Hiến chương Liên Hiệp Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hiến chương Liên Hiệp Quốc
{{{image_alt}}}
Trang đầu của hiến chương Liên hiệp quốc
Ngày thảo14/8/1941
Ngày kí26/6/1945
Nơi kíSan Francisco, California, Hoa Kỳ
Ngày đưa vào hiệu lực24/10/1945
Điều kiệnPhê chuẩn của Trung Quốc, Pháp, Liên bang Xô viết, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và phần lớn các quốc gia ký kết khác.
Bên tham gia193
Người gửi lưu giữHoa Kỳ
Ngôn ngữTiếng Ả Rập, tiếng Trung, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Ngatiếng Tây Ban Nha
Hiến chương Liên Hiệp Quốc tại Wikisource

Hiến chương Liên Hợp Quốc được ký bởi 1 phái đoàn trong 1 buổi lễ được tổ chức tại toà nhà tưởng niệm cựu chiến binh chiến tranh vào ngày 26/6/1945.[1]

Hiến chương Liên Hiệp Quốchiến pháp của Liên Hiệp Quốc, được ký kết trong Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Tổ chức Quốc tế (United Nations Conference on International Organization) tại San Francisco, California ngày 26/6/1945 bởi 50 nước thành viên đầu tiên, có hiệu lực từ ngày 24/10/1945 sau khi được phê chuẩn bởi 5 nước thành viên sáng lập – Trung Hoa Dân Quốc, Liên Xô, Pháp, Anh, Hoa Kỳ – và phần đông các nước khác.[2]

Bản Hiến chương được thảo luận bởi hội đồng lập pháp và các nước đã ký đều tuân theo các điều khoản của nó. Hiện nay, phần lớn các quốc gia trên thế giới đã thông qua Hiến chương. Thành Vaticanquan sát viên lâu dài nên không ký kết toàn bộ.

Tóm tắt Hiến chương[sửa | sửa mã nguồn]

Bản Hiến chương gồm 1 phần mở đầu, mô hình khái quát như phần giới thiệu về Hiến pháp Hoa Kỳ, và một loạt các điều khoản phân chia vào trong các chương.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Phần mở đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Lời mở đầu của hiến chương như sau:[3]

HIẾN CHƯƠNG LIÊN HỢP QUỐC

Ký ngày 26/6/1945 tại San Francisco

Có hiệu lực ngày 24/10/1945

 

ĐIỀU LỆ CỦA HỢP ĐỒNG THỐNG NHẤT

San Francisco, 26 tháng 5 năm 1945

Có hiệu lực: 24 tháng 10 năm 1945


Chúng tôi, nhân dân các quốc gia liên hiệp quyết tâm:

Phòng ngừa cho những thế hệ tương lai khỏi thảm họa chiến tranh đã hai lần trong đời chúng ta gây cho nhân loại đau thương không kể xiết;

Tuyên bố một lần nữa sự tin tưởng vào những quyền cơ bản, nhân phẩm và giá trị của con người, ở quyền bình đẳng giữa namnữ, ở quyền bình đẳng giữa các quốc gia lớn và nhỏ;

Tạo mọi điều kiện cần thiết để giữ gìn công lýtôn trọng những nghĩa vụ do những điều ước và các nguồn khác do luật quốc tế đặt ra;

Khuyến khích sự tiến bộ xã hội và nâng cao điều kiện sống trong một nền tự do rộng rãi hơn;

Và để đạt được những mục đích đó,

Bày tỏ lòng mong muốn cùng chung sống hoà bình trên tinh thần láng giềng thân thiện, cùng chung nhau góp sức để duy trì hoà bìnhan ninh quốc tế.

Thừa nhận những nguyên tắc và xác định những phương pháp bảo đảm không dùng vũ lực, trừ trường hợp vì lợi ích chung.

Sử dụng cơ chế quốc tế để thúc đẩy sự tiến bộ kinh tếxã hội của tất cả các dân tộc;

Đã quyết định tập trung mọi nỗ lực của chúng tôi để đạt được những mục đích đó.

Vì vậy, các chính phủ chúng tôi thông qua các đại diện có đủ thẩm quyền hợp lệ, họp tại thành phố San Francisco, đã thoả thuận thông qua Hiến chương này và lập ra một Tổ chức quốc tế lấy tên là Liên hiệp quốc.

Mặc dù Lời mở đầu là một phần không tách rời của Hiến chương nhưng nó không đưa ra bất kỳ quyền hoặc nghĩa vụ nào của các quốc gia thành viên; mục đích của nó là để phục vụ như một hướng dẫn thông dịch cho các điều khoản của Hiến chương thông qua việc nêu bật một số động cơ cốt lõi của người sáng lập tổ chức.[4]

Chương I: Mục đích và nguyên tắc[sửa | sửa mã nguồn]

Điều 1:[sửa | sửa mã nguồn]

Mục đích của Liên hiệp quốc là:[3]

1. Duy trì hoà bìnhan ninh quốc tế, và để đạt được mục đích đó, thi hành những biện pháp tập thể có hiệu quả để phòng ngừa và loại trừ các mối đe dọa hoà bình, cấm mọi hành vi xâm lượcphá hoại hoà bình khác; điều chỉnh hoặc giải quyết các vụ tranh chấp hoặc những tình thế có tính chất quốc tế có thể đưa đến sự phá hoại hoà bình, bằng phương pháp hoà bình theo đúng nguyên tắc của công lýpháp luật quốc tế;

2. Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc và áp dụng những biện pháp phù hợp khác để củng cố hoà bình thế giới;

3. Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hoánhân đạo và khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo;

4. Trở thành trung tâm phối hợp mọi hành động của các dân tộc, nhằm đạt được những mục đích chung nói trên.

Điều 2:[sửa | sửa mã nguồn]

Để đạt được những mục đích nêu ở Điều 1, Liên Hiệp Quốc và các thành viên Liên Hiệp Quốc hành động phù hợp với những nguyên tắc sau đây:[3]

1. Liên Hiệp Quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia thành viên.

2. Tất cả các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc đều phải làm tròn những nghĩa vụ mà họ phải đảm nhận theo Hiến chương này để được đảm bảo hưởng toàn bộ các quyền và ưu đãi do tư cách thành viên mà có;

3. Tất cả các thành viên của Liên Hiệp Quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hoà bình, sao cho không tổn hại đến hoà bình, an ninh quốc tế và công lý;

4. Tất cả các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của Liên hợp quốc.

5. Tất cả các quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc giúp đỡ đầy đủ cho Liên Hiệp Quốc trong mọi hành động mà nó áp dụng theo đúng Hiến chương này và tránh giúp đỡ bất cứ quốc gia nào bị Liên Hiệp Quốc áp dụng các hành động phòng ngừa hoặc cưỡng chế;

6. Liên Hiệp Quốc làm thế nào để các quốc gia không phải là thành viên Liên Hiệp Quốc cũng hành động theo nguyên tắc này, nếu như điều đó cần thiết để duy trì hoà bìnhan ninh thế giới;

7. Hiến chương này hoàn toàn không cho phép Liên Hiệp Quốc được can thiệp vào những công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào, và không đòi hỏi các thành viên của Liên Hiệp Quốc phải đưa những công việc loại này ra giải quyết theo quy định của Hiến chương; tuy nhiên, nguyên tắc này không liên quan đến việc thi hành những biện pháp cưỡng chế nói ở chương VII.

Chương II: Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Chương II đề cập đến các thành viên và nghĩa vụ của các thành viên Liên Hiệp Quốc.

Chương III: Các cơ quan[sửa | sửa mã nguồn]

Các cơ quan chính của Liên Hiệp Quốc là: Đại Hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế và Xã hội, Hội đồng Quản thác, Toà án Quốc tếBan Thư ký.

Chương IV: Đại hội đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Là cơ quan duy nhất của Liên Hiệp Quốc có đại diện của tất cả thành viên, Đại Hội đồng có chức năng của 1 diễn đàn để các thành viên để đạt sáng kiến trong những vấn đề về hòa bình, tiến bộ kinh tế và nhân quyền. Cũng có thể đề xuất các cuộc nghiên cứu, đưa ra những lời khuyên, cổ xúy cho nhân quyền, soạn thảo và phát triển công pháp quốc tế và xúc tiến những chương trình kinh tếxã hộivăn hóa và giáo dục.

Chương V: Hội đồng Bảo an[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc là cơ quan chính trị quan trọng nhất và hoạt động thường xuyên của Liên Hiệp Quốc, chịu trách nhiệm chính về việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Những nghị quyết của Hội đồng Bảo an được thông qua mà phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc thì bắt buộc các nước hội viên của Liên Hiệp Quốc phải thi hành.

Chương VI: Giải quyết hoà bình và các vụ tranh chấp[sửa | sửa mã nguồn]

Yêu cầu các quốc gia có tranh chấp có thể dẫn đến chiến tranh trước hết cố gắng tìm kiếm các giải pháp thông qua các phương pháp hòa bình như đàm phán, điều tra, hòa giải, trọng tài, giải quyết tư pháp, sử dụng các cơ quan hoặc tổ chức khu vực, hoặc các phương tiện hòa bình khác tuỳ theo sự lựa chọn của từng quốc gia. Nếu những phương pháp giải quyết tranh chấp thay thế này thất bại, thì họ phải chuyển nó tới Hội đồng Bảo an. Theo Điều 35, bất kỳ quốc gia nào cũng được phép đưa tranh chấp lên sự chú ý của Hội đồng Bảo an hoặc Đại hội đồng. Chương này cho phép Hội đồng Bảo an ban hành các khuyến nghị nhưng không cho phép đưa ra các nghị quyết ràng buộc. Những quy định này được trình bày trong Chương VII.

Chương VII: Hành động trong trường hợp hoà bình bị đe doạ, bị phá hoại hoặc có hành vi xâm lược[sửa | sửa mã nguồn]

Chương VIII: Những thoả thuận khu vực [sửa | sửa mã nguồn]

Uỷ quyền cho các tổ chức khu vực (như ASEAN) và thậm chí cần có những nỗ lực để giải quyết tranh chấp thông qua các cơ quan đó (nếu có) trước khi Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc can thiệp. Tuy nhiên, Điều 53 quy định rằng "không một hành động cưỡng chế nào được thi hành chiếu theo những thỏa thuận hay do những tổ chức khu vực quy định, nếu không được Hội đồng bảo an khu vực thi hành một lần nữa chính sách xâm lược, cho đến khi Liên Hiệp Quốc có thể, theo lời yêu cầu của các chính phủ hữu quan, được giao nhiệm vụ ngăn chặn một sự xâm lược mới của một quốc gia như thế"

Chương IX: Hợp tác quốc tế về kinh tế, xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Chương X: Hội đồng Kinh tế và Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Chương XI: Tuyên ngôn về những lãnh thổ không tự trị[sửa | sửa mã nguồn]

Chương XII: Hệ thống Ủy thác Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Chương XIII: Hội đồng Quản thác[sửa | sửa mã nguồn]

Chương XIV: Toà án Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Chương XV: Ban Thư ký[sửa | sửa mã nguồn]

Chức năng của Ban Thư ký[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Chuẩn bị báo cáo và các tài liệu khác có chứa thông tin, phân tích, tìm kiếm nghiên cứu nền tảng lịch sử, gợi ý chính sách... để tạo thuận lợi cho việc thảo luận và ra quyết định của các cơ quan khác.
  2. Tạo thuận lợi cho các cơ quan lập pháp và các cơ quan trực thuộc.
  3. Cung cấp các dịch vụ hội nghị cho Đại Hội đồng và các cơ quan khác.
  4. Cung cấp các dịch vụ biên tập, dịch thuật và sao chụp tài liệu để phát hành các tài liệu của Liên Hiệp Quốc bằng ngôn ngữ khác.
  5. Tiến hành nghiên cứu và cung cấp thông tin cho các quốc gia thành viên khác nhau trong việc đối phó với thách thức trong nhiều lĩnh vực.
  6. Chuẩn bị ấn phẩm thống kê, bản tin thông tin và công việc phân tích mà Đại Hội đồng đã quyết định.
  7. Tổ chức các hội nghị chuyên gia các cuộc họp nhóm và hội thảo về các chủ đề quan tâm đến cộng đồng quốc tế.
  8. Cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển.
  9. Hiểu về nhiệm vụ phục vụ cho các quốc gia, khu vực hoặc địa điểm được Đại Hội đồng hoặc an ninh cho phép.

Chương XVI: Các điều khoản khác[sửa | sửa mã nguồn]

Có các điều khoản khác nhau quy định về các điều ước quốc tế, thiết lập Hiến chương Liên Hiệp Quốc là tối cao đối với bất kỳ điều ước nào khác, và quy định các đặc quyền và miễn trừ đối với các quan chức và đại diện của Liên Hiệp Quốc.

Chương XVII: Những biện pháp an ninh trong thời kì quá độ[sửa | sửa mã nguồn]

Thỏa thuận an ninh trong thời kì quá độ liên quan đến Thế chiến II, sắp kết thúc tại thời điểm ban hành của Hiến chương. Trong 1 ngoại lệ đối với hòa bìnhan ninh quy định của Hiến chương, nó cho phép các quốc gia thành viên có thể tiếp tục tấn công Nhật Bản và các quốc gia thù địch cho đến khi chiến tranh kết thúc.

Chương XVIII: Bổ sung, sửa đổi hiến chương[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình này được mô hình hóa chủ yếu sau quá trình sửa đổi Hiến pháp Hoa Kỳ trong đó:

Chương XIX: Phê chuẩn và Chữ ký[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến chương được mở ra để ký kết vào ngày 26 tháng 6 năm 1945 và có hiệu lực vào ngày 24 tháng 10 năm 1945. Quy định rằng Hiến chương này sẽ có hiệu lực sau khi được thông qua bởi 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và phần lớn các quốc gia ký kết khác.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Giới thiệu về Hiến chương Liên Hiệp Quốc”. 
  2. ^ The United Nations Declaration, United Nations Website
  3. ^ a ă â “Hiến chương Liên Hiệp Quốc”. 
  4. ^ Report of the Rapporteur of Commission I/1 UNICO VI, pp 446–7, Doc. 944 I/1/34(1).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]