Di cốt Callao

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Người Callao
Thời điểm hóa thạch: Bản mẫu:Rango fósil
Callao Cave.jpg
Hang động Callao ở Philipin nơi phát hiện ra di chỉ người Callao.
Tình trạng bảo tồn
Tiền sử
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Phân ngành (subphylum)Vertebrata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Primates
Phân bộ (subordo)Haplorrhini
Phân thứ bộ (infraordo)Simiiformes
Liên họ (superfamilia)Hominoidea
Họ (familia)Hominidae
Chi (genus)Homo
Loài (species)Homo luzonensis[1]
Détroit et al., 2019

Homo luzonensis hay Callao Man là di cốt được Armand Mijares Salvador phát hiện ở hang Callao, Peñablanca, Cagayan, Philippines vào năm 2007. Cụ thể, các di cốt tìm thấy bao gồm một bàn chân 61 mm. Năm 2010 mẫu vật đã được định tuổi bằng dãy urani cho ra vào khoảng 67.000 năm tuổi.[2][3][4][5]

Tính đến tháng 7 năm 2010, việc phân loại sinh học cho Callao Man không được chắc chắn. Các xương bàn chân phát hiện được (MT3 - xương nhỏ từ cuối ngón giữa của bàn chân phải) đã được xác định là của một loài thuộc chi Homo, nhưng việc phân loại loài chính xác là khó khăn. Nó đã được suy đoán rằng Callao Man có thể là Homo sapiens hoặc Homo floresiensis, mặc dù loài sau đôi khi được coi là một mẫu bệnh lý của H. sapiens. Phân biệt giữa hai loài đòi hỏi mẫu vật từ hộp sọ hoặc hàm dưới.

Năm 2012, nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra xương đã xin phép để tìm kiếm thêm mẫu vật trong khu vực.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Sundaland, Đường Wallace và Thềm Sahul

Các lý thuyết ban đầu về việc con người di cư tới Philippines được đề xuất là việc sử dụng cầu đất liền trong thời kỳ băng hà cuối cùng, nối liền vòng cung đảo Đông Nam Á với đất liền. Tuy nhiên độ sâu hiện đại ở Eo biển MindoroĐường hẻm Sibutu cho thấy rằng biển ở đây không thể đã được đóng hoàn toàn vào thời kỳ đó. Vì vậy, các lý thuyết hiện nay cho là Callao Man và người cùng thời ở Luzon đến từ Sundaland bằng bè. Thời gian sống của Callao Man là khoảng cùng thời với gian mà cư dân Sundaland khác được biết là đã đi qua Đường Wallace rộng hơn để bắt đầu chiếm lĩnh New GuineaAustralia.[6] Điều này phản bác Thuyết nguồn gốc Đài Loan (1997), cho rằng người tiền sử đã di cư từ Đài Loan đến vòng cung đảo Đông Nam Á dựa trên phân bố ngôn ngữ trong ngữ hệ Nam Đảo[7].

Di cốt động vật làm thịt cũng đã được tìm thấy trong cùng lớp trầm tích, đã chỉ ra rằng Callao Man đã có một mức độ kiến thức trong việc sử dụng các công cụ, mặc dù không có công cụ bằng đá đã được tìm thấy. Các xương là của các con vật như hươu (Cervus mariannus), lợn, và một loại gia súc dạng bò đã tuyệt chủng. Việc thiếu các công cụ bằng đá có thể được giải thích bằng việc họ đã sử dụng các công cụ hữu cơ như tre.[a]

Chỉ dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Các nhà nghiên cứu ở phương đông cho rằng có sự khác nhau giữa thời tiền sử ở châu Âu và vùng ĐNÁ. Tại châu Âu khí hậu lạnh và người tiền sử sống trong hang, săn bắt thú lớn sống theo đàn như tuần lộc, nên dùng đồ đá và để lại di tích nhiều hơn. Tại vùng ĐNÁ nóng ẩm, người tiền sử có thể sống trong lều lá, dùng công cụ tre gỗ, hái lượm thực vật và săn bắt thú nhỏ, nên các di tích bị gió mưa phá hủy. Lối sống này vẫn đang hiện diện ở các bản/buôn tại vùng rừng núi nam Lào, vòng cung đảo ĐNÁ,... cũng như ở trung phần Việt Nam trước đây. Mặt khác nhiều vùng cư trú ở Đông Nam Á trước đây nay đã chìm dưới biển.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bản mẫu:Cita web
  2. ^ Archaeologists unearth 67,000-year-old human bone in Philippines. The Daily Telegraph, 03 Aug 2010. Truy cập 04/11/2015.
  3. ^ Callao Man in Callao Cave - Penablanca - Cagayan greedypeg.org. Truy cập 04/11/2015.
  4. ^ Severino, Howie G. (ngày 1 tháng 8 năm 2010). Researchers discover fossil of human older than Tabon Man. GMA News.
  5. ^ Morella, Cecil. (2010). 'Callao Man' Could Redraw Filipino History. Agence France-Presse. Discovery News.
  6. ^ Anna Valmero (ngày 5 tháng 8 năm 2010). "Callao man could be ‘oldest’ human in Asia Pacific, says Filipino archaeologist". loqal Science & Education.
  7. ^ Li, Paul Jen-kuei. 2008. Time perspective of Formosan Aborigines. In Sanchez-Mazas, Alicia ed. Past human migrations in East Asia: matching archaeology, linguistics and genetics. Taylor & Francis US.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]