Hồ Ngọc Cẩn (đại tá)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
HỒ NGỌC CẨN
Ho ngoc can.jpg
Đại tá Hồ Ngọc Cẩn
Tiểu sử
Sinh24 tháng 3 năm 1938
Rạch Giá, Việt Nam
Mất(1975-08-14)14 tháng 8, 1975 (37 tuổi)
Cần Thơ, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ1955-1975
Cấp bậcDaiTaQLVNCHlucquan.gif Đại tá Lục quân
Đơn vịVietnamese Rangers SSI.svg Biệt Động quân
[[ ]] Sư đoàn 21 Bộ binh
SuDoan9.jpg Sư đoàn 9 Bộ binh
QD IV VNCH.jpg Quân đoàn IV và QK 4
Chỉ huyFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam
Khen thưởngVPD National Order of Vietnam - Officer BAR.png B.quốc H.chương IV[1]
Công việc khácTỉnh trưởng

Hồ Ngọc Cẩn (1938 - 1975), nguyên là một sĩ quan Bộ binh cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Đại tá. Ông xuất thân từ trường Thiếu sinh quân và tốt nghiệp khóa Sĩ quan Hiện dịch Đặc biệt tại Trường Hạ sĩ quan Đồng Đế, Nha Trang vào đầu thập niên 60, và là Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng một tỉnh thuộc Quân khu 4 vào giai đoạn cuối Chiến tranh Việt Nam.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, mặc dù có lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh từ Sài Gòn kêu gọi buông súng, ông vẫn tiếp tục chiến đấu chống lại lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vào tiếp quản. Hết đạn, ông bị bắt giam. Ngày 14 tháng 8 năm 1975, ông bị Chính quyền Cách mạng tử hình bằng cách xử bắn tại Sân vận động Cần Thơ.

Tiếu sử và Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938 tại xã Vĩnh Thanh Vân, Rạch giá, Kiên Giang, miền tây Nam phần Việt Nam. Thân phụ ông là một hạ sĩ quan trong Quân đội Quốc gia Việt Nam.

Năm 1945, khi Hồ Ngọc Cẩn bắt đầu đi học Tiểu học thì Chiến tranh Pháp-Việt Minh bùng nổ, nên sự học bị gián đoạn một thời gian ngắn. Đến năm 1947 ông mới tiếp tục đi học trở lại. Ông học chỉ đứng trung bình trong lớp.

Năm 1951, thân phụ nộp đơn xin cho ông nhập học trường Thiếu sinh quân Đệ nhất quân khu[2]Gia Định. Ông được thu nhận vào lớp nhất (lớp 5 hiện nay) niên khóa 1951-1952 và thi đậu Tiểu học vào cuối niên học. Ông tiếp tục học lên hệ Trung học theo giáo trình Pháp, song song với chương trình Phổ thông ông cũng được đào tào căn bản về lĩnh vực quân sự. Cuối năm 1952, trường sở chuyển từ Gia Định về Mỹ Tho. Ông tiếp tục theo học ở đây cho đến hết niên học đệ tứ (lớp 8 hiện nay).

Tháng 8 năm 1955, ông tốt nghiệp Trung học đệ nhất cấp và được cấp "chứng chỉ tốt nghiệp" tương đương với văn bằng Thành chung. Ngay sau đó ông được gửi lên học tại Liên trường Võ khoa Thủ Đức, chuyên ngành "vũ khí" (niên khóa 1955-1956). Sau 3 tháng, ông đậu chứng chỉ chuyên môn về vũ khí bậc nhất với hạng ưu. Sáu tháng sau đó, ông lại đậu chứng chỉ bậc nhì.

Quân lực Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa năm 1956, ông chính thức gia nhập Quân đội Việt Nam Cộng hòa với cấp bậc Binh nhì, mang số quân: 58/106.282 Sau 9 tháng, ông được thăng từ cấp bậc Hạ sĩ, Hạ sĩ I rồi Trung sĩ làm huấn luyện viên thuộc khoa vũ khí tại Liên trường Võ khoa Thủ Đức. Năm 1960, ông được thăng cấp Trung sĩ I.

Đầu thập niên 60, chiến tranh tại miền Nam tái phát và leo thang ở một vài vùng. Đến năm 1961 thì lan rộng, nhất là tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long thuộc Vùng 4 chiến thuật. Đối phương đã chuyến từ chiến thuật du kích sang công kích bằng những đơn vị từ cấp Trung đội trở lên của chủ lực miền. Để đáp ứng và giải quyết nhu cầu thiếu sĩ quan trong quân đội, Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa cho mở các khóa sĩ quan đặc biệt hiện dịch. Ông được nhập học khóa 2 Nhân Vị ở trường Hạ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại Đồng Đế, Nha Trang, khai giảng ngày 27 tháng 2 năm 1961. Ngày 31 tháng 1 năm 1962 mãn khóa tốt nghiệp với Cấp bậc Chuẩn úy hiện dịch. Ra trường, ông được chọn về Binh chủng Biệt động quân, tiếp tục được cử theo học một khóa huấn luyện đặc biệt đào tạo cán bộ Biệt động quân và khóa "Rừng núi Sình lầy" tại Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ (Ninh Hòa) trong thời gian 4 tháng rưỡi.

Giữa năm 1962 mãn khóa học ở Dục Mỹ, ông được chuyển về Tiểu đoàn 42 Biệt động quân,[3] đồn trú và hoạt động tại khu vực Đồng bằng sông Hậu Giang thuộc Khu 42 chiến thuật[4] với chức vụ Trung đội trưởng.

Ngày Quốc khánh của Chính thể Đệ nhất Cộng hòa 26 tháng 10 năm 1962, ông được đặc cách tại mặt trận thăng cấp Thiếu úy và được cử giữ chức vụ Đại đội trưởng. Do lập được nhiều công lao nên chỉ một thời gian ngắn, sau cuộc Chỉnh lý nội bộ ngày 30 tháng 1 năm 1964 của tướng Nguyễn Khánh, ông được đặc cách thăng cấp Trung úy và lên giữ chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 42 BĐQ. Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1965,[5] lần thứ ba ông được đặc cách tại mặt trận thăng cấp Đại úy tại nhiệm.

Đầu năm 1966, ông rời khỏi đơn vị Biệt động quân, nhận sự vụ lệnh chuyển sang Sư đoàn Bộ binh ông được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Tiểu đoàn 1, thuộc Trung đoàn 33 của Sư đoàn 21 Bộ binh.
-Vào thời điểm (1962-1966), tại chiến trường khu vực miền Tây Nam phần có 5 vị Tiểu đoàn trưởng can đảm, lập nhiều chiến công hiển hách. Khi chạm địch, họ điều quân chiếm mục tiêu nhanh chóng. Khi dừng quân, họ hòa mình vui sống với chiến sĩ và đồng bào. Do đó, quân dân miền Tây đã vinh danh họ với 4 chữ "Ngũ Hổ Miền Tây". Sự kiện này không những đã lan truyền trên khắp cả Vùng 4 chiến thuật mà quân dân toàn miền Nam đều nghe và biết đến họ:
-Năm vị Tiểu đoàn trưởng có tên như sau:
1 -Hồ Ngọc Cẩn (Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 42 Biệt động quân. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 33, Sư đoàn 21 Bộ binh).
2 -Lê Văn Hưng (Đại úy Tiểu đoàn phó (1964), rồi Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng (1965) Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 31, Sư đoàn 21 Bộ binh.
3 -Lưu Trong Kiệt[6] (Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 42 Biệt động quân).
4 -Nguyễn Văn Huy[7] (Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 44 Biệt động quân).
5 -Vương Văn Trổ[8] (Đại úy Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 33, Sư đoàn 21 Bộ binh).

Giữa năm 1968, nhờ có nhiều công lao trong Mặt trận tết Mậu Thân tại khu vực đơn vị trấn đóng, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm.

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1970, ông được thăng cấp Trung tá, chuyển sang Sư đoàn 9 Bộ binh, ông được chỉ định làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 15, đơn vị cơ hữu của Sư đoàn. Năm 1972, ông cùng Trung đoàn 15 được lệnh tham gia giải vây mặt trận An Lộc, Bình Long. Sau thành tích này, ông được thăng cấp Đại tá và được tặng thưởng một số huy chương. Cuối năm 1973, ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng, kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Chương Thiện.

Trận chiến cuối cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 5 năm 1975, không tuân lệnh của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh ra lệnh từ Sài Gòn kêu gọi buông súng đầu hàng, ông vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị trực thuộc chiến đấu đến cùng chống lại lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vào tiếp quản Tiểu khu. Hết đạn, ông bị quân Giải phóng bắt tại mặt trận. Sau đó, ông bị Chính quyền biệt giam tại nhà tù Cần thơ 3 tháng rưỡi.

Ngày 14 tháng 8 năm 1975, Chính quyền Cách mạng tuyên án tử hình ông và đưa ông ra xử bắn tại sân vận động Cần Thơ.[9]. Ông mất khi mới 37 tuổi.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

-Bảo quốc Huân chương đệ tứ đẳng[10]
-Hai mươi lăm Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu
-Ba Chiến thương Bội tinh
-Hai Huy chương Hoa Kỳ.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phu nhân: Bà Nguyễn Thị Cảnh, sinh năm 1941 tại Thủ Đức, Gia Định. Kết hôn với Đại tá Cẩn khi ông còn là một viên Hạ sĩ quan vào năm 1959. Bà mới chỉ có một người con trai duy nhất với ông. Sau khi ông mất, bà đã ở vậy nuôi con thờ chồng. Hiện nay đang cùng con cháu định cư ở Hoa Kỳ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ tứ đẳng (ân thưởng)
  2. ^ Đệ nhất Quân khu được Quốc gia Việt Nam do cựu Hoàng đế Bảo Đại làm Quốc trưởng, thành lập ngày 1 tháng 7 năm 1952 tại Sài Gòn. Ngày 1 tháng 3 năm 1959 cải danh thành Quân đoàn III và Vùng 3 chiến thuật, đặt Bộ Tư lệnh tại Biên Hòa.
  3. ^ Tiểu đoàn 42 Biệt động quân có biệt danh là Tiểu đoàn "Cọp ba đầu rằn".
  4. ^ Khu 42 chiến thuật là một lãnh thổ bao gồm các tỉnh: Phong Dinh (Cần Thơ), Chương Thiện (Vị Thanh), Ba Xuyên (Sóc Trăng), Bạc Liêu và An Xuyên (Cà Mau).
  5. ^ Ngày 19 tháng 6 năm 1965 là ngày Quân lực đầu tiên và cũng là ngày Quân đội Việt Nam Cộng hòa mang danh xưng mới "Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
  6. ^ Thiếu tá Lưu Trọng Kiệt sinh năm 1939 tại Vĩnh Long, tốt nghiệp khóa 7 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Năm 1968, tử trận tại chiến trường miền Tây, được truy thăng Trung tá và truy tặng Đệ tứ đẳng Bảo quốc Huân chương kèm Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu. Hưởng dương 29 tuổi.
  7. ^ Thiếu tá Nguyễn Văn Huy sinh năm 1938 tại Sài Gòn, tốt nghiệp khóa 16 Võ bị Đà Lạt. Sau cùng là Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Kiến Tường (1973-1975).
  8. ^ Đại uý Vương Văn Trổ sinh năm 1939 tại Long Xuyên, tốt nghiệp khóa 10 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Sau cùng là Trung tá Tỉnh trưởng, Tiểu khu trưởng tỉnh Kiên Giang kiêm Thị trưởng Thị xã Rạch Giá (1974-1975). Hạ tuần tháng 4 năm 1975 đã có quyết định thăng cấp Đại tá, nhưng chưa nhận được quyết định thì xảy ra biến cố 30/4/1975.
  9. ^ Trước khi bị xử bắn, Đại tá Hồ Ngọc Cẩn khẳng khái nói to:
    -"Tôi nhận chết, nhưng có lời yêu cầu cuối cùng. Khi tôi chết cho tôi nhận lá Quốc kỳ Quốc gia của tôi, xin được phủ lên nắp quan tài khi tôi nằm xuống".
    Rồi ông hô to:
    -"Việt Nam Cộng hòa muôn năm".
    - "Đả đảo Cộng sản"
    .
  10. ^ Đại tá Hồ Ngọc Cẩn được tặng thưởng Huân chương Bảo quốc đệ tứ đẳng khi còn mang cấp Thiếu tá.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Trang 387