Danh sách chuyến lưu diễn của Michael Jackson và the Jackson 5

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Michael Jackson biểu diễn trong Bad World Tour, một trong những tour diễn thành công nhất mọi thời đại

Dưới đây là danh sách các chuyến lưu diễn của ca sĩ thu âm người Mỹ, Michael Jackson, vừa dưới danh nghĩa là thành viên của nhóm nhạc gia đình The Jackson 5/The Jacksons,[1] vừa dưới danh nghĩa là ca sĩ solo.

The Jackson 5 (1970 - 1975)[sửa | sửa mã nguồn]

1970–1971 - The Jackson 5 First and Second National Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Tour diễn đầu tiên trong sự nghiệp nhóm The Jackson 5Michael Jackson để quảng bá cho các album: Diana Ross Presents The Jackson 5, ABC và Third Album.

1971–1972 - The Jackson 5 US Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Tour diễn biểu diễn ở Mỹ để quảng bá album Maybe Tomorrow, Goin' Back to Indiana và Got to Be There, album phòng thu đầu tiên của ông dưới danh nghĩa ca sĩ solo.

1972–1973 - The Jackson 5 International Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Tour diễn này để quảng bá cho album Greatest Hits and Ben tại Liverpool, Anh, nơi sản sinh nhóm nhạc The Beatles.

1973 - The Jackson 5 1973 Tours[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng bá album Skywriter và G.I.T.: Get It Together.

1974 - The Jackson 5 1974 Tours[sửa | sửa mã nguồn]

Tour diễn quảng bá album G.I.T.: Get It Together và Dancing Machine.

1975-1976 - The Jackson 5 1975-1976 Tours[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng bá album Moving Violation tại Jamaica, México, Philippines, Vùng caribe.

The Jacksons (1975 - 1984)[sửa | sửa mã nguồn]

1977-1978 - The Jacksons Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng bá album The Jacksons và Goin' Places tại Los Angeles.

1979-1980 - Destiny Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng bá album Destiny tại London.

1981 - Triumph Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng bá cho album Triumph và Off the Wall của Michael.

1984 - Victory Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng bá 2 album: Victory và album Thriller.

Các ca khúc sử dụng trong các tour diễn trên[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát Destiny Triumph Victory Số lượt diễn
ABC 6 8 2
All Night Dancing' 12* 1
Beat It 17 1
Ben 3 4 4 3
Billie Jean 18 1
Blame It On The Boogie 13* 1
Can You Feel It 1 1
Dancing Machine 1 1
Destiny 10* 1
Don't Stop 'Til You Get Enough 11* 14 2
Enjoy Yourself 9 1
Human Nature 5 1
I'll Be There 8 10 13 3
I Want You Back 5 7 11 3
Keep On Dancing 4* 1
Let's Get Serious - Jermaine 8 1
Lovely One 12 15 2
Off the Wall 3* 3 3 3
Rock With You 9* 11 14 3
Shake Your Body (Down to the Ground) 12* 15 19 3
She's Out of My Life 6 7 2
Show You the Way to Go 11* 1
Tell Me I'm Not Dreamin' (Too Good to Be True) - Jermaine/Michael 10 1
The Love You Save 7 9 12 3
Things I Do For You 2 2 2 3
This Place Hotel 5 6 2
Wanna Be Startin' Somethin' 1 1
Workin' Day and Night 13 16 2
You Like Me, Don't You? - Jermaine 9 1
Phim ngắn / Rap (bao gồm: I Want You Back/Never Can Say Goodbye/Got to Be There) 6 1

Tour diễn solo[sửa | sửa mã nguồn]

1987-1989 - Bad World Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Tour diễn vòng quanh thế giới đầu tiên của ông nhằm quảng bá album Bad, thu về cho ông 125 triệu đô la và được chứng nhận là tour diễn có số lượng khán giả lớn nhất trong một buổi tại London.[2][3][4][5]

1992 - 1993 - Dangerous World Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Vì muốn giúp những trẻ em nghèo trong quỹ Heal The World Foundation và cũng để quảng bá album Dangerous nên Michael Jackson đã làm tour diễn này, thu về hàng chục nghìn USD.[2][6][7][8] Năm 1993, ông quyết định kết thúc tour diễn sau khi ông bị ốm và phải nhập viện.

1996 - 1997 - HIStory World Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyến lưu diễn cuối của Michael Jackson để quảng bá album HIStory, thu về 238 triệu USD tại 58 nước và 35 thành phố.[2][9][10]

2009 - 2010 - This Is It[sửa | sửa mã nguồn]

Tour diễn đánh dấu sự trở lại của ông. Tuy nhiên, Michael Jackson qua đời và chuyến lưu diễn bị hoãn lại. Tuy nhiên, những hình ảnh diễn tập của anh cho tour diễn đã được dựng thành phim Michael Jackson's This is It được chiếu tại Mỹ và phát hành DVD vào tháng 10.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ George, p. 29
  2. ^ a ă â Brooks, p. 81
  3. ^ Grant, pp. 104–105
  4. ^ Grant, p. 123
  5. ^ Saulnier, Jason (ngày 23 tháng 7 năm 2008). “Jennifer Batten Interview”. Music Legends. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2013. 
  6. ^ Grant, p. 149
  7. ^ Grant, pp. 168–169
  8. ^ Taraborrelli, p. 504
  9. ^ Grant, p. 188
  10. ^ Grant, p. 202

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]