Jaehyun

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jaehyun
Jung Jae-hyun Dream Concert2018.png
Jaehyun vào năm 2018
SinhJung Jae-hyun
14 tháng 2, 1997 (25 tuổi)
Seocho-gu, Seoul, Hàn Quốc
Tên khác
  • Jay
  • Jeffrey Jung
Trường lớpTrường Nghệ thuật và Biểu diễn Seoul
Nghề nghiệp
  • Ca sĩ
  • Diễn viên
Chiều cao1,8 m (5 ft 11 in)
Cân nặng63 kg (139 lb)
Sự nghiệp âm nhạc
Dòng nhạc
Năm hoạt động2016–nay
Công ty quản lý
Hợp tác với
Tên thật
Hangul
정윤오
Romaja quốc ngữJeong Yoon-oh
McCune–ReischauerChŏng Yun-o
Hán-ViệtTrịnh Nhuận Ngũ
Tên khai sinh
Hangul
정재현
Romaja quốc ngữJeong Jae-hyeon
McCune–ReischauerChŏng Jae-hyun
Hán-ViệtTrịnh Tại Hiền

Jung Yoon-oh (tên khai sinh Jung Jae-hyun, Hangul: 정윤오, Hanja: 鄭閏伍, Hán-Việt: Trịnh Nhuận Ngũ, sinh ngày 14 tháng 2 năm 1997), thường được biết đến với nghệ danh Jaehyun, là một nam ca sĩ và diễn viên người Hàn Quốc. Anh là thành viên của nhóm nhạc nam NCT, nhóm nhỏ NCT UNCT 127 do SM Entertainment thành lập và quản lý.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Jaehyun được sinh ra vào ngày 14 tháng 2 năm 1997 tại Seoul, Hàn Quốc. Tên khai sinh của anh là Jung Jae-hyun nhưng đã đổi tên thành Jung Yoon-oh sau khi học hết cấp hai. Anh từng sống cùng bố mẹ tại bang Connecticut, Hoa Kỳ trong 4 năm từ khi 10 tuổi nên anh có thể nói tiếng Anh trôi chảy. Sau khi trở lại Hàn Quốc, Jaehyun theo học trường Tiểu học và Trung học Shindong. Anh cũng từng theo học trường cấp ba Apgujeong trước khi chuyển đến trường Trung học Biểu diễn Nghệ thuật Seoul (SOPA). Anh tốt nghiệp SOPA vào năm 2016.[1]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2012–2016: Trước khi ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2012, Jaehyun trở thành thực tập sinh của SM Entertainment sau khi được tuyển chọn khi đang học cấp hai. Anh được giới thiệu với công chúng với tư cách là thành viên của SM Rookies, một nhóm các thực tập sinh của SM Entertainment vào tháng 12 năm 2013.[2] Năm 2014, Jaehyun cùng các thành viên khác của SM Rookies xuất hiện trên chương trình truyền hình thực tế EXO 90:2014 của EXO.[3] Từ ngày 21 tháng 1 đến ngày 1 tháng 7 năm 2015, Jaehyun và Doyoung, một thành viên khác của SM Rookies, là dẫn chương trình cho Show Champion, chương trình âm nhạc hàng tuần của đài MBC.[4] Anh cũng xuất hiện trên chương trình The Mickey Mouse Club của kênh Disney Channel Hàn Quốc.[5]

2016–2018: Ra mắt với NCT[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 2016, Jaehyun ra mắt với tư cách thành viên của NCT cũng như nhóm nhỏ đầu tiên của NCT, NCT U. Cũng trong tháng 4, Jaehyun cùng hai thành viên khác của NCT là Taeil và Doyoung phát hành đĩa đơn nhạc số "Without You".[6] Tháng 7 năm 2016, Jaehyun trở thành thành viên nhóm nhỏ thứ hai của NCT, NCT 127. Anh đã tham gia viết lời cho đĩa đơn đầu tay của nhóm, "Fire Truck".[7]

Tháng 3 năm 2017, Jaehyun và thành viên cùng nhóm Johnny bắt đầu dẫn chương trình cho NCT's Night Night, chương trình phát thanh mới của Power FM.[8] Tháng 11 năm 2017, Jaehyun phát hành bài hát solo "Try Again", một bản pop ballad với sự góp mặt của ca sĩ-nhạc sĩ d.ear, thông qua dự án âm nhạc SM Station của SM Entertainment.[9] Cũng trong tháng 11, Jaehyun xuất hiện trong video âm nhạc cho bài hát "The Little Match Girl" của WendyBaek A Yeon.[10]

Tháng 1 năm 2018, Jaehyun, Doyoung và Taeil phát hành bài hát "Timeless" thuộc dự án SM Station.[11] Tháng 9 năm 2018, Jaehyun và Taeil phát hành bài hát nhạc phim "New Dream" cho web drama Dokgo Rewind.[12]

Tháng 8 năm 2019, Jaehyun và Doyoung phát hành bài hát nhạc phim "New Love" cho phim Best Mistake.[13]

2019–nay: Hoạt động solo, sự nghiệp diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 20 tháng 10 năm 2019 đến ngày 28 tháng 2 năm 2021, Jaehyun là người dẫn chương trình cho Inkigayo, chương trình âm nhạc hàng tuần của đài SBS, bên cạnh Minhyuk (Monsta X) và Naeun (April). Tháng 12 năm 2019, Jaehyun, Taeil, Doyoung và Haechan phát hành bản ballad "Coming Home" thông qua dự án "Station X 4 Loves for Winter (2019 SM Town Winter)".[14]

Tháng 8 năm 2020, Jaehyun được thông báo là sẽ thủ vai nam chính Cha Min-ho trong bộ phim truyền hình Dear.M của kênh KBS2, dự kiến phát sóng vào đầu năm 2021.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm Thứ hạng
cao nhất
Doanh số Album
HQ
Gaon

[15]
Mỹ
World

[16]
Cộng tác
"Without You"
(với Taeil và Doyoung)
2016 Không có Đĩa đơn không nằm trong album
"Try Again"
(với d.ear)
2017 Không có Đĩa đơn không nằm trong album
"Timeless"
(với Taeil và Doyoung)
2018 Không có Đĩa đơn không nằm trong album
"Coming Home"
(với Taeil, Doyoung và Haechan)
2019 Không có Đĩa đơn không nằm trong album
Bài hát nhạc phim
"New Dream"
(với Taeil)
2018 Không có Dokgo Rewind OST
"New Love"
(với Doyoung)
2019 Không có Best Mistake OST
"—" cho biết bài hát không lọt vào bảng xếp hạng hoặc không được phát hành tại khu vực này.

Phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai Kênh Bạn diễn Ghi chú
TBA Dear. M Cha Min-ho KBS 2TV Park Hye-soo Bộ phim đầu tiên

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Kênh Vai trò Ghi chú
2019–2021 Inkigayo SBS Dẫn chương trình cùng với Minhyuk (Monsta X) và Naeun (April)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Benjamin, Jeff (ngày 6 tháng 3 năm 2020). “Jaehyun from NCT: K-pop's social butterfly and fan favourite”. South China Morning Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  2. ^ Kang, Soeun (ngày 10 tháng 12 năm 2013). “SM, 라미 재현 아이린 등 'SM루키즈' 3명 추가 공개”. n.news.naver.com (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  3. ^ OSEN (ngày 4 tháng 10 năm 2014). “[어저께TV] '엑소902014' K팝 시험, 90 반갑고 2014 새롭고”. mosen.mt.co.kr (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  4. ^ 조현정 (ngày 16 tháng 1 năm 2015). “SM, SM루키즈의 도영 공개.재현은 '쇼!챔피언' MC 발탁”. 스포츠서울. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  5. ^ Kim, Sukyung (ngày 11 tháng 6 năm 2019). '알라딘' 인기에 NCT 재현X혜린이 부른 OST도 조회수 폭발”. n.news.naver.com (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  6. ^ Son, Jihyoung (ngày 6 tháng 4 năm 2016). “NCT U confirms lineup, set to unveil singles 'The 7th Sense,' 'Without You'. kpopherald.koreaherald.com. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  7. ^ 홍승한 (ngày 6 tháng 7 năm 2016). “NCT 127, 데뷔곡 '소방차' 뮤비 선공개”. 스포츠서울. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  8. ^ Soompi (ngày 8 tháng 3 năm 2017). “NCT 127's Jaehyun And Johnny To Host New SBS Radio Show”. Soompi (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  9. ^ Soompi (ngày 24 tháng 11 năm 2017). “Watch: NCT's Jaehyun Wants To "Try Again" In New SM STATION MV”. Soompi (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  10. ^ Soompi (ngày 28 tháng 11 năm 2017). “Update: Red Velvet's Wendy And Baek A Yeon Release MV Teaser Featuring NCT's Jaehyun”. Soompi (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  11. ^ Soompi (ngày 12 tháng 1 năm 2018). “Watch: NCT U's Doyoung, Jaehyun, And Taeil Sing About "Timeless" Love In New MV For SM STATION”. Soompi (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  12. ^ Soompi (ngày 8 tháng 9 năm 2018). “Watch: NCT U's Taeil And Jaehyun Sing Of Finding A "New Dream" In "Dokgo Rewind" OST”. Soompi (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  13. ^ “NCT's Jaehyun and Doyoung reveal 'New Love' MV for 'Best Mistake' OST”. allkpop. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  14. ^ Soompi (ngày 2 tháng 12 năm 2019). “Update: NCT U Sings Of "Coming Home" In STATION X MV”. Soompi (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  15. ^ “Gaon Chart”. Gaon Music Chart (bằng tiếng Triều Tiên). Korea Music Content Industry Association.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  16. ^ “World Digital Songs”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2016.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]