Hiến pháp Cuba

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Coat of arms of Cuba.svg
Bài này nằm trong loạt bài về:
Chính trị và chính phủ
Cuba

Hiến pháp Cuba là văn bản cơ bản của nước Cộng hòa Cuba, và có hiệu lực pháp lý cao nhất. Hiến pháp được soạn thảo năm 1976 và đã được sửa đổi các năm 1980, 1992, 2002.

Từ khi độc lập khỏi Tây Ban Nha, Cuba đã có bốn bản Hiến pháp.

Hiến pháp năm 1901[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1901 sau cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ với chiến thắng thuộc về người Mỹ, Cuba chính thức trở thành quốc gia độc lập nhưng bị ràng buộc vào Mỹ.

Một hội nghị Hiến pháp được triệu tập bởi Leonard Wood thống đốc quân sự Mỹ tại Cuba. Ngày 5/11/1900 6 tỉnh đã gủi phái đoàn đến tham dự. Hội nghị được chủ trì bởi Domingo Mendez Capote, với Enrique VilluendasAlfredo Zayas là thư ký.

Ngày 21/2/1901 Hiến pháp được thông qua bởi Hội đồng, hiến pháp được lấy cảm hứng từ Hiến pháp 1789 của Hoa Kỳ. Và sau khi độc lập, Hiến pháp chính thức được sử dụng ngày 20/5/1902.

Hiến pháp quy định Lập pháp gồm 2 viện Thượng viện và Hạ viện, tư pháp tương đối độc lập nhưng phụ thuộc vào hành pháp và lập pháp liên quan tới nhiệm kỳ của mình, hành pháp tập trung mọi quyền lực.

Ngày 12/6/1901 Hiến pháp được sửa đổi để phù hợp với tu chính Platt.

Tu chính Platt[sửa | sửa mã nguồn]

Tu chính Platt được ban hành 2/3/1901 sửa đổi cho dự thảo chiếm hữu quân đội. Nó quy định bảy điều kiện cho sự rút quân của Hoa Kỳ ở còn lại Cuba vào cuối Chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha. Nó vạch rõ quy định không cân bằng của quan hệ Cuba-Hoa Kỳ, và người Mỹ thống trị Cuba.

Ngày 22/5/1903 Cuba ký kết hiệp ước quốc tế với Hoa Kỳ gồm 7 điểm "Hiệp ước hợp tác Cuba-Hoa Kỳ":

  1. Không cho phép lực lượng nào có căn cứ quân sự tại quốc đảo;
  2. Không được nợ quá mức;
  3. Cho Hoa Kỳ có quyền can thiệp vào Cuba với mục đích duy trì chính quyền;
  4. Phê chuẩn trước tất cả các hành động quân sự;
  5. Sẽ hành động để giảm bệnh truyền nhiễm;
  6. Sẽ không đòi vùng lãnh thổ Isla de la Juventud của Cuba nếu Hoa Kỳ không chấp thuận;
  7. Cho Hoa Kỳ thuê đất để làm căn cứ Hải quân;

Hiệp ước 1903 được sử dụng để biện minh cho sự chiếm đóng Cuba lần thứ 2 từ 1906-1909. Ngày 29/9/1906 bộ trưởng Bộ chiến tranh William Howard Taft khởi xướng việc chiếm đóng lần thứ 2 bằng việc thành lập chính quyền lâm thời Cuba (theo điều 3 Hiệp ước), tuyên bố là thống đốc tạm thời Cuba. Ngày 23/10/1906 Tổng thống Roosevelt ký sắc lệnh 518 phê chuẩn lệnh.

Hiệp ước hợp tác 1934 được ký kết thay cho Hiệp ước hợp tác 1903:

  1. Hủy bỏ hiệp ước 1903
  2. Phê chuẩn trước tất cả các hành động quân sự;
  3. Khẳng định hợp đồng thuê, với một vài phải sửa đổi, trừ phi thêm điều chỉnh hoặc huỷ bỏ do hai bên bằng lòng và khẳng định lãnh thổ vùng Căn cứ Hải quân Guantanamo được áp dụng vào năm 1934;
  4. Để cơ sở được cách ly bệnh truyền nhiễm;

Đồng thời chính phủ Cuba cũng chính thức xóa bỏ tu chính Platt ngày 29/5/1934 sau khi hợp đồng thuê vịnh Guantanamo vĩnh viễn được ký kết.

Hiến pháp năm 1934[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến pháp được xem là bản Hiến pháp tạm thời.

Hiến pháp năm 1940[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến pháp được thông qua trong nhiệm kỳ Tổng thống Federico Laredo Bru, người chịu ảnh hưởng từ các cuộc cách mạng năm 1933. Được xem là sự tiến bộ trong Hiến pháp của Cuba, cải cách ruộng đất, giáo dục công, tiền lương tối thiểu, và những tiến bộ khác. Gồm 286 điều và 19 Chương và hoàn thành trong 6 tháng soạn thảo.

Quy định trong Hiến pháp 1940 tách 3 ngành chính quyền còn lại, nhưng với phân biệt rõ ràng. Cụ thể Thủ tướng được giới thiệu; các chi nhánh hành pháp chuyển đổi sang hình thức bán Quốc hội, tức nửa số Bộ trưởng là thành viên Quốc hội; Quốc hội được phân bổ bằng 1 ghê hạ viện tương đương với 35000 người hoặc lớn hơn 17500 và 9 thượng nghĩ sĩ cho mỗi tỉnh.

Hiến pháp tách ngành hành pháp với tư pháp. Ngành tư pháp vẫn độc lập, và được trao quyền để đề cử thẩm phán và quan tòa; Chánh án Tối cao pháp viện được đề cử bởi Tổng thống và được thượng viện thông qua. Ngoài ra Hiến pháp năm 1940 còn thành lập tòa án Hiến pháp và bảo lãnh xã hội (tòa án Hiến pháp), thuộc thẩm quyền Tòa án tối cao.

Sau cuộc đảo chính năm 1952 của Batista, hiến pháp bị đình chỉ.

Sau khi cách mạng Cuba thành công, ngày 7/2/1959 Chính phủ lâm thời Cộng hoà Cuba đã ban hành bản Hiến chương cơ bản của nước cộng hoà, phục hồi lại Hiến pháp năm 1940 và tuyên bố:

"Cuba là một nước độc lập, có chủ quyền, tổ chức theo chế độ Cộng hoà, thống nhất và dân chủ để mọi người được hưởng quyền tự do về chính trị, công bằng về xã hội, về tài sản cá nhân và tập thể và sự đoàn kết giữa người với người. Cuba lên án mọi cuộc chiến tranh xâm lược, mong muốn được chung sống hoà bình với các nước và cùng thiết lập quan hệ ngoại giao, giao lưu văn hoá, thương mại. Nhà nước Cuba dành cho mình quyền áp dụng những nguyên tắc và thực hiện những luật pháp quốc tế liên quan đến sự đoàn kết ủng hộ lẫn nhau giữa người với người và tôn trọng chủ quyền của các dân tộc, sự hỗ tương giữa các nhà nước với hoà bình và văn minh chung".

Hiến pháp năm 1976[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến pháp 1976 được thông qua bởi trưng cầu dân ý ngày 15/2/1976 và được chấp thuận với tỉ lệ 97.7% cử tri. Và có hiệu lực ngày 24/2/1976. Đây được coi là bản Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa đầu tiên của nước cộng hoà.

Quy định ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Quy định ban dầu của Hiến pháp là 1 quốc gia xã hội chủ nghĩa tương tự Đông Âu và Liên Xô, nền kinh tế tập trung, và cam kết của chính quyền là giáo dục và y tế được miễn phí. Nhà nước có quyền điều chỉnh các tổ chức tôn giáo trên quốc đảo, và sở hữu tư nhân về truyền thông bị cấm.

Tu chính[sửa | sửa mã nguồn]

Vào cuối những năm 1980, khối Đông Âu sụp đổ, Hiến pháp được tu chính để phù hợp với thời kỳ biến động. Hiến pháp sửa đổi năm 1992 cho phép doanh nghiệp tư nhân được liên doanh với chính quyền để sở hữu tài sản. Và cho phép tự do tôn giáo (người theo tôn giáo có thể gia nhập Đảng Cộng sản Cuba).

Năm 2002, Hiến pháp được tu chính lần nữa quy định rằng hệ thống xã hội chủ nghĩa tại Cuba là vĩnh viễn không thể thay đổi.

Tu chính Hiến pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến pháp chỉ được tu chính khi 2/3 số thành viên của Quốc hội chấp thuận và được thông qua bởi nghị quyết tu chính, nếu sửa đổi toàn diện hoặc sự bổ sung và quyền của Quóc hội hoặc Hội đồng Nhà nước hoặc quyền chứa đựng trong Hiến pháp, sẽ được trưng cầu dân ý bởi người dân do Quốc hội chủ trì.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]