Iabet

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Iabet
Karnak Khonsou 080522 c.jpg
Iabet được vẽ ở bên trái, cạnh bà là vua Ramesses III. Bên phải là Amentet
Nữ thần của phương Đông và sự thanh lọc
Trung tâm tôn giáo lớn Panopolis (Akhmim)
Phối ngẫu Min

Một phần của loạt bài
Tín ngưỡng Ai Cập cổ đại

Eye of Horus bw.svg
Niềm tin chủ yếu

Thần thoại · Linh hồn · Duat · Con số · Đa thần giáo

Tập quán

Cúng bái · Chôn cất · Đền thờ

Ammit · Amentet · Amun · Amunet · Anubis · Anhur · Anuket · Anput · Apep · Apis · Aten · Atum · Banebdjedet  · Bastet · Bes · Bốn người con của Horus · Geb · Hapi · Hathor · Heka · Heqet · Horus · Iabet · Isis · Kebechet  · Khepri  · Khnum · Khonsu · Kuk · Maahes  · Ma'at · Mafdet · Menhit · Meretseger · Meskhenet · Montu · Min · Mnevis · Mut · Nefertem · Neith · Nekhbet · Nephthys · Nu · Nut · Osiris · Pe và Nekhen · Ptah · Ra · Ra-Horakhty · Renenutet · Satis · Sekhmet · Seker · Serket · Sobek · Sopdet · Sopdu · Set · Seshat · Shu · Taweret · Tefnut · Thoth · Wadjet · Wadj-wer · Wepwawet · Wosret

Tài liệu

Amduat · Sách hơi thở · Sách hang · Sách chết · Sách Trái Đất · Sách cổng · Sách địa ngục

Khác

Atenism · Lời nguyền của pharaon

Iabet (còn gọi là Iabtet, Iab, Abet, Abtet hoặc Ab) là một nữ thần trong thần thoại Ai Cập. Bà ngự trị ở vùng sa mạc phía đông, được mệnh danh là "Nữ thần phương Đông".

Iabet được thờ ở Khent-Min (Panopolis, Akhmim) cùng với Min và một người vợ khác của ông, nữ thần sư tử Repyt, nhưng bà chỉ xuất hiện trên các bức vẽ trên các ngôi mộ[1].

Bà thường được mô tả là đội trên đầu biểu tượng của phương đông.

Thần thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Bà còn biết đến với danh hiệu "Khentet-Iabet", tức "Người đứng đầu phương đông". Chồng bà là vị thần sinh sản nam giới Min, cũng là một vị thần sa mạc bờ đông[1].

Là đối tác của nữ thần phương tây Amentet, bà thường xuất hiện trong các nghi thức tang lễ. Tuy nhiên, Nephthys thường thay thế vị trí của bà, trong khi Isis thế chỗ cho Amentet[1].

Iabet cũng được xem là vị thần của sự tái sinh. Bà thường hiện diện trên các ngôi mộ hay những vật phẩm được dùng trong tang lễ vào thời Tân vương quốc. Bà là người tẩy uế, thanh lọc cho thần Ra khi ngài vừa thoát khỏi địa ngục, là hình ảnh mặt trời mọc vào lúc bình minh. Đôi khi bà đảm nhận cả vai trò thanh tẩy người chết như nữ thần Kebechet (con gái Anubis)[1].

Bà rất hiếm khi xuất hiện trên các lăng mộ hoàng gia. Tại địa ngục Amduat, bà thường đi cùng với 11 nữ thần khác như Amentet, Mut, Isis, Nephthys, Tefnut, Nut, Hathor, Neith, Ma'at, SekhmetSerket, được gọi chung là "Những người tán dương Ra khi ngài vượt ra khỏi địa ngục"[1].

Công chúa Nefertiabet[sửa | sửa mã nguồn]

Công chúa Nefertiabet - được đặt theo tên của nữ thần này. Bà là con gái của pharaoh Khufu[2].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c “Ancient Egyptian Gods - Iabet”. 
  2. ^ Aidan Dodson & Dyan Hilton, The Complete Royal Families of Ancient Egypt, Thames & Hudson (2004) tr. 60