Krasnogorsk, tỉnh Moskva

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Krasnogorsk
Красногорск
—  City  —
Quảng trường Krasnogorsk Optikov và tượng đài Vladimir Lenin
Quảng trường Krasnogorsk Optikov và tượng đài Vladimir Lenin
Flag of Krasnogorsk (Moscow oblast).png
Hiệu kỳ
Coat of Arms of Krasnogorsk (Moscow oblast).png
Huy hiệu
Vị trí của Krasnogorsk
Krasnogorsk trên bản đồ Nga
Krasnogorsk
Krasnogorsk
Vị trí của Krasnogorsk
Quốc giaNga
Chủ thể liên bangMoskva
Huyện hành chínhHuyện Krasnogorsky
Thành lập1932
Chính quyền
 • Thành phầnHội đồng đại biểu
Diện tích
 • Tổng cộng66 km2 (25 mi2)
Độ cao150 m (490 ft)
Dân số (Điều tra 2010)[1]
 • Tổng cộng116.738
 • Thứ hạngThứ 139 năm 2010
 • Mật độ1,800/km2 (4,600/mi2)
 • Thủ phủ củaHuyện Krasnogorsky
 • Municipal districtHuyện tự quản Krasnogorsky
 • Khu định cư đô thịKrasnogorsk Urban Settlement
Múi giờGiờ Moskva Sửa đổi tại Wikidata[2] (UTC+3)
Mã bưu chính[3]143400Sửa đổi tại Wikidata
Mã điện thoại495, 498 sửa dữ liệu
Thành phố kết nghĩaPlungė, Höchstadt an der Aisch, Izium sửa dữ liệu
Thành phố kết nghĩaPlungė, Höchstadt an der Aisch, IziumSửa đổi tại Wikidata
OKTMO46744000001

Krasnogorsk (tiếng Nga: Красногорск) là một thành phố Nga. Thành phố này thuộc chủ thể Moskva Oblast. Thành phố có dân số 92.545 người (theo điều tra dân số năm 2002). Đây là thành phố lớn thứ 180 của Nga theo dân số năm 2002. Dân số: 116.738 (Điều tra dân số 2010);[1] 92.545 (Điều tra dân số 2002);[4] 90.477 (Điều tra dân số năm 1989).[5]. Krasnogorsk là thành phố và trung tâm hành chính của huyện Krasnogorsky của tỉnh Moscow, tiếp giáp với ranh giới phía tây bắc của Moscow, bên sông Moskva. Một khu định cư dạng đô thị đã được thiết lập ở đây năm 1932, mà tình trạng thị trấn đã được cấp vào năm 1940..

Trong những năm 1940, Trường Trung ương Chống Phát xít, trong đó nhiều người cộng sản nước ngoài nghiên cứu và giảng dạy, được đặt tại Krasnogorsk. Sau chiến tranh, các nhà khoa học tên lửa V2 của Đức mà quân đội Liên Xô đã bắt giữ đã được định cư ở đây với gia đình của họ. Thành phố này là nhà Câu lạc bộ Zorky Bandy.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Cục Thống kê Quốc gia Liên bang Nga (2011). “Всероссийская перепись населения 2010 года. Том 1” [2010 All-Russian Population Census, vol. 1]. Всероссийская перепись населения 2010 года [Kết quả sơ bộ Điều tra dân số toàn Nga năm 2010] (bằng tiếng Nga). Cục Thống kê Quốc gia Liên bang Nga. 
  2. ^ “Об исчислении времени”. Официальный интернет-портал правовой информации (bằng tiếng Nga). 3 tháng 6 năm 2011. Truy cập 19 tháng 1 năm 2019. 
  3. ^ Почта России. Информационно-вычислительный центр ОАСУ РПО. (Russian Post). Поиск объектов почтовой связи (Postal Objects Search) (tiếng Nga)
  4. ^ Cục Thống kê Quốc gia Liên bang Nga (21 tháng 5 năm 2004). “Численность населения России, субъектов Российской Федерации в составе федеральных округов, районов, городских поселений, сельских населённых пунктов – районных центров и сельских населённых пунктов с населением 3 тысячи и более человек” [Dân số Nga, các chủ thể Liên bang Nga trong thành phần các vùng liên bang, các huyện, các điểm dân cư đô thị, các điểm dân cư nông thôn—các trung tâm huyện và các điểm dân cư nông thôn với dân số từ 3 nghìn người trở lên] (XLS). Всероссийская перепись населения 2002 года [Điều tra dân số toàn Nga năm 2002] (bằng tiếng Nga). 
  5. ^ “Всесоюзная перепись населения 1989 г. Численность наличного населения союзных и автономных республик, автономных областей и округов, краёв, областей, районов, городских поселений и сёл-райцентров” [Điều tra dân số toàn liên bang năm 1989. Dân số hiện tại của liên bang và các cộng hòa tự trị, tỉnh và vùng tự trị, krai, tỉnh, huyện, các điểm dân cư đô thị, và các làng trung tâm huyện]. Всесоюзная перепись населения 1989 года [All-Union Population Census of 1989] (bằng tiếng Nga). Институт демографии Национального исследовательского университета: Высшая школа экономики [Viện Nhân khẩu học Đại học Quốc gia: Trường Kinh tế]. 1989 – qua Demoscope Weekly.