 Đình Thọ Đức Yên Phong nhà Lê 1990 Đình làng Thọ Đức được Bộ Văn hóa xếp hạng là Di tích lịch sử theo Quyết định số 34-VH/QĐ ngày 9-1-1990. Theo nội dung thần tích, sắc phong thì đình thờ 5 vị thần là: Cường Bạo đại vương, Thánh Tam Giang, Nghiêm Công, Lễ Công, Đức Công vốn là các vị thần có công cùng với Thánh Gióng đánh thắng giặc Ân dưới thời Hùng Vương thứ VI[11].
12 Đền Cang Vang (Đền Thọ Đức) Yên Phong nhà Lý 1990 Đền Cang Vang được Bộ Văn hóa xếp hạng là Di tích lịch sử theo Quyết định số 34-VH/QĐ ngày 9-1-1990. Đền là một địa điểm quan trọng trên phòng tuyết sông Như Nguyệt trong cuộc kháng chiến chống Tống, là nơi thờ Đức Thánh Tam Giang và Lý Thường Kiệt. Ngoài ra, đền Can Vang hiện còn thờ bốn vị Thánh khác.[12].
13 Đình Quan Đình Yên Phong thời Lê Trung Hưng (TK XVII) 1988 Đình Quan Đình được Bộ Văn hóa xếp hạng là Di tích lịch sử văn hoá theo Quyết định số 28/VH- QĐ ngày 18/01/1988. Các vị Thần được thờ ở đình Quan Đình là “Cao Sơn đại vương” (Thần Núi), “Thánh Tam Giang” (Trương Hồng và Trương Hát) và “Thổ Linh Chi Thần” (Thổ Thần)[13].

Tại Bắc Giang[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên di tích Địa phương Thời gian xây dựng Năm xếp hạng Ghi chú
1 Đình Sen Hồ Việt Yên Cuối thế kỉ XVII 2013 Thờ Trương Hống, Diên Bình Công chúa (con gái vua Lý Thánh Tông)
2 Đình Trâu Lỗ, Đền Trâu Lỗ Hiệp Hòa - 1994 Di tích kiến trúc nghệ thuật, được công nhận ngày 12/12/1994 theo QĐ số 3211/QĐ- BVH, thuộc xã Mai Đình, Hiệp Hòa[14].
3 Đền Soi Hiệp Hòa - 1994 Di tích lịch sử ATK 2, được công nhận ngày 15/10/1994 theo QĐ số 2754/QĐ-BVH, thuộc xã Hoàng Vân, Hiệp Hòa[14].
4 Đền Vân Việt Yên thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII) 1990 Di tích kiến trúc nghệ thuật, được công nhận theo QĐ số 34/QĐ-BVH, ngày 9/01/1990, thuộc Xã Vân Hà, huyện Việt Yên[15]
5 Đình Đông Việt Yên thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVIII) 1994 Di tích lịch sử, được công nhận theo QĐ số 226/QĐ-BVH, Ngày 5/02/1994, thuộc thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên.[15]
6 Đình Hữu Nghi[16] Việt Yên thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII) 1995 Di tích Kiến trúc Nghệ thuật, được công nhận theo QĐ số 1568/QĐ-BVH, ngày 20/4/1995, thuộc xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên[15]. Đình thờ Đức thánh Tam Giang, Cao Sơn, Quý Minh đại vương.

Di tích cấp tỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Một số di tích cấp tỉnh của các địa phương thờ Đức thánh Tam Giang:

Thái Nguyên Hà Nội Bắc Giang Bắc Ninh Hải Dương Ghi chú
- - Đền Long Động[17], Đình Quang Biểu - - -

Di tích khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài các nơi thờ tự thánh Tam Giang, nhân dân còn lập các đền thờ liên quan như: đền Mai Thượng (còn gọi là đền Tiếu Mai thuộc xã Mai Thượng, Hiệp Hòa, Bắc Giang) thờ Đức Thánh Cả, huý Trương Kiều mất khi mới 6 tuổi, là con của Trương Hống.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên đánh giá:

Giống Cao Lỗ[sửa | sửa mã nguồn]

Đức thánh Tam Giang và Cao Lỗ đều là tướng giỏi của vua và đều sáng suốt khuyên vua không nên gả công chúa cho quân đối địch. Theo Đại Nam quốc sử diễn ca, Trương Hống, Trương Hát đã can Triệu Việt Vương đừng gã Cảo Nương cho Nhã Lang:

Có người: Hống, Hát họ Trương
Vũ biền nhưng cũng biết đường cơ mưu,
Rằng: "Xưa Trọng Thuỷ, Mỵ Châu,
Hôn nhân là giả, khấu thù là chân.
Mảnh gương vãng sự còn gần,
Lại toan dắt mối Châu Trần sao nên?[5]

Thông tin khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tại làng Nôm (nay là thôn Đại Đồng, xã Đại Đồng, Văn Lâm, Hưng Yên) - là một làng cổ có giá trị về lịch sử, văn hoá (như làng cổ Đường Lâm) và đã được đề nghị công nhận là di sản quốc gia) cũng có đình thờ Đức Thánh Tam Giang. Tương truyền xưa kia, Đức thánh Tam Giang là tướng dưới thời Hai Bà Trưng, có công đánh giặc giúp dân, cứu nước. Không những thế, ông còn hiển linh giúp vua Lê Đại Hành đánh tan quân Tống, được vua phong là "Hộ Quốc Phúc Thần". Ở làng Nôm cũng có một con sông nhỏ tên là sông Nguyệt Đức - cùng tên với sông Nguyệt Đức (sông Cầu) bắt nguồn từ Thái Nguyên (là một trong sáu con sông của sông Lục Đầu)[18]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hội đền Vân Mẫu, Thúy Nga, Thứ hai, 21/02/2011 - 08:45
  2. ^ a ă â b Về thời điểm ra đời của bài thơ Nam quốc sơn hà, Nguyễn Thị Oanh, TC Han Nom 1/ 2002
  3. ^ Nguyễn Thị Oanh, Tìm tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà, Viện Nghiên cứu Hán Nôm
  4. ^ a ă Pháp Thuận và bài thơ thần nước Nam sông núi, Nguồn: Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam T.II, Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh, 2001, tr. 473-485.
  5. ^ a ă â b c Chuyện Trương Hống và Trương Hát, Việt Điện U Linh tập, Huyền sử, Dã sử, theo Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, tr.303
  6. ^ Tục thờ Thánh Tam Giang ở Bắc Giang
  7. ^ Đền Xà nơi lưu giữ giá trị lịch sử văn hóa
  8. ^ Lý Thường Kiệt trọn đời vì nước quên thân
  9. ^ Làng Diềm quê hương Thủy tổ Quan họ
  10. ^ a ă â b c d đ e DANH SÁCH CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ ĐẠT CẤP QUỐC GIA-TP. BẮC NINH. Theo trang web của ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH. Truy cập ngày 12/03/2015.
  11. ^ Đình Thọ Đức. Theo Báo Bắc Ninh.
  12. ^ Gạch, cát “tặc” xé vụn phòng tuyến sông Như Nguyệt
  13. ^ Đình làng Quan Đình. Theo Báo Bắc Ninh.
  14. ^ a ă Danh mục các di tích đã được xếp hạng - Huyện Hiệp Hòa. Nguồn Ban quản lý di tích tỉnh Bắc Giang, tính đến hết năm 2007. Sở GD&ĐT Bắc Giang dẫn lại ngày 12/08/2011.
  15. ^ a ă â Danh mục các di tích đã được xếp hạng - Huyện Việt Yên. Nguồn Ban quản lý di tích tỉnh Bắc Giang, tính đến hết năm 2007. Sở GD&ĐT Bắc Giang dẫn lại ngày 12/08/2011.
  16. ^ Unesco vinh danh 5 làng quan họ cổ tỉnh Bắc Giang
  17. ^ Lễ hội Đền Long Động- Bắc Lý. Theo Trần Văn Thanh, 19 THÁNG 10 2010 (lễ hội Đền Long Động xã Bắc Lý (Hiệp Hòa) vào ngày 12-9 âm lịch).
  18. ^ http://baohungyen.vn/dat-va-nguoi-xu-nhan/201301/Van-hoa-tam-linh-Chua-Nom-169238/ Văn hóa tâm linh Chùa Nôm

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]