KY Cygni

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
KY Cygni
Sadr Region rgb.jpg
Red circle.svg

Vị trí của KY Cygni (circled, east is up)
Dữ liệu quan sát
Kỷ nguyên J2000.0      Xuân phân J2000.0 (ICRS)
Chòm sao Thiên Nga
Xích kinh 20h 25m 58.05s[1]
Xích vĩ +38° 21′ 07.6″[1]
Cấp sao biểu kiến (V)11.14[2] (10.60 - 11.74[3])
Các đặc trưng
Kiểu quang phổM3-4I[4] (M3.5Ia[5])
Chỉ mục màu U-B+2.91[2]
Chỉ mục màu B-V+3.39[2]
Kiểu biến quangLC[5]
Trắc lượng học thiên thể
Khoảng cách~5,000 ly
(1,580[2] pc)
Cấp sao tuyệt đối (MV)−8.18[4]
Chi tiết
Khối lượng25[6] M
Bán kính1,420 (2,850?)[4] R
Hấp dẫn bề mặt (log g)−0.5 (−0.9?)[4]
Độ sáng (bolometric)138,000[2]–273,000 (1,100,000?)[4] L
Nhiệt độ3,500[4] K
Tên gọi khác
KY Cyg, GSC 03152-01140, IRAS 20241+3811, IRC+40415, TYC 3152-1140-1, RAFGL 2575, UCAC2 45230193, 2MASS J20255805+3821076
CSDL tham chiếu
SIMBADdữ liệu

KY Cygni là một siêu sao khổng lồ đỏ của lớp phổ M3.5Ia nằm trong chòm sao Thiên Nga. Nó là một trong những ngôi sao lớn nhất được biết với bán kính ước tính 1.420 R☉ (6.6 au). Bán kính 2.850 solar radius[Chuyển đổi: Đơn vị bất ngờ] được bắt nguồn bằng một phương pháp khác là do phép đo băng tần K bất thường. Nếu nó được đặt ở trung tâm của Hệ Mặt Trời, nó sẽ mở rộng qua quỹ đạo của Sao Mộc (hoặc Sao Thổ). Nó cũng là một trong những ngôi sao phát sáng nhất, với độ sáng gập 300.000 lần trở lên so với độ sáng Mặt Trời. Nó cách xa khoảng 5.000 năm ánh sáng.

Quan sát[sửa | sửa mã nguồn]

KY Cyg nằm gần cụm sao mở NGC 6913, nhưng không được cho là thành viên. Vị trí này gần với ngôi sao sáng γ Cygni.[7] Nó được xác định là một ngôi sao biến đổi vào năm 1930, [8] và sau này được đặt tên là KY Cygni. [9] Quang phổ đã được phân loại MK M3aa, chỉ với những điều chỉnh nhỏ kể từ đó. [10] KY Cygni bị ảnh hưởng nặng nề do sự tuyệt chủng liên sao, mất khoảng 7,75 độ lớn ở bước sóng nhìn thấy được. Nó sẽ là một ngôi sao mắt thường Nếu không có ánh sáng bị mất. [4]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

So sánh KY Cygni với Betelgeuze

KY Cygni là một siêu khổng lồ tỏa sáng với gió sao mạnh. Nó đang mất khối lượng tại một trong những tỷ lệ cao nhất được biết đến với một siêu khổng lồ đỏ và đã được mô tả như là một siêu sao nguội.[2][11]

Tính chất của nó là không chắc chắn, nhưng nhiệt độ khoảng 3.500 K và độ sáng trên 100.000 L☉. Mô hình phù hợp dựa trên độ sáng hồng ngoại của băng K cho độ sáng 273.000 L☉. Một mô hình khác dựa trên độ sáng thị giác cho độ sáng lớn bất ngờ là 1.100.000 L☉, với sự khác biệt chủ yếu do các giả định về mức độ tuyệt chủng. Bán kính tương ứng với độ sáng cao hơn sẽ là 2.850 R☉. [4] Gần đây hơn, sự tích hợp các phân bố năng lượng quang phổ trên toàn dải các bước sóng từ dải U tới dòng vi sóng 60 micron cho độ sáng thậm chí thấp hơn 138.000 L☉. [2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Cutri, R. M.; Skrutskie, M. F.; Van Dyk, S.; Beichman, C. A.; Carpenter, J. M.; Chester, T.; Cambresy, L.; Evans, T.; Fowler, J.; Gizis, J.; Howard, E.; Huchra, J.; Jarrett, T.; Kopan, E. L.; Kirkpatrick, J. D.; Light, R. M.; Marsh, K. A.; McCallon, H.; Schneider, S.; Stiening, R.; Sykes, M.; Weinberg, M.; Wheaton, W. A.; Wheelock, S.; Zacarias, N. (2003). “VizieR Online Data Catalog: 2MASS All-Sky Catalog of Point Sources (Cutri+ 2003)”. VizieR On-line Data Catalog: II/246. Originally published in: University of Massachusetts and Infrared Processing and Analysis Center 2246: 0. Bibcode:2003yCat.2246....0C. 
  2. ^ a ă â b c d đ Mauron, N.; Josselin, E. (2011). “The mass-loss rates of red supergiants and the de Jager prescription”. Astronomy and Astrophysics 526: A156. Bibcode:2011A&A...526A.156M. arXiv:1010.5369. doi:10.1051/0004-6361/201013993. 
  3. ^ Alfonso-Garzón, J.; Domingo, A.; Mas-Hesse, J. M.; Giménez, A. (2012). “The first INTEGRAL-OMC catalogue of optically variable sources”. Astronomy & Astrophysics. Bibcode:2012A&A...548A..79A. arXiv:1210.0821 [astro-ph.IM]. doi:10.1051/0004-6361/201220095. 
  4. ^ a ă â b c d đ e Levesque, Emily M.; Massey, Philip; Olsen, K. A. G.; Plez, Bertrand; Josselin, Eric; Maeder, Andre; Meynet, Georges (2005). “The Effective Temperature Scale of Galactic Red Supergiants: Cool, but Not As Cool As We Thought”. The Astrophysical Journal 628 (2): 973–985. Bibcode:2005ApJ...628..973L. arXiv:astro-ph/0504337. doi:10.1086/430901. 
  5. ^ a ă KY Cyg, database entry, The combined table of GCVS Vols I-III and NL 67-78 with improved coordinates, General Catalogue of Variable Stars, Sternberg Astronomical Institute, Moscow, Russia. Accessed on line November 12, 2010.
  6. ^ List of Largest Stars Gets 3 New Chart Toppers, Robert Roy Britt, space.com, 10 January 2005. Accessed on line November 12, 2010.
  7. ^ Romano, G. (1969). “Researches with the Schmidt telescopes. III. Variable stars in the field of gamma Cygni”. Memorie della Società Astronomia Italiana 40: 375. Bibcode:1969MmSAI..40..375R. 
  8. ^ Hoffmeister, Cuno (1930). “Relative Koordinaten, Oerter und Karten neuer Veraenderlicher”. Mitteilungen der Sternwarte zu Sonneberg 17: 1. Bibcode:1930MiSon..17....1H. 
  9. ^ Ahnert, P.; Van Schewick, H.; Hoffmeister, C. (1941). “Die Veraenderlichen Sterne der noerdlichen Milchstrasse. Teil II”. Kleine Veroeffentlichungen der Universitaetssternwarte zu Berlin Babelsberg 6: 4.1. Bibcode:1941KVeBB...6....4A. 
  10. ^ White, N. M.; Wing, R. F. (1978). “Photoelectric two-dimensional spectral classification of M supergiants”. Astrophysical Journal 222: 209. Bibcode:1978ApJ...222..209W. doi:10.1086/156136. 
  11. ^ Stickland, D. J. (1985). “IRAS observations of the cool galactic hypergiants”. The Observatory 105: 229. Bibcode:1985Obs...105..229S. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

<<< 6. HR 5171 A 8/7.VY Canis Majoris/KY Cygni 9. AH Scorpii >>>