José Luis Gayà

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
José Luis Gayà
Jose Gaya 2015 (cropped).jpg
Gayà chơi cho Valencia vào năm 2015
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ José Luis Gayà Peña
Ngày sinh 25 tháng 5, 1995 (24 tuổi)
Nơi sinh Pedreguer, Tây Ban Nha
Chiều cao 1,72 m (5 ft 7 12 in)
Vị trí Hậu vệ trái
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Valencia
Số áo 14
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2006–2012 Valencia
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2012–2014 Valencia B 65 (3)
2012– Valencia 152 (3)
Đội tuyển quốc gia
2012 U-17 Tây Ban Nha 2 (1)
2013 U-18 Tây Ban Nha 2 (0)
2013–2014 U-19 Tây Ban Nha 11 (1)
2013 U-20 Tây Ban Nha 4 (0)
2014–2017 U-21 Tây Ban Nha 15 (1)
2018– Tây Ban Nha 6 (1)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 18 tháng 5 năm 2019
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 8 tháng 9 năm 2019

José Luis Gayà Peña (sinh ngày 25 tháng 5 năm 1995) thường được gọi là José Gayà, là một cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha chơi cho câu lạc bộ Valencia CF ở vị trí hậu vệ cánh.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra ở Pedreguer, Alicante, cộng đồng Valencian, Gaya là sản phẩm đào tạo xuất sắc của Valencia CF, anh bắt đầu chơi bóng ở vị trí tiền đạo - anh đã ghi được 60 bàn trong 1 năm trước khi chuyển sang chơi hậu vệ cánh trái. Anh chơi trận ra mắt cho Valencia B ở tuổi 17, chơi 21 phút trong chiến thắng 1-0 trước Andorra CFSedunga Division B, đây là trận đấu duy nhất của Gaya cả mùa giải

Ngày 30 tháng 12 năm 2012, Gaya chơi chuyên nghiệp đầu tiên và chơi đủ 90 phút trong trận thắng 2-0 trước UE LlagosteraCúp Nhà vua Tây Ban Nha, anh chơi trận đầu tiên ở UEFA Europa League vào ngày 12 tháng 12 năm 2013, trong trận hòa 1-1 ở vòng bảng trước FC Kuban Krasodar.[1]

Gaya chơi trận đầu tiên ở La Liga vào ngày 17 tháng 4 năm 2014 ở tuổi 19, chơi đủ 90 phút, đáng tiếc Valencia đã để thua Atletico Madrid với tỉ số 0-1. Ngày 3 tháng 8 anh ghi bàn thắng đầu tiên trong chiến thắng 3-1 trước S.L Benfica ở giải Emirates Cup, là cầu thủ xuất sắc nhất trận.[2]

Gaya lọt vào mắt xanh của HLV Nuno Santos mùa 2014-2015. Anh ghi bàn thắng đầu tiên ở đấu trường chuyên nghiệp vào ngày 12 tháng 9 năm 2014. giúp Valencia thắng 3-0 trước Cordoba CF. Bàn thứ hai của Gaya đến từ giải nội địa vào ngày 7 tháng 1 năm 2015, giúp Valencia thắng RCD Espanyol 2-1 ở sân nhà Mestalla.[3]

Gaya được biết đến nhờ tốc độ, nhãn quan chiến thuật và thể lực tuyệt vời dù chỉ mới 20 tuổi, anh được so sánh với 2 người đàn anh là Jordi Alba và Juan Bernat nhưng Gaya được đánh giá cao hơn, anh còn được cổ động viên của Real Madrid gọi là " Roberto Carlos mới " và được rất nhiều đội bóng nhòm ngó và tranh giành quyết liệt trong đó có Manchester United, Chelsea, Paris Saint Germain, Juventus, Arsenal, Barcelona, Real Madrid và Bayern Munich.

Ngày 8 tháng 5 năm 2015 Gaya gia hạn hợp đồng với Valencia tới năm 2020 với mức phí giải phóng là 50 triệu Euro.[4][5]

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Gaya mang băng đội trưởng 23 lần cho đội tuyển Tây Ban Nha ở tất cả cấp độ. Ngày 26 tháng 5 năm 2015, anh được triệu tập lên đội tuyển Tây Ban Nha ở tuổi 20 để thi đấu giao hữu với Costa Rica và vòng loại UEFA Euro 2016 với Belarus, nhưng anh vẫn chưa có trận ra mắt cho Tây Ban Nha

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 18 tháng 5 năm 2019[6][7]
Đội Mùa giải Giải Cúp Châu lục Tổng
Cấp độ Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng
Valencia 2012–13 La Liga 0 0 1 0 0 0 1 0
2013–14 1 0 0 0 3 0 4 0
2014–15 35 1 2 1 37 2
2015–16 20 0 5 1 11 0 36 1
2016–17 27 1 1 0 28 1
2017–18 34 0 4 0 38 1
2018–19 35 1 4 0 9 0 48 1
Tổng 152 3 19 2 23 0 194 5
Tổng cộng sự nghiệp 152 3 19 2 23 0 194 5

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 8 tháng 9 năm 2019
Đội tuyển quốc gia Năm Trận Bàn
Tây Ban Nha 2018 3 0
2019 3 1
Tổng cộng 6 1

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 7 tháng 6 năm 2019 Tórsvøllur, Tórshavn, Quần đảo Faroe  Quần đảo Faroe 4–1 4–1 Vòng loại Euro 2020

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kuban exit after Valencia draw; UEFA.com ngày 12 tháng 12 năm 2013
  2. ^ Benfica 1–3 Valencia — Match report; Arsenal's official website, ngày 3 tháng 8 năm 2014
  3. ^ El Valencia aprovecha la inercia (Valencia profits from inertia); Marca, ngày 7 tháng 1 năm 2015 (Spanish)
  4. ^ José Luis Gayà renews contract through to 2020; Valencia's official website, ngày 8 tháng 5 năm 2015
  5. ^ Gayá renueva hasta 2020 (Gayá renews until 2020); Marca, ngày 8 tháng 5 năm 2015 (Spanish)
  6. ^ Bản mẫu:ESPNsoccernet
  7. ^ “José Gayá”. Soccerway. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2013.