Hàm số bậc hai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hàm số bậc hai là hàm số có dạng với a,b,c là các hệ số và chúng không đồng thời bằng 0. Và hệ số hoàn toàn có thể ở y. x,y lần lượt là các biến và hàm số này thể hiện sự phụ thuộc sâu sắc giữa x,y mà hàm số bậc nhất không làm được.

Công thức kể trên chỉ là công thức chuẩn mẫu, ta có thể có công thức sau:

tức là hàm số bậc hai chỉ cần đạt 2 điều kiện là có bậc cao nhất của biến là 2 và có ít nhất 1 hệ số khác 0.

Trường hợp bivariate về biến x và y có dạng

khi đó nó cùng với hàm chuẩn mẫu tạo trên hệ trục tọa độ những hình cônic (parabol, elip, tròn hoặc parabol)[1]

Nguồn gốc tên[sửa | sửa mã nguồn]

Các tính từ bậc hai xuất phát từ tiếng Latin từ ' (" vuông ") function (hàm số). Một thuật ngữ như 2 được gọi là một hình vuông trong đại số bởi vì nó là diện tích của một hình vuông với cạnh x .

Nói chung, một tiền tố quadr (i) - chỉ ra số 4. Ví dụ là tứ giác và góc tọa độ. Quadratum là chữ Latinh cho vuông. nó cùng họ với từ quadrilateral tức là tứ giác. [2]

Thuật ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ số[sửa | sửa mã nguồn]

Các hệ số của một đa thức thường được coi là số thực hoặc số phức. Riêng số phức có thể đề cập trong Giải tích phức và chúng luôn biểu diễn được trên hệ trục tọa độ.

Bậc của hàm[sửa | sửa mã nguồn]

Khi sử dụng thuật ngữ "đa thức bậc hai", các tác giả đôi khi có nghĩa là "có độ chính xác 2", và đôi khi "có mức độ nhiều nhất là 2". Nếu mức độ ít hơn 2, điều này có thể được gọi là " trường hợp thoái hoá ". Thông thường bối cảnh sẽ xác định được cái nào trong số hai.

Trong tiếng Anh đôi khi từ "order" được sử dụng với nghĩa của "degree", ví dụ như trong tiếng Anh "phương trình bậc hai" cũng gọi là "the second order equation"

Các biến[sửa | sửa mã nguồn]

Một đa thức bậc hai có thể liên quan đến một biến duy nhất x (trường hợp đơn biến), hoặc nhiều biến như x , y , và z (trường hợp đa biến). Trên thực tế để giảm độ phức tạp, người ta thường quy một hàm nhiều biến về các hàm 2 biến để dễ xét.

Trường hợp một biến[sửa | sửa mã nguồn]

Bất kỳ một đa thức bậc hai biến bậc đơn nào có thể được viết như

nơi x là biến, và một , b , và c đại diện cho hệ số. Trong đại số cơ bản, đa thức như vậy thường phát sinh dưới dạng phương trình bậc hai. Các nghiệm cho phương trình này được gọi là gốc của đa thức bậc hai, và có thể được tìm thấy thông qua phân tích nhân tạohoàn thiện hình vuôngđồ thịphương pháp Newton, hoặc thông qua việc sử dụng công thức bậc hai. Mỗi đa thức bậc hai có một hàm bậc hai liên quan, có đồ thị là một hình parabol.

Trường hợp hai chiều[sửa | sửa mã nguồn]

Bất kỳ đa thức bậc hai với hai biến có thể được viết như

Trong đó x và y là các biến và a , b , c , d , e , và f là các hệ số. Các đa thức như vậy là cơ bản để nghiên cứu các phần hình nón, được biểu diễn bằng cách biểu diễn biểu thức cho f ( x , y ) với không. Tương tự như vậy, đa thức bậc hai với ba hoặc nhiều hơn các biến tương ứng với bậc hai bề mặt và hypersurfaces. Trong đại số tuyến tính, đa thức bậc hai có thể được khái quát thành khái niệm dạng bậc hai trên không gian véc tơ.[3]

Các dạng của một hàm bậc hai đơn nguyên (univariate)[sửa | sửa mã nguồn]

Một hàm bậc hai không đơn giản có thể được biểu diễn dưới 3 dạng: 

  • Được gọi là mẫu chuẩn ,
  • Được gọi là dạng thừa số , trong đó 1 và 2 là gốc của hàm bậc hai và các giải pháp của phương trình bậc hai tương ứng.
  • Được gọi là dạng đỉnh , trong đó h và k là tọa độ x và y của đỉnh, tương ứng.

Hệ số a có cùng giá trị trong cả ba dạng. Để chuyển đổi các hình thức mẫu chuẩn để hình thức yếu tố , người ta cần chỉ là công thức bậc hai để xác định hai nghiệm 1 và 2 . Để chuyển đổi các hình thức tiêu chuẩn để hình thức đỉnh , người ta cần một quá trình gọi là hoàn thành hình vuông. Để chuyển đổi hình thức phân số (hoặc dạng đỉnh) sang dạng chuẩn, cần nhân rộng, mở rộng và / hoặc phân phối các yếu tố. [4]

Các nghiệm hàm đơn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Độ chính xác của các nghiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Tương tự phương trình bậc hai, hàm số bậc hai mẫu chuẩn: có 2 nghiệm (nghiệm thực) hoặc

(nghiệm phức)

Độ lớn của các nghiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Người ta cũng chứng minh được rằng môđun của nghiệm bậc 2 không lớn hơn với tức là tỉ lệ vàng.

Đồ thị hàm số đơn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Giờ ta chỉ xét hàm số bậc hai mẫu chuẩn:

Đồ thị của hàm số bậc 2 mẫu chuẩn luôn là một đường parabol trên hệ trục tọa độ.

Giới thiệu về đỉnh của hàm số bậc hai[sửa | sửa mã nguồn]

Điểm đỉnh của một parabol là nơi mà nó quay; Do đó, nó còn được gọi là bước ngoặt . Nếu hàm bậc hai ở dạng đỉnh, đỉnh là ( h , k ) . Sử dụng phương pháp hoàn thiện hình vuông, người ta có thể biến dạng chuẩn

dạng đỉnh

ta có

vậy h là trục đối xứng của parabol

nếu ở  dạng thừa số

ta lấy trung bình của 2 nghiệm tức là

do đó đỉnh khi đó là

định sẽ tối đa nếu a<0 và tối thiểu nếu a>0

Đồ thị của hàm số bậc 2 rút gọn[sửa | sửa mã nguồn]

Hình dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Một dạng cơ bản của hàm số này được học trong chương trình SGK Toán lớp 9 có dạng rút gọn:

Tập xác định: R

Đồ thị của hàm số này luôn đi qua gốc tọa độ và có

Đỉnh:

Trục đối xứng: Oy

nếu a>0 thì đồ thị nằm ở trên trục hoành, O là điểm thấp nhất của đồ thị. Ta có thể chứng minh được điều này: vì a>0 và nên y luôn không âm, hay parabol luôn nằm trên trục hoành.

nếu a<0 thì đồ thị nằm ở dưới trục hoành, O là điểm cao nhất của đồ thị. Lý luận như trên, ta có thể chứng minh được điều này.

Cách vẽ[sửa | sửa mã nguồn]

Dựa trên một hàm số bất kì, ta có thể vẽ bằng các cách sau:

Cách 1: Giả sử ta có hàm , ta vẽ ít nhất 3 điểm x lấy giá trị dương để có một parabol có độ chính xác cao. Sau đó qua trục tung để vẽ 3 điểm nhận giá trị x âm tương ứng.

Cách 2: Trong mặt phẳng tọa độ Oxy, giả sử đã biết điểm khác gốc tọa độ thuộc parabol. Gọi P là hình chiếu M lên Ox, lần lượt chia đoạn OP, PM thành n phần bằng nhau và qua các điểm này kẻ những đường thẳng song song với Oy, nối chúng với O và đánh số thứ tự các đường thẳng và đoạn thẳng. Lấy giao điểm của các cặp đoạn thẳng có cùng đường thẳng và đoạn thẳng có cùng thứ tự. Nối chúng, ta thu được nửa parabol của hàm đã cho. Cuối cùng vẽ đối xứng nửa parabol này qua trục Oy.

Cách 3:Cách này chỉ dùng cho hàm

Trên vở có kẻ dòng như vở học sinh, ta lấy khoảng cách giữa mỗi dòng là 1 đơn vị độ dài và vẽ các đường tròn đồng tâm, rồi kẻ các đường thẳng song song cắt các đường tròn đó và đánh dấu các giao điểm thực tế có một tập hợp các giao điểm khác giao điểm giữa đường tròn và các đường thẳng, tập hợp các điểm đó chính là trục tung Oy. Đánh dấu xong ta xóa các đường tròn, các đường thẳng và các số đánh dấu đi. Nối chúng, ta được một Parabol.

Đồ thị của hàm số bậc 2 mẫu chuẩn[sửa | sửa mã nguồn]

Giới thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Dạng mẫu chuẩn được dạy đầy đủ trong Đại số 10

Dạng:

Tập xác định: R, ()

Ta thực hiện các phép biến đổi tương đương:

, tất nhiên

khi đó nếu coi thì ta có

Do đó ta có thể quy về hàm số bậc hai rút gọn.

Do đó thuộc đồ thị của hàm số và như vậy, tương đương hàm số bậc 2 rút gọn ta có:

Nếu do đó là điểm thấp nhất của đồ thị.

Nếu do đó là điểm cao nhất của đồ thị.

Như vậy điểm đóng vai trò như điểm trong parabol của đồ thị hàm

Đồ thị[sửa | sửa mã nguồn]

Đồ thị của hàm mẫu chuẩn chỉ là kết quả của các phép biến hình hình học đồ thị của hàm số bậc hai thu gọn.

Đỉnh:

Trục đối xứng:

Trục này quay bề lõm lên trên nếu a>0, xuống dưới nếu a<0.

Chứng minh: Ta chứng minh đồ thị hàm số này suy ra từ đồ thị hàm số rút gọn qua 3 bước:

Bước 1: Chứng minh đồ thị của hàm

Xét 2 hàm số

Tại cùng một điểm ta có

Do đó nếu điểm thuộc đồ thị của hàm thì điểm sẽ thuộc đồ thị của hàm .

Bây giờ nếu ta dịch chuyển một điểm M song song trục tung một đoạn đơn vị (lên trên nếu , xuống dưới nếu ) thì ta được điểm N.

Vậy ta có điều phải chứng minh.

Bước 2: Đồ thị của hàm số

Xét 2 hàm

với X tùy ý ta có

Tức là giá trị của hàm f(X) tại X bằng giá trị của hàm g(X) tại . Vậy với điểm thuộc đồ thị của hàm số thì điểm thuộc đồ thị của hàm số .

Vậy nếu tịnh tiến M song song với trục hoành đơn vị về bên trái nếu và về bên phải nếu thì được điểm N.

Do đó ta có điều phải chứng minh.

Bước 3:Đồ thị của hàm số

ta có biến đổi như phần Giới thiệu:

áp dụng các kết quả từ Bước 1,2 với ta thấy đồ thị là sự di chuyển sang trái hoặc phải tịnh tiến song song với trục hoành một khoảng và lên trên hoặc xuống dưới tịnh tiến song song với trục tung một khoảng .

Vậy ta có điều phải chứng minh.

Cách vẽ[sửa | sửa mã nguồn]

Bước 1:Xác định tọa độ đỉnh

Bước 2: Vẽ trục đối xứng

Bước 3: Xác định tọa độ các giao điểm của parabol với trục tung và trục hoành nếu có, sau đó xác định một số điểm thuộc đồ thị

Bước 4: Vẽ parabol và chú ý dấu của hệ số a để biết parabol quay hướng nào.

Chiều biến thiên[sửa | sửa mã nguồn]

Ta có bảng sau:

a>0

hoặc nghịch biến trên và đồng biến trên .

a<0

hoặc nghịch biến trên và đồng biến trên .

Tất cả các kiến thức về cách vẽ, bảng biến thiên, đồ thị và cấu trúc cũng như ứng dụng của hàm số bậc hai mẫu chuẩn và thu gọn đều có trong SGK Toán 9 tập 2 và SGK Đại số 10.

Biến thể của hàm bậc hai (hai biến)[sửa | sửa mã nguồn]

Ở trên ta gặp dạng mẫu chuẩn, nếu với 2 biến x,y ta có:

Với A,B,C,D,E cố định và F biến thiên. Tại thay đổi mô tả được tại đó giao điểm của mặt phẳng với một mặt phẳng z=0 khác. Nó có thể coi như một giao điểm khi cắt một mặt nón bằng một thiết diện.

Cực đại và cực tiểu của hàm[sửa | sửa mã nguồn]

nếu thì hàm không có giá trị cực đại hay cực tiểu mà như là một hình parabol hyperbolic

nếu thì hàm có cực đại tại A<0 và cực tiểu tại A>0. và khi đó xảy ra tại (

nếu . Hàm cũng không có cực đại hay cực tiểu và nó giống một xilanh parabol.

nếu . Hàm cực đại và cực tiểu trên một đường có cực tiểu tại A>0 và cực đại tại A<0.

Ứng Dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Dấu của tam thức bậc hai[sửa | sửa mã nguồn]

Tam thức bậc 2 với x là biểu thức có dạng trong đó a,b,c là các hệ số và .

Như vậy hàm bậc hai tương đương với tm thức bậc hai và ta có

thì f(x) luôn cùng dấu với a, với mọi x R.

thì f(x) luôn cùng dấu với a, trừ

thì f(x) cùng dấu với a khi hoặc

trái dấu với a khi

với là 2 nghiệm của f(x)

Các bài toán có nội dung quy về phương trình bậc hai[sửa | sửa mã nguồn]

Một số công thức sau đây thể hiện sự phụ thuộc giữa 2 đại lượng mà có sự tham gia của phương trình bậc hai, chủ yếu là các công thức Vật lý:

Cơ học[sửa | sửa mã nguồn]

Công thức tính quãng đường đi được của chuyển động thẳng biến đổi đều:

Phương trình chuyển động thẳng biến đổi đều:

công thức liên hệ giữa gia tốc, vận tốc, quãng đường đi được của chuyển động thẳng biến đổi đều:

quãng đường đi được của vật rơi tự do-Chuyển động thành phần theo trục Oy của vật rơi tự do trong hệ trục tọa độ: (khi chỉ ở trên Trái Đất)

Gia tốc hướng tâm:

Lực hướng tâm:

Tầm ném xa:

Định luật vạn vật hấp dẫn:

Động năng của vật:

Thế năng đàn hồi:

Trong đó là vận tốc tại thời điểm , à các tọa độ của vật, là hằng số hấp dẫn, là gia tốc trọng trường, là vận tốc, là thời gian, là độ biến dạng của lò xo, là gia tốc, là tầm ném xa, là động năng, là lực, là bán kính của các thiên thể/vật mà ở đây thường là các hành tinh. là tốc độ góc của chuyển động tròn đều.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]