A Star Is Born (nhạc phim 2018)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ A Star Is Born (album nhạc phim))
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
A Star Is Born
A Star Is Born (2018 soundtrack).png
Album nhạc phim của Lady GagaBradley Cooper
Phát hành5 tháng 10, 2018 (2018-10-05)
Thu âm2017-2018
Phòng thu
Thể loại
  • Pop
  • Rock
  • Đồng quê
Hãng đĩaInterscope
Sản xuất
Thứ tự album của Lady GagaBradley Cooper
Joanne
(2016)Lỗi mô đun String: Không tìm thấy kết quả2016
A Star Is Born
(2017)
Đĩa đơn từ A Star Is Born
  1. "Shallow"
    Phát hành: 27 tháng 9 năm 2018
  2. "Always Remember Us This Way"
    Phát hành: 24 tháng 11 năm 2018

A Star Is Born là một album nhạc nền của bộ phim cùng tên (2018), thể hiện bởi 2 diễn viên chính của nó là Lady GagaBradley Cooper. Album được phát hành ngày 5 tháng 10 năm 2018 bởi Interscope Records. Gaga và Cooper hợp tác thực hiện album cùng với một số nhà soạn nhạc đồng quê, trong đó có Lukas Nelson. Anh cũng góp mặt trong bộ phim như là một thành viên ban nhạc của Cooper. Để tạo ra những bài hát nghiêng về thể loại pop, Gaga phối hợp với cộng tác lâu năm của mình là DJ White Shadows. Album cũng bao gồm nhiều đóng góp từ các nhà soạn nhạc khác như Jason Isbell, Mark Ronson, Diane WarrenAndrew Wyatt. Về mặt thương mại, album đã đứng đầu các bảng xếp hạng ở Canada, Ireland, Scotland, Thuỵ Điển, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 3 năm 2015, Warner Bros. thông báo rằng Bradley Cooper đang bàn bạc để tạo ra A Star Is Born - sản phẩm đầu tay của anh dưới vai trò đạo diễn. Đây là phiên bản làm lại lần thứ tư của bộ phim cùng tên, phát hành năm 1937. Lady Gaga được chọn làm vai chính cho bộ phim vào tháng 8 năm 2016 và dự án được chính thức tiến hành sản xuất vào đầu năm 2017. Cooper đóng vai Jackson Maine, một ngôi sao nhạc đồng quê dày dặn kinh nghiệm, tình cờ phát hiện và sau đó yêu một cô ca sĩ gặp nhiều khó khăn mang tên Ally, do Gaga thủ vai.

Cooper bỏ ra 2 năm rưỡi chuẩn bị cho bộ phim và xác định thể loại ca sĩ nào mà nhân vật của anh sẽ trở thành. Cooper đã làm việc với nhiều nhà soạn nhạc khác nhau và huấn luyện viên giọng hát Roger Love.

Sáng tác và thu âm[sửa | sửa mã nguồn]

Cooper miêu tả album như "một sự tiến hoá, như một câu chuyện có đầu đuôi." Gaga và Cooper cùng nhau sáng tác trong những lúc trên trường quay, dẫn đến "quá nhiều sự hoá thân khác nhau trong từng bài hát". Cooper cho biết thêm rằng "âm nhạc đã thực sự trở thành phần của bộ phim. Không có lời hát nào trong album này không liên quan đến những tình tiết của bộ phim. Chúng tôi đặt nền móng như vậy đối với album này, và sau đó chúng tôi chỉ cần tìm những bài hát phù hợp để đưa vào đúng phân cảnh." Jason Isbell sáng tác một bài hát cho nhân vật của Cooper và nó đã trở thành ý tưởng dẫn đến những bài hát khác. Isbell gửi bài hát đó cho Dave Cobb, một nhà sản xuất mà Cooper đang cộng tác cùng.

Cooper gặp gỡ Lukas Nelson sau khi xem anh ấy biểu diễn tại Desert Trip vào tháng 10 năm 2016 và hỏi ý kiến anh ta về việc viết nhạc cho album. Nelson nói rằng anh ta đã bắt đầu "sáng tác các bài hát cho bộ phim, chỉ dành cho nó thôi, và gửi chúng cho những nhà sản xuất và họ rất thích chúng. Sau đó Lady Gaga đến và chúng tôi bắt đầu hợp tác. Chúng tôi trở thành bạn tốt và chúng tôi bắt đầu viết nhạc cùng nhau."

Gaga hội ngộ với nhà sản xuất Mark Ronson và nhà soạn nhạc Hillary Lindsey, họ đã từng cộng tác với cô trong album phòng thu lần trước, Joanne (2016). Gaga cũng làm việc với DJ White Shadows để tạo ra những bài hát có hơi hướng pop, được biểu diễn bởi nhân vật của cô là Ally.

Theo lời của Gaga, đa phần album được thu âm trực tiếp trên trường quay.

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày ra mắt và danh sách bài hát của album được thông báo vào ngày 30 tháng 8 năm 2018. Interscope cho biết rằng "album bao gồm 19 bài hát với nhiều phong cách âm nhạc khác nhau + 15 đoạn hội thoại sẽ đưa người nghe trên một cuộc hành trình trải nghiệm lại khoảnh khắc đi xem phim." "Shallow" đã được phát hành như là đĩa đơn mở đường của album vào ngày 27 tháng 9 năm 2018.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Professional ratings
Điểm trung bình
Nguồn Đánh giá
AnyDecentMusic? {{{ADM}}}
Metacritic 78/100[1]
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
AllMusic 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[2]
The Daily Telegraph 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[3]
The Guardian 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[4]
NME 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[5]
Pitchfork 7.4/10[6]
Rolling Stone 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[7]
Slant Magazine 2.5/5 saoStar full.svgStar half.svgStar empty.svgStar empty.svg[8]

Album nhận được nhiều lời khen từ các nhà phê bình. Trên trang tổng hợp các đánh giá Metacritic, album nhận được điểm số trung bình 78/100 dựa trên 8 đánh giá khác nhau. Với một phản hồi tích cực, tờ The Washington Post gọi album như "một kỳ quan 5 sao" và cho rằng nó là một đối thủ nặng ký tranh Giải Grammy. Cây bút Ben Beaumont-Thomas của tờ The Guardian đánh giá tích cực về album và cho rằng "Bradley Cooper có thể hát tốt như khả năng anh ấy đạo diễn" nhưng "cũng nhờ sức mạnh của Lady Gaga để tạo điểm nhấn cho album, với những bản ballad tuyệt vời và những màn song ca chạm đến trái tim người nghe."

Stephen Thomas Erlewine của AllMusic đánh giá cao album, cho rằng "Tất cả các bài hát được sắp xếp rất hợp lý theo cách tường thuật lại bộ phim nhưng riêng mỗi bài lại có một nét độc đáo, vì thế chúng kết hợp rất chặt chẽ với nhau, tạo nên một album nhạc phim hạng nhất." Brittany Spanos của tờ Rolling Stones cho album 4/5 sao, khen ngợi khả năng sáng tác của Gaga.

Diễn biến thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

A Star Is Born ra mắt ở vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200 của Hoa Kỳ với doanh số 231.000 bản, bao gồm 162.000 bản đĩa vật lý. Nó trở thành album nhạc phim có doanh số trong tuần cao nhất trong vòng 3 năm qua, và là album quán quân thứ năm của Gaga và album quán quân đầu tiên của Cooper tại quốc gia này. Gaga mở rộng kỉ lục của cô - nữ nghệ sĩ có nhiều album quán quân nhất tại Hoa Kỳ trong thập kỷ. Ở tuần thứ hai, album tiếp tục trụ vị trí quán quân trên Billboard 200 với doanh số 143.000 bản, bao gồm 86.000 bản đĩa vật lý, trở thành album thứ hai của Gaga đứng đầu bảng xếp hạng này trong 2 tuần liên tiếp sau Born This Way (2011). A Star Is Born cũng đứng đầu bảng xếp hạng Canadian Albums Chart tại Canada với 18.000 bản bán ra.

Ở Vương quốc Anh, A Star Is Born đứng đầu bảng xếp hạng UK Albums Chart trong tuần đầu ra mắt với doanh số 31.816 bản, trở thành album thứ tư của Gaga kể từ Artpop (2013) và album đầu tiên của Cooper đứng đầu bảng xếp hạng này. A Star Is Born cũng ra mắt ở vị trí quán quân tại Ireland và Scotland. Ở Pháp, album ra mắt ở hạng 7, bán ra 8.700 bản. Ở Úc, album ra mắt ở vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng ARIA Albums Chart.

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Bản tiêu chuẩn[9]
STT Tên bài hát Nhà sản xuất Thời lượng
1. "Intro"    0:20
2. "Black Eyes" (performed by Bradley Cooper)
3:03
3. "Somewhere Over the Rainbow" (dialogue; featuring Lady Gaga)  0:42
4. "Fabulous French" (dialogue; featuring Bradley Cooper, Lady Gaga, Anthony RamosD.J. "Shangela" Pierce)  0:19
5. "La Vie en rose" (performed by Lady Gaga) 2:59
6. "I'll Wait for You" (dialogue; featuring Bradley Cooper and Lady Gaga)  0:19
7. "Maybe It's Time" (performed by Bradley Cooper)
  • Cooper
  • Benjamin Rice
  • Gaga[a]
2:39
8. "Parking Lot" (dialogue; featuring Bradley Cooper and Lady Gaga)  0:31
9. "Out of Time" (performed by Bradley Cooper)
  • Cooper
  • Nelson
2:52
10. "Alibi" (performed by Bradley Cooper)
  • Gaga
  • Cooper
  • Nelson
3:03
11. "Trust Me" (dialogue; featuring Bradley Cooper and Lady Gaga)  0:32[e]
12. "Shallow" (performed by Lady Gaga and Bradley Cooper)
  • Gaga
  • Rice
3:35
13. "First Stop, Arizona" (dialogue; featuring Bradley Cooper and Lady Gaga)  0:10
14. "Music to My Eyes" (performed by Lady Gaga and Bradley Cooper)Nelson 3:19
15. "Diggin' My Grave" (performed by Lady Gaga and Bradley Cooper)
  • Gaga
  • Nelson
3:57
16. "I Love You" (dialogue; featuring Bradley Cooper and Lady Gaga)  0:19
17. "Always Remember Us This Way" (performed by Lady Gaga) 3:30
18. "Unbelievable" (dialogue; featuring Lady Gaga and Rafi Gavron)  0:28
19. "How Do You Hear It?" (dialogue; featuring Bradley Cooper and Lady Gaga)  0:14
20. "Look What I Found" (performed by Lady Gaga)
  • Gaga
  • Nilan
  • Monson
  • Blair
2:55
21. "Memphis" (dialogue; featuring Bradley Cooper and Lady Gaga)  0:24
22. "Heal Me" (performed by Lady Gaga)
  • Gaga
  • Nilan
  • Monson
  • Blair
3:16
23. "I Don't Know What Love Is" (performed by Lady Gaga and Bradley Cooper)
2:57
24. "Vows" (dialogue; featuring Lady Gaga)  0:17
25. "Is That Alright?" (performed by Lady Gaga)
  • Gaga
  • Nilan
  • Monson
  • Blair
3:11
26. "SNL" (dialogue; featuring Alec Baldwin, Donald King, Michael Mancini and Gena Rositano)  0:13
27. "Why Did You Do That?" (performed by Lady Gaga)
  • Gaga
  • Nilan
  • Monson
  • Blair
3:04
28. "Hair Body Face" (performed by Lady Gaga)
  • Gaga
  • Nilan
  • Monson
  • Blair
  • Rice[d]
3:22
29. "Scene 98" (dialogue; featuring Bradley Cooper and Lady Gaga)  0:35[f]
30. "Before I Cry" (performed by Lady Gaga)
  • Gaga
  • Nilan
  • Monson
  • Blair
4:18
31. "Too Far Gone" (performed by Bradley Cooper)
  • Cooper
  • Nelson
1:26
32. "Twelve Notes" (dialogue; featuring Lady Gaga and Sam Elliott)  1:03
33. "I'll Never Love Again" (film version) (performed by Lady Gaga and Bradley Cooper)
  • Gaga
  • Rice
4:41
34. "I'll Never Love Again" (extended version) (performed by Lady Gaga)
  • Gaga
  • Rice
5:28
Tổng thời lượng:
70:01[g]
Ghi chú
  • ^[a]  – nghĩa là có sự tham gia của nhà sản xuất phụ
  • ^[b]  – nghĩa là sản xuất phụ
  • ^[c]  – nghĩa là có sự tham gia của cả nhà sản xuất chính và phụ
  • ^[d]  – nghĩa là sản xuất giọng hát
  • ^[e]  – độ dài 0:31 trên phiên bản sạch của album
  • ^[f]  – độ dài 0:34 trên phiên bản sạch của album
  • ^[g]  – độ dài 69:59 trên phiên bản sạch của album

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng (2018) Vị trí
cao nhất
Argentinian Albums (CAPIF)[11] 7
Úc (ARIA)[12] 3
Áo (Ö3 Austria)[13] 4
Bỉ (Ultratop Flanders)[14] 4
Bỉ (Ultratop Wallonia)[15] 4
Canada (Billboard)[16] 1
Cộng hòa Séc (ČNS IFPI)[17] 3
Hà Lan (MegaCharts)[18] 3
Phần Lan (Suomen virallinen lista)[19] 36
Pháp (SNEP)[20] 7
Đức Albums (Offizielle Top 100)[21] 5
Greek Albums (IFPI Greece)[22] 14
Hungary (Mahasz)[23] 28
Icelandic Albums (Tonlist)[24] 25
Irish Albums (OCC) 1
Italian Albums (FIMI)[25] 4
New Zealand Albums (RMNZ)[26] 3
Na Uy (VG-lista)[27] 15
Ba Lan (ZPAV)[28] 32
Bồ Đào Nha (AFP)[29] 6
Scotland (OCC)[30] 1
Slovak Albums (ČNS IFPI)[31] 3
Hàn Quốc (Gaon)[32] 50
Hàn Quốc (album quốc tế) (Gaon)[33] 1
Tây Ban Nha (PROMUSICAE)[34] 4
Swedish Compilation (Sverigetopplistan)[35] 1
Thụy Sĩ (Schweizer Hitparade)[36] 2
Anh Quốc (OCC)[37] 1
Anh Quốc Soundtrack Albums (OCC)[38] 1
Hoa Kỳ Billboard 200[39] 1
Hoa Kỳ Soundtrack Albums (Billboard)[40] 1

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “A Star Is Born (Original Motion Picture Soundtrack)”. Metacritic. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018. 
  2. ^ Thomas Erlewine, Stephen (5 tháng 10 năm 2018). “Lady Gaga / Bradley Cooper - A Star Is Born [Original Motion Picture Soundtrack]”. AllMusic. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2018. 
  3. ^ McCormick, Neil (5 tháng 10 năm 2018). “Lady Gaga & Bradley Cooper: A Star Is Born soundtrack, review: an enjoyable but very peculiar album”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2018. 
  4. ^ Beaumont-Thomas, Ben (5 tháng 10 năm 2018). “A Star Is Born soundtrack review – instant classics full of Gaga's emotional might”. The Guardian. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2018. 
  5. ^ Reilly, Nick (8 tháng 10 năm 2018). “‘A Star Is Born’ – soundtrack review”. NME. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2018. 
  6. ^ Fitzmaurice, Larry (8 tháng 10 năm 2018). “Lady Gaga / Bradley Cooper - A Star Is Born Original Motion Picture Soundtrack”. Pitchfork. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2018. 
  7. ^ Spannos, Brittany (5 tháng 10 năm 2018). “Review: Lady Gaga and Bradley Cooper Shine Bright on the ‘A Star Is Born’ Soundtrack”. Rolling Stone. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2018. 
  8. ^ Winograd, Jeremy (10 tháng 10 năm 2018). “A Star Is Born Original Soundtrack”. Slant Magazine. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018. 
  9. ^ “A Star Is Born Soundtrack | Credits”. A Star Is Born. Interscope Records. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2018. 
  10. ^ “A Star Is Born (Without Dialogue)”. Spotify. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2018. 
  11. ^ “Los discos más vendidos: "Quiero volver" de Tini se quedó con en el primer puesto en la semana del 8 al 14 de Octubre”. Diario de Cultura (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2018. 
  12. ^ "Soundtrack / Lady Gaga / Bradley Cooper – A Star Is Born". Australiancharts.com. Hung Medien. Truy cập 13 tháng 10 năm 2018.
  13. ^ "Soundtrack / Lady Gaga / Bradley Cooper - A Star Is Born" (bằng tiếng Đức). Austriancharts.at. Hung Medien. Truy cập 17 tháng 10 năm 2018.
  14. ^ "Soundtrack / Lady Gaga / Bradley Cooper – A Star Is Born" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 10 năm 2018.
  15. ^ "Soundtrack / Lady Gaga / Bradley Cooper – A Star Is Born" (bằng tiếng Pháp). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 10 năm 2018.
  16. ^ "Lady Gaga Album & Song Chart History" Billboard Canadian Albums Chart cho Lady Gaga. Prometheus Global Media. Truy cập 16 tháng 10 năm 2018.
  17. ^ "Top 50 Prodejní". Czech Albums. ČNS IFPI. Note: On the chart page, select 201841 on the field besides the word "Zobrazit", and then click over the word to retrieve the correct chart data. Truy cập 16 tháng 10 năm 2018.
  18. ^ "Soundtrack / Lady Gaga / Bradley Cooper – A Star Is Born". Dutchcharts.nl. Hung Medien. Truy cập 19 tháng 10 năm 2018.
  19. ^ "Elokuvamusiikki: A Star Is Born" (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập 21 tháng 10 năm 2018.
  20. ^ “Le Top de la semaine: Top Albums (Week 41, 2018)”. Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018. 
  21. ^ "Offiziellecharts.de – Soundtrack – A Star Is Born" (bằng tiếng Đức). GfK Entertainment Charts. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018.
  22. ^ “Official IFPI Charts Top-75 Albums Sales Chart Εβδομάδα: 41/2018” (bằng tiếng Greek). IFPI Greece. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2018. 
  23. ^ "Archívum – Slágerlisták – MAHASZ – Magyar Hangfelvétel-kiadók Szövetsége". Mahasz.hu. LightMedia. Truy cập 18 tháng 10 năm 2018.
  24. ^ “Tonlistinn Vika 41 – 2018” (bằng tiếng Icelandic). Tonlistinn. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2018. 
  25. ^ “Album – Classifica settimanale WK 42 (dal 2018-10-12 al 2018-10-18)” (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2018. 
  26. ^ “NZ Top 40 Albums Chart”. Recorded Music NZ. 22 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2018. 
  27. ^ "Soundtrack / Lady Gaga / Bradley Cooper – A Star Is Born". Norwegiancharts.com. Hung Medien. Truy cập 13 tháng 10 năm 2018.
  28. ^ "Oficjalna lista sprzedaży :: OLIS - Official Retail Sales Chart" (bằng tiếng Ba Lan). OLiS. Związek Producentów Audio Video. Truy cập 18 tháng 10 năm 2018.
  29. ^ "Soundtrack / Lady Gaga / Bradley Cooper – A Star Is Born". Portuguesecharts.com. Hung Medien. Truy cập 17 tháng 10 năm 2018.
  30. ^ "20181012 Top 40 Scottish Albums Archive | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập 13 tháng 10 năm 2018.
  31. ^ “Slovak Albums – Top 100”. ČNS IFPI. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.  Note: On the chart page, select SK Albums and "201841" on the field besides the word "Zobrazit", and then click over the word to retrieve the correct chart data.
  32. ^ "South Korea GAON Albums Chart". On the page, select "{{{year}}}" and then "2018.10.07~2018.10.13" to obtain the corresponding chart. Korean Charts. GAON. Truy cập 18 tháng 10 năm 2018.
  33. ^ "South Korea GAON International Albums Chart". Chọn "{{{year}}}" sau đó "2018.10.07~2018.10.13" để xem album cần thiết. Korean Charts. GAON. Truy cập 18 tháng 10 năm 2018.
  34. ^ "Soundtrack / Lady Gaga / Bradley Cooper – A Star Is Born". Spanishcharts.com. Hung Medien. Truy cập 16 tháng 10 năm 2018.
  35. ^ “Veckolista Samlingar – Vecka 41, 12 oktober 2018” (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. 12 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018. 
  36. ^ "Soundtrack / Lady Gaga / Bradley Cooper – A Star Is Born". Swisscharts.com. Hung Medien. Truy cập 17 tháng 10 năm 2018.
  37. ^ "20181012 Top 40 Official UK Albums Archive | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập 13 tháng 10 năm 2018.
  38. ^ "Official Soundtrack Albums Chart Top 50". Official Charts Company. Truy cập 16 tháng 10 năm 2018.
  39. ^ "Lady Gaga Album & Song Chart History" Billboard 200 cho Lady Gaga. Prometheus Global Media. Truy cập 16 tháng 10 năm 2018.
  40. ^ "Soundtrack Album & Song Chart History" Billboard Soundtrack Albums cho Soundtrack. Prometheus Global Media. Truy cập 16 tháng 10 năm 2018.