Cầu Kè

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Cầu Kè

Huyện
Thị trấn Cầu Kè, Trà Vinh.jpg
Một góc thị trấn Cầu Kè
Hành chính
VùngĐồng bằng sông Cửu Long
TỉnhTrà Vinh
Huyện lỵThị trấn Cầu Kè
Trụ sở UBNDSố 27, đường Trần Phú, khóm 4, thị trấn Cầu Kè
Phân chia hành chính1 thị trấn, 10 xã
Thành lập1913
Chính quyền
Chủ tịch UBNDNguyễn Hoàng Khải
Chủ tịch HĐNDNguyễn Thế Ngoan
Bí thư Huyện ủyNguyễn Thế Ngoan
Địa lý
Tọa độ: 9°52′20″B 106°3′42″Đ / 9,87222°B 106,06167°Đ / 9.87222; 106.06167Tọa độ: 9°52′20″B 106°3′42″Đ / 9,87222°B 106,06167°Đ / 9.87222; 106.06167
Diện tích245 km²
Dân số (2019)
Tổng cộng111.964 người
Thành thị6.889 người
Nông thôn105.075 người
Mật độ457 người/km²
Dân tộcKinh, Khmer, Hoa
Khác
Biển số xe84-K1
Số điện thoại0294.3.834.027
Số fax0294.3.834.027
WebsiteHuyện Cầu Kè

Cầu Kè là một huyện thuộc tỉnh Trà Vinh, Việt Nam.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Cầu Kè ở phía tây tỉnh Trà Vinh, có vị trí địa lý:

Huyện có diện tích 245 km² và dân số là 116.000 người. Huyện lỵ là thị trấn Cầu Kè cách thành phố Trà Vinh khoảng 40 km về hướng tây. Huyện Cầu Kè cũng là nơi có loại dừa sáp nổi tiếng.

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình huyện Cầu Kè mang tính chất chung của vùng đồng bằng sông Cửu Long nên tương đối bằng phẳng. Ngoài những giồng cát có địa hình cao đặc trưng (>1,8m). Dọc theo Sông Hậu có địa hình khá cao (cao ven sông) và thấp dần về hướng Đông (vào nội đồng).

Địa hình thấp nhất (0,4 - 0,6m) ở khu vực phía Đông Nam thuộc các địa bàn (Phong Thạnh, Phong Phú) và nằm rải rác ở các khu vực Đông Bắc (Thạnh Phú, Thông Hòa). Đặt biệt có khu vực địa hình trũng thấp (<0,4m) ở ấp Sóc Kha (xã Hoà Ân); Cây Gòn (xã Phong Thạnh).

Nhìn chung, địa hình huyện Cầu Kè thích hợp cho canh tác lúa, hoa màu và cây lâu năm. Tuy nhiên ở một số khu vực trũng thấp và gò cao cục bộ thường bị ngập úng, khô hạn.

Thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]

Sông Cầu Kè là sông chạy qua khu vực trung tâm thị trấn, thuyền bè có trọng tải 20 - 30 tấn giao thông dễ dàng. Bề rộng của sông 20 - 24m, sâu 4m, chịu tác động chế độ bán nhật triều không đều trên biển Đông; mực nước đỉnh triều hàng tháng thay đổi từ 1,0 đến 1,4m.

Huyện Cầu Kè chịu ảnh hưởng triều sông Hậu với 21 km chiều dài nằm dọc bờ sông Hậu và hệ thống sông rạch chính đều bắt nguồn từ sông Hậu như sông Bông Bót - Tổng Tồn - Bà Nghệ, rạch Tân Định. Ngoài ra huyện còn chịu ảnh hưởng triều của sông Cổ Chiên khá mạnh thông qua kênh Trà Ngoa ở phần đất xã Thạnh Phú.

Huyện chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều không đều ngày lên xuống 2 lần; mỗi tháng có 2 lần triều cường, sau ngày 1 và 15 âm lịch và 2 lần triều kém, sau ngày 7 và 23 âm lịch từ 2 - 3 ngày.

Tài nguyên du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động du lịch phát triển, nhất là du lịch sinh thái kết hợp với lễ hội truyền thống. Đến Cầu Kè, bạn sẽ có dịp tham quan nơi ngụ cư của những người Khmer. Các cuộc dâng bông, lễ hội hầu như diễn ra thường xuyên.

Huyện có nhiều tiềm năng về du lịch sinh thái của một vùng sông nước, nhất là các cồn dọc theo sông Hậu, có Cồn Tân Quy thuận lợi cho việc phát triển du lịch; du lịch tâm linh nhất là lễ hội chùa Ông hằng năm. Ngoài ra, huyện còn có nhà bia tưởng niệm nữ anh hùng liệt sĩ Chị Nguyễn Thị Út còn gọi là Út Tịch

Kết hợp với du lịch vườn cây ăn trái của Huyện, tạo nên những tour du lịch khép kín trong toàn tỉnh.

Đặc điểm dân số - nguồn lao động[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn huyện có 31.148 hộ với các dân tộc anh em sinh sống như: Kinh, Khmer, Hoa cùng chung sống dân số 111.964 người, trong đó dân tộc Kinh 88.523 người, chiếm 67,28%, dân tộc Khmer 42.746 người, chiếm 32,49%, dân tộc Hoa 306 người, chiếm 0,23% và khu thị trấn Cầu Kè có 6.889 người chiếm 6,16% dân số toàn huyện. Dân tộc thiểu số 38.965 người 30,93%.

Nguồn lao động[sửa | sửa mã nguồn]

Lao động chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp.

Tính đến thời điểm năm 2016, có 64.568 người trong độ tuổi lao động, chiếm 57,78% dân số của huyện.

Tính đến thời điểm năm 2018, có 77.864 người trong độ tuổi lao động, chiếm 62% dân số của huyện. Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên: 72.694/77.864 người, chiếm 93,4%. Hàng năm có thêm khoảng 1.500 lao động. Đây là nguồn lao động dồi dào của huyện.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Cầu Kè có 11 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Cầu Kè và 10 xã: An Phú Tân, Châu Điền, Hòa Ân, Hòa Tân, Ninh Thới, Phong Phú, Phong Thạnh, Tam Ngãi, Thạnh Phú, Thông Hòa.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu Kè là quận thuộc tỉnh Cần Thơ từ năm 1913, gồm có 2 tổng: Thạnh Trị với 5 làng và Tuân Giáo với 8 làng.

Ngày 07 tháng 06 năm 1954, tách 3 làng Tích Thiện, Vĩnh Xuân, Trà Côn của tổng Thạnh Trị nhập vào quận Trà Ôn cùng tỉnh.

Ngày 09 tháng 02 năm 1956, quận Cầu Kè thuộc tỉnh Tam Cần.

Ngày 22 tháng 10 năm 1956, quận Cầu Kè thuộc tỉnh Vĩnh Bình, gồm tổng Tuân Giáo với 8 xã, quận lỵ đặt tại xã Hòa Ân.

Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, Cầu Kè là huyện của tỉnh Cửu Long.

Từ năm 1976 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 26 tháng 11 năm 1991, tỉnh Cửu Long tách thành tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh. Huyện Cầu Kè thuộc tỉnh Trà Vinh, gồm 9 xã: An Phú Tân, Châu Điền, Hòa An, Ninh Thới, Phong Phú, Phong Thạnh, Tam, Ngãi, Thạnh Phú, Thông Hòa.

Ngày 07 tháng 10 năm 1995, Thủ tướng Việt Nam ban hành Nghị định số 62-CP, thành lập thị trấn Cầu Kè trên cơ sở tách ra từ xã Hòa Ân.

Ngày 02 tháng 03 năm 1998, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 13/1998/NĐ-CP, về việc thành lập một số xã thuộc các huyện Châu Thành, Trà Cú, Tiểu Cần, Cầu Ngang, Cầu Kè và Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Theo đó, thành lập xã Hòa Tân thuộc huyện Cầu Kè trên cơ sở 1.261,72 ha diện tích tự nhiên và 5.198 nhân khẩu của xã Hòa Ân; 1.657,97 ha diện tích tự nhiên và 4.501 nhân khẩu của xã An Phú Tân.

Từ đó, huyện Cầu Kè có 1 thị trấn và 10 xã như hiện nay.

Kinh tế -xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Do vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên nên huyện Cầu Kè không phát triển nhiều về ngành nuôi trồng thủy sản như một số huyện ở hạ lưu sông Cửu Long. Cầu Kè vẫn là huyện thuần nông nhất của tỉnh, diện tích trồng lúa ước khoảng 30.000 ha, sản xuất ra sản lượng lương thực ước đạt 157.000 tấn lúa/ năm (2006). Tuy nhiên trong những năm gần đây, huyện đang có sự dịch chuyển từ việc trồng lúa sang nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là các xã nằm ven sông Hậu

Văn hóa - Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhà cổ Cầu Kè còn gọi là nhà Huỳnh Kỳ: tọa lạc ở khóm 4, thị trấn Cầu Kè

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệu quả từ phong trào dịch chuyển cơ cấu kinh tế ở Trà Vinh