Lê Thị Lựu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lê Thị Lựu
Portrait of Lê Thị Lựu, 1940.jpg
Lê Thị Lựu vào năm 1940
Thông tin cá nhân
Sinh19 tháng 1 năm 1911
Gia Lâm, Phủ Thuận An, Bắc Ninh, Liên bang Đông Dương
Mất6 tháng 6 năm 1988(1988-06-06) (77 tuổi)
Antibes, Pháp
Giới tínhnữ
Quốc tịch Pháp
 Liên bang Đông Dương
Nghề nghiệphọa sĩ
Hôn nhânNgô Thế Tân (cưới 1934-1988)
Con cáiNgô Mạnh Đức
Đào tạoTrường Đại học Mỹ thuật Đông Dương
Lĩnh vựctranh lụa, tranh sơn dầu

Lê Thị Lựu (19 tháng 1 năm 1911 – 6 tháng 6 năm 1988) là một họa sĩ chuyên về tranh lụatranh sơn dầu. Bà được xem là nữ họa sĩ đầu tiên của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam và nằm trong bộ tứ danh họa Việt tại Pháp PhổThứ – Lựu – Đàm.

Sinh ra trong một gia đình theo Tây học, ngay từ cấp sơ học, Lê Thị Lựu đã hình thành niềm yêu thích với hội họa và quyết định thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sau khi đỗ đầu trường khóa 3 1927, bà sớm được biết đến thông qua hai bức sơn dầu vẽ năm 1929 Thiếu nhi trong vườn chuốiChân dung Ông Hai, được trưng bày trong triển lãm chung đầu tiên của trường. Các sáng tác chủ yếu của Lê Thị Lựu giai đoạn này là tranh sơn dầu, sở trường chân dung. Sau khi trở thành nữ sinh đầu tiên tốt nghiệp trường, hạng thủ khoa, bà nhanh chóng có được sự công nhận từ giới báo chí, đặc biệt là nhóm Tự Lực văn đoàn. Lê Thị Lựu từng nhận bổ nhiệm làm giáo sư tại nhiều trường học khác nhau trên khắp cả nước. Với tư cách là hướng đạo sinh, bà cũng sáng lập nên tổ chức "Bầy sói con Trứng Rồng". Năm 1940, nữ họa sĩ cùng chồng là Ngô Thế Tân sang Pháp.

Dành phần lớn cuộc đời sống tại Pháp, Lê Thị Lựu đã gặp nhiều trở ngại trong cuộc sống gia đình và có lúc phải tạm ngưng vẽ tranh suốt nhiều năm, từ thập niên 1930 đến thập niên 1950, ngoại trừ một số bức được thực hiện vào những dịp đặc biệt khác nhau. Khoảng thời gian này, bà tích cực tham gia phong trào chống Pháp trong thời điểm hoạt động cách mạng diễn ra sôi động. Khi trở lại hội họa, Lê Thị Lựu chuyên tâm theo đuổi dòng tranh lụa và kiên trì với trường phái cổ điển, cho ra đời nhiều tác phẩm gây được sự chú ý từ các triển lãm, cửa hàng tranh bên Pháp: thời điểm đầu sáng tác, ba bức tranh lụa nhỏ của Lựu đã giúp đem về cho nữ họa sĩ giải nhất trong số các tranh và bà cũng được công nhận là thành viên thực thụ của Hội liên hiệp phụ nữ hội họa và điêu khắc Pháp. Trong những năm cuối đời, Lê Thị Lựu đã hoàn thiện nhiều tác phẩm thành công để lại dấu ấn trong sự nghiệp của mình. Họa phẩm cuối cùng mà bà xong trước khi mất là bức Tam đại đồng đường.

Xuyên suốt sự nghiệp sáng tác, số lượng tranh Lê Thị Lựu vẽ ước tính dao động khoảng 250 đến 500 bức, tuy nhiên các tác phẩm của bà, đặc biệt là tranh lụa, đã nhận về đánh giá cao từ những nhà phê bình chuyên môn, cũng như được đem đi bán đấu giá tại Christie's, Sotheby's... thu về số tiền kỷ lục. Vào năm 2018, nhà phê bình Thụy Khuê và chồng bà là ông Lê Tất Luyện, họ hàng của nữ họa sĩ,[a] đã trao tặng Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh nhiều tranh vẽ, thư từ, thơ Lê Thị Lựu, đồng thời xuất bản cuốn sách Lê Thị Lựu, ấn tượng hoàng hôn, trong đó tổng hợp lại chi tiết cuộc đời nữ danh họa cùng cuộc sống của những họa sĩ người Việt từng tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương tại Pháp.

Những năm đầu đời[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thị Lựu đứng cạnh họa sĩ Nam Sơn (ở giữa) và hiệu trưởng trường Mỹ thuật Đông Dương Victor Tardieu (bên phải), khoảng 1927

Lê Thị Lựu sinh ngày 19 tháng 1 năm 1911, quê tại làng Thổ Khối, huyện Gia Lâm, Phủ Thuận An, tỉnh Bắc Ninh[5] (nay thuộc quận Long Biên, Hà Nội); đây là nơi sinh, cũng là quê nội và quê ngoại của bà. Cha mẹ Lê Thị Lựu đều đồng danh tên Quế: cha bà là Lê Văn Quế còn mẹ bà là Lê Thị Quế.[5][6] Từ nhỏ đến năm 14 tuổi, bà đã theo cha, một công chức tòa sứ, đến nhiều tỉnh thành khác nhau, gồm Bắc Ninh, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng và Hà Nội.[5][7] Cha Lê Thị Lựu là một trong những người theo Tây học đời đầu, cùng lớp với nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, nhà báo Ngô Văn Phú và Viện trưởng Viện Dân biểu Bắc Kỳ Phạm Huy Lục.[5] Tuy vậy, ông vẫn bắt các con mình phải để tóc dài, nhuộm răng đen, vận quần thâm cho đến khi lấy chồng.[8][9] Bà là chị cả trong số bốn chị em Lê Thị Lựu, Lê Thị Cẩn, Lê Thị Chương và Lê Thị Đào,[10] được đặt theo tên của các loại thảo mộc: Lựu, Cẩn (cây bầu), Chương (cây long não), Đào. Bà cũng có em họ là giáo sư Nguyễn Đăng Thục, nhà văn Mai Thảo và nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh.[5]

Vào năm 1925, bà đã đậu bằng Sơ học yếu lược,[6][11] tuy nhiên thay vì nhập học trường Nữ sinh Đồng Khánh (tiền thân trường Trưng Vương) như hai người em khác, Lê Thị Lựu lại thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1926.[5] Theo những bản viết tay của Lựu, khi đó có hai sự việc dẫn đến quyết định này: sự kiện thứ nhất là trong một lần Lê Thị Lựu xếp lại sách cho thầy giáo, bà bị ấn tượng với bức hình vẽ một cô gái Lào vừa to, vừa đẹp; thầy sau đó giải thích với bà rằng đây là ảnh "phóng to" từ sách ra. Khi Lựu hỏi thầy mình rằng liệu có thể học được môn này, ông đã giới thiệu một Trường Bách nghệ dạy vẽ và ở đó có ông nghệ sĩ tên Thục nặn giỏi. Việc thứ hai là khi thăm người bạn có bố là chủ một rạp hát, Lê Thị Lựu bị thuyết phục trước lối vẽ chấm phá làm phông cho rạp của một người thợ, bằng việc tô lên những nét sơn nguệch ngoạc trên tấm vải căng phẳng, mà khi nhìn gần không nhận ra gì cả nhưng phải trông từ xa mới thấy đẹp.[8][12][13]

Chuẩn bị trước khi thi, Lựu mua duy nhất cuốn vẽ luật viễn cận rồi tự học, đồng thời nhờ một anh người nhà tên Pheo làm mẫu để thực hành vẽ. Sau khi thi xong, bà đậu thứ 13 và ghi tên lớp dự bị vì trường lấy có 10 người.[8][13] Tuy vậy, chỉ một năm sau, vào 1927, Lê Thị Lựu đã đỗ nhất đầu vào sinh viên khóa III trường Mỹ thuật Đông Dương,[10][14] cùng với Trần Quang Trân đỗ nhì[15]Nguyễn Gia Trí,[b][7] khi mới 16 tuổi.[17][18] Bước vào trường lúc đó, bà đã gặp trở lực từ phía phụ huynh, xã hội và bạn học:[8][19] là một trong số ít các họa sĩ nữ của trường,[20] mới vào thực tập tại trường, bà phải thuyết phục gia đình cho đi học lớp vẽ tranh khỏa thân nam với người mẫu thật;[21][22] các học sinh nam cũng ghen ghét với thành tích học tập của bạn,[19] đến mức có người đã rạch chéo nách hoặc bôi xóa cả tranh bà vẽ.[9] Bất chấp điều này, suốt quãng thời gian 5 năm theo học, bất cứ môn nào Lựu đều trội hơn các bạn đồng khóa.[12] Bà cũng kết bạn với đàn anh trong trường, là những học sinh ưu tú nhất, gồm ba họa sĩ Mai Trung Thứ, Lê PhổVũ Cao Đàm, bên cạnh đó là hiệu trưởng trường Tardieu.[23][24] Năm 1932, Lê Thị Lựu trở thành nữ họa sĩ đầu tiên tốt nghiệp trường,[23][25] hạng thủ khoa.[c][12][27]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1927-1940: Khởi đầu hội họa và sang Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh biếm họa của Lê Thị Lựu vẽ dịp tốt nghiệp thủ khoa cho tờ Phụ nữ tân văn, bên phải là hình chân dung và thông tin tóm tắt về bà[26][28]

Năm 1929, khi Lê Thị Lựu còn đang học tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nhà trường đã lên kế hoạch tổ chức một cuộc triển lãm chung đầu tiên,[10][13] trưng bày bài tập của các sinh viên sáng tác thời gian nghỉ hè và được yêu cầu phải trình công việc với giáo viên khi tựu trường. Dù vậy, tới tận ngày khai giảng, Lựu mới chỉ hoàn thiện xong một bức sơn dầu mang tên Thiếu nhi trong vườn chuối. Một giờ trước khi ra ga về trường, bà ở nhà đã kịp nhờ ông bác mình làm mẫu chân dung rồi đem tranh thành phẩm còn ướt màu sơn lên xe, đặt tên là Chân dung Ông Hai. Bất ngờ thay, sau khi nộp bài xong, đến hôm triển lãm vào ngày 15 tháng 11 cùng năm,[10][29] chỉ sau vài phút thuyết trình về hai tác phẩm, đã có hai người mua các tranh này với giá tổng là 400 đồng,[d][8][29] gấp nhiều lần tiền thuê trọ của bà vỏn vẹn 3 đồng. Hai bức họa này nhận về sự khen ngợi từ thầy giáo bà Joseph Inguimberty và hiệu trưởng Victor Tardieu; thậm chí, Chân dung Ông Hai còn vô tình được thầy Inguimberty xếp ngang hàng tranh bậc đàn anh của bà thời điểm đó là họa sĩ Tô Ngọc Vân.[8][13] Trong một bài báo tiếng Pháp tựa đề "Une nouvelle école de peinture et de sculture: "L'École annamite"" (dịch: "Một trường phái hội họa và điêu khắc mới: trường phái Annam") in trên báo L'Avenir du Tonkin, nữ ký giả Yvonne Schultz có nhận xét về hai họa phẩm như sau:[31]

Sau cùng, là bức hoành hoàn toàn đáng chú ý của cô Lê Thị Lựu, năm thứ ba, vẽ trẻ em chung quanh cây chuối. Tôi cho rằng đó là bức tranh duy nhất cho ta thấy một đứa nhỏ bụng bự đầy cơm. Và đáng yêu thay người vẽ đứa bé lại là một thiếu nữ! Ta thấy trong bức tranh này một cảm xúc rất êm dịu của tuổi thơ. Bức họa thứ nhì vẽ chân dung Ông Bác, bút pháp ngang tàng làm liên tưởng tới Reynolds.

Năm 1931, bà cùng các họa sĩ khác trong trường, dẫn đầu là Lê Phổ,[32] tham dự Triển lãm thuộc địa tổ chức tại Paris; các tác phẩm của nữ họa sĩ thành công gây ấn tượng với những nhà phê bình nghệ thuật người Pháp.[33] Sau khi ra trường, tên tuổi Lê Thị Lựu nổi danh khắp ba kỳ, được nhiều tờ báo trong nước nhắc đến như là nữ sinh đầu tiên tốt nghiệp thủ khoa khóa III Cao đẳng Mỹ thuật.[19][34][35] Tài năng của bà lúc này cũng sớm được nhóm Tự Lực văn đoàn phát hiện và công nhận. Trong bài "Trường Mỹ thuật Đông Pháp" do Nguyễn Tường Tam (bút danh Nhất Linh) viết, ông đã coi Lê Thị Lựu là một trong ba họa sĩ tài năng nhất về sơn dầu của trường Mỹ thuật Đông Dương, cùng với Lê Phổ và Nam Sơn.[36] Tại một bài báo khác trên tờ Phong Hóa số 18, mà theo suy đoán thì tác giả là nhà văn Thạch Lam,[35] người phụ trách thường xuyên mục phê bình nghệ thuật của tờ Phong HóaNgày Nay,[e] tác giả cũng đề cập đến Lê Thị Lựu cạnh hai họa sĩ tốt nghiệp khóa I trường Lê Phổ và Mai Trung Thứ:[35][40]

Ông Lê Phổ, cô Lê Thị Lựu, ông Mai Trung Thứ cùng nhiều họa sĩ khác đều là người có tài, mỗi người một vẻ riêng [...] Có một điều đáng ghi là cô Lê Thị Lựu không ngần ngại là quần vận, yếm mang, chen chân thích cánh với bọn hoạ sĩ đàn ông, mà cái hay cái khéo của cô lại hơn người, thật là vẻ vang cho phụ nữ nước nhà.

Lê Thị Lựu trong thời gian ở Sài Gòn, năm 1936

Từ năm 1933 đến 1935, theo quy chế đương thời, Lê Thị Lựu được bổ nhiệm làm giáo sư ở trường Trung học Bảo hộ (sau là trường Bưởi), trường Nữ sinh Đồng Khánh và trường tư thục Hồng Bàng Hà Nội.[41] Với tư cách là hướng đạo sinh, thời gian này Lựu cũng tham dự Trại họp bạn Hướng đạo toàn quốc tại Sân vận động Mayer, Sài Gòn; bà đã kết hợp sử dụng năm thứ ngũ cốc để tạo thành chân dung ông Robert Baden-Powell, người sáng lập phong trào Hướng đạo thế giới, cao 1 m và rộng 0,8 m, đồng thời tham gia thiết kế mẫu huy hiệu "Hướng đạo Việt Nam", với biểu trưng cách điệu từ hoa sen và được dùng làm một trong những huy hiệu chính thức của tổ chức cùng tên.[7][21] Năm 1933 hoặc 1934, bà cùng nữ giáo sư trung học Chenevier[42] lập nên tổ chức "Bầy sói con Trứng Rồng", truyền đạt cho những thanh thiếu niên tham gia có tư tưởng tiến bộ, thích nghi với mọi hoàn cảnh của đời sống.[10][43] Giai đoạn 1935-1936, Lê Thị Lựu chuyển vào Nam, dạy cho trường Nữ sinh Áo tím Sài Gòn (nay là Trường Trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai) và trường Mỹ nghệ và Trang trí Gia Định.[13][41] Ngoài công việc chính, bà còn cộng tác với các ấn phẩm của Tự Lực văn đoàn như Ngày Nay, Phụ nữ tân văn, Đàn bà Mới,[44] dùng bút hiệu Văn Đỏ dưới ký họa hay hình họa;[34] và làm thơ, dù rất ít, bằng bút danh Thạch Ẩn,[21][45][46] do một nhà sư đặt cho. Những năm 1937[6] hoặc 1938[41]-1939, nữ họa sĩ trở ra Hà Nội dạy trường Trung học Bảo hộ và Đăng Ten.[6][41] Năm 1939, cùng với Tô Ngọc Vân, Lê Thị Lựu tham gia vào "Nhóm kịch Thế Lữ" với vai trò trang trí các vở diễn gây được tiếng vang cho công chúng.[47] Thời gian này, ba người bạn của bà là Mai Thứ, Lê Phổ và Cao Đàm đều đã qua định cư tại Pháp, trong bối cảnh giới họa sĩ lúc bấy giờ muốn tới Pháp để tiếp xúc trường phái Paris; Lựu cũng không nằm ngoại lệ.[9] Đến tháng 3 năm 1940, bà cùng chồng là ông Ngô Thế Tân xuất ngoại sang Pháp từ Sài Gòn[48] bằng đường thủy vì chồng bà khi đó là công chức chính quyền nhận thuyên chuyển qua Pháp để làm việc cho Ban kỹ thuật Canh nông Nhiệt đới,[49][50] thay cho những đồng nghiệp Pháp nhập ngũ tham gia chiến tranh.[f][46]

1940-1960: Tham gia hoạt động cách mạng và trở lại với hội họa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tàu cập bến Marseille, Pháp tháng 4 năm 1940, vào tháng 6 cùng năm, Lê Thị Lựu và chồng di chuyển lên Paris. Tuy nhiên khi tới nơi lại đúng lúc thành phố đang bị Đức ném bom.[41][48] Hai người lên kế hoạch đi thăm xưởng vẽ ở Paris của ba người bạn họa sĩ Vũ Cao Đàm, Lê Phổ và Mai Trung Thứ, nhưng vừa đến thì biết tin cả ba phải đi nhập ngũ. Sau một thời gian về Nantes rồi quay lại Paris, sống trong điều kiện thiếu thốn và khó khăn,[53] đến tháng 6 năm 1941, khi này Lựu đã sinh con, cả gia đình bà xuống Marseille để đón tàu về nước nhưng không may hết tàu do trong tình trạng thời chiến.[43][54] Vì vậy, bà cùng chồng di chuyển về Nice ở chung với Lê Phổ, lúc đó đã giải ngũ, rồi trú khu trọ Pension des Etats Unis do Cao Văn Bổn quản lý một năm tròn, trước khi ông Tân nhậm chức làm giám đốc Vườn Thử Nghiệm Thực Vật Kindia (Jardin d'Essai de Kindia), thị trấn Kindia, nước Guinée châu Phi.[49][54] Trong suốt thời gian từ khi sang Pháp đến tại Guinée, bà gần như không động đến hội họa vì bận chăm con và thiếu thốn dụng cụ, nhưng có vẽ mươi hình cô gái đồng trinh bản xứ, do tòa sứ Pháp đặt để trang trí phòng khách ở Kindia. Nữ họa sĩ cũng nhiều lần được giám đốc trường thủ công nghệ tại thị trấn mời làm giáo sư nhưng đều bị bà từ chối.[28][54] Vào năm 1943, Lê Thị Lựu đã cho ra đời bức Chân dung người Guinée, trong đó bà vẽ bằng bút chì trên giấy kraft dùng để gói hàng.[55]

Lê Thị Lựu (trong bộ đồ đen ngồi ghế bên trái, cạnh Hồ Chí Minh) tại Hội nghị Fontainebleau năm 1946[56]

Năm 1945, chiến tranh kết thúc, Lê Thị Lựu trở về Paris và ở tạm xưởng vẽ với Mai Thứ một thời gian.[57] Năm 1947, bà dọn sang số 41 phố rue Blomet quận 15 và là hàng xóm của Lê Phổ; đây là nhà giáo sư Trần Hữu Tước khi về nước sang tên lại.[43] Trong khi đi nghỉ mát cùng chồng vào mùa hè 1946 ở Chedde, tỉnh Haute–Savoie, bà đã biết được tình hình quê nhà khi các phong trào cách mạng chống thực dân giành độc lập trở nên sôi động và lên tận Paris, nơi đang diễn ra Hội nghị Fontainebleau, để trực tiếp lấy tin cũng như gặp người quen trong phái đoàn Việt Nam do Phạm Văn Đồng làm trưởng. Qua sự kiện trên, vợ chồng bà Lựu chọn theo hướng ủng hộ phong trào:[49][48] ông Tân nghỉ làm công chức cho chính quyền Pháp và sau đó cùng vợ lập một hiệu buôn nhỏ để sinh sống.[43][58] Sau khi ổn định mưu sinh, bà tích cực tham gia vào phong trào chống thực dân khi liên hệ đại diện chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trần Ngọc Danh, hay các đại diện Hội người Việt tại Pháp như Phạm Huy Thông, Nguyễn Khắc Viện; Ngô Thế Tân làm Phó Chủ tịch Hội người Việt sống tại Pháp[59] còn Lê Thị Lựu giữ chức thủ quỹ Hội Liên hiệp Trí thức (thuộc Hội người Việt).[g][58][60] Trong thời gian trên, bà đã gửi các bức tranh vẽ của mình cho phái đoàn Quốc hội Việt Nam, theo lời hiệu triệu từ Ủy ban tổ chức Triển lãm để dựng nên triển lãm tranh đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào năm 1946.[61] Bà cũng tham dự các buổi họp Phong trào Hòa bình Thế giới tổ chức ngay trên đất Pháp và ngoại quốc, bất chấp việc nằm trong "sổ đen" của chính quyền sở tại và luôn luôn bị truy vấn bởi cảnh sát, mật vụ, v.v..[21][62] Tới năm 1960, khi thấy chính phủ miền Bắc Việt Nam chuẩn bị tiến công vào miền Nam bằng vũ trang, bà Lựu cùng ông Tân quyết định tách khỏi hoạt động của các nhóm hội này.[57]

Lê Thị Lựu vào năm 1947

Năm 1953, gia đình bà dọn về ở số 10 ngõ Joséphine, thị xã Gentilly, ngoại ô phía Nam Paris.[63] Từ năm 1954, sau Hiệp định Genève, Lê Thị Lựu bắt đầu trở lại với hội họa.[6] Thời điểm này, nhờ sự tiếp đón tận tình của Ngô Thế Tân, khi đó vẫn đang là Phó Chủ tịch Hội người Việt ở Pháp, với phái đoàn Thương mại miền Bắc Việt Nam, ông đã được đề bạt lên làm cho Bộ Ngoại thương và đến năm 1956 thì nhận công tác về Việt Nam.[h][48][64] Sau khi chồng đi làm xa, Lê Thị Lựu quyết tâm bỏ hẳn việc buôn bán, hoạt động hội họa tích cực.[29][65] Để làm quen với môi trường mỹ thuật, ngày ngày bà đều tham quan bảo tàng, phòng triển lãm cộng đồng, cá nhân và các cửa hiệu bán tranh trong thành phố. Lựu cũng thường lui đến phòng vẽ La Chaumière để ký họa người mẫu khỏa thân bằng bút chì trên giấy và theo học tại École du Louvre, nhưng chỉ sau mấy tháng thì bỏ dở vì nhận thấy chương trình học không giúp ích gì cho bản thân.[66] Qua quãng thời gian trên, tuy có quyết tâm học hỏi, Lê Thị Lựu lại trở nên do dự trước vô số các trường phái và khuynh hướng mới ra đời nhưng xa vời với lối vẽ cùng quan niệm của bà.[21] Sau khi suy nghĩ kĩ, bà quyết định đi theo con đường sáng tạo dựa trên những quan niệm hội họa do chính bà đặt ra và cuối cùng hoàn toàn theo đuổi nghệ thuật tranh lụa.[67][68]

Khởi đầu cho việc trở lại làm họa sĩ, năm 1957,[59] Lê Thị Lựu thường xuyên đem tranh đến phòng trưng bày Chapelin cạnh Điện Elysée.[69] Năm 1959, ba bức lụa nhỏ bà sáng tác đều cùng được trưng bày ở trung tâm phòng triển lãm hàng năm Hội liên hiệp phụ nữ hội họa và điêu khắc (Union des femmes peintres et sculpteurs). Chỉ ngay trong buổi khai mạc, có hai người Mỹ đã mua hai bức tranh của bà, tranh còn lại thì do bà chủ phòng tranh Chapelin nhận. Cả ba tác phẩm trên sau đó đem về cho Lê Thị Lựu giải nhất trong các tranh và bà được phong làm thành viên thực thụ (Sociétaire[6]) của hội, đồng nghĩa với việc tranh của bà khi trưng bày đều không bao giờ cần phải qua sự giám sát.[34][49][66]

1960-1988: Thời kỳ tranh lụa "toàn bích", những tác phẩm cuối cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một thời gian thể nghiệm và theo đuổi nghệ thuật tranh lụa,[70] từ năm 1960, Lê Thị Lựu đã kiện toàn phong cách tranh lụa của riêng mình[6] và cho ra đời nhiều tác phẩm được đánh giá là "toàn bích".[71][72] Trong giai đoạn này, bức vẽ thành công nhất của Lê Thị Lựu là Mẹ địu con, vẽ khoảng năm 1970-1975, từng được in thành nhiều phiên bản cho cơ quan từ thiện bán lấy tiền.[73]

Năm 1962, Lê Thị Lựu trở thành giáo sư hội họa trường Lycée Corot; một năm sau đó vào 1963 bà tiếp tục làm giáo sư tại hai trường Lycée Rodin Paris và Lycée d’Orsay vùng ngoại ô Paris.[5][6][59] Ngày 4 tháng 12 năm 1963, Lê Thị Lựu đã tham gia vào buổi triển lãm tranh với những họa sĩ khác ở trung tâm Foyer des Artistes trên đại lộ Montparnasse.[74] Đến năm 1971, sau khi cùng chồng nghỉ hưu,[59][75] gia đình bà chuyển về sống tại biệt thự An Trang, đường Renaude, làng Spéracèdes, miền Nam nước Pháp, vùng Địa Trung Hải.[6][63]

Trong những năm cuối đời, bà đã hoàn thành nhiều tác phẩm lớn và ghi dấu ấn trong sự nghiệp của mình. Bức Kim Kiều gặp gỡ là tác phẩm mà bà vẽ trong thời gian lâu nhất, bắt đầu từ năm 1975 nhưng sang đến thập niên 1980 chưa xong, thỉnh thoảng chỉnh sửa lại nhưng vẫn không ưng ý.[76] Họa phẩm cùng chủ đề Kiều gảy đàn tỳ bà mà nữ họa sĩ sáng tác vào khoảng năm 1987, cũng được coi là nổi trội giai đoạn này.[77] Tác phẩm cuối cùng của Lê Thị Lựu trước khi qua đời là bức Tam đại đồng đường, hoàn thành vào năm 1988.[6][78]

Trường phái, sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Pierre-Auguste Renoir là một họa sĩ nổi bật theo trường phái ấn tượng, cũng là người gây ảnh hưởng đến bút pháp nghệ thuật của Lê Thị Lựu

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Lê Thị Lựu từng đi theo nhiều trường phái khác nhau.[21] Trước và sau khi đỗ vào trường, bà là họa sĩ theo đuổi chủ nghĩa hiện thực;[79] khi học tại trường Mỹ thuật Đông Dương, bà được dạy vẽ theo trường phái cổ điển và đây là trường phái xuất hiện xuyên suốt trong các tác phẩm của bà.[14][49][80] Lựu cũng theo đuổi chủ nghĩa biểu hiện, có thể thấy rõ qua những họa phẩm bà sáng tác thời gian sống tại Pháp.[81] Ở lĩnh vực tranh sơn dầu, bà sở hữu lối vẽ tự nhiên, phi trường phái.[23] Ở lĩnh vực tranh lụa, thời kỳ đầu, bút pháp và đề tài của Lê Thị Lựu đi theo hướng giống tranh cổ xưa nhưng màu sắc tươi hơn.[7][82] Đến về sau thì bà hơi hướm theo phong cách của Amedeo Modigliani, điển hình như bức Ba mẹ con góa phụ do bà vẽ năm 1954.[83][84] Nữ họa sĩ có một thời gian dài chịu ảnh hưởng theo trường phái ấn tượng ở tranh lụa, nổi bật với các danh họa như Pierre-Auguste Renoir, Pierre Bonnard, v.v..[85][86] Tuy nhiên, bố cục, đề tài và màu sắc trong tranh của Lê Thị Lựu lại có sự riêng biệt,[85] mang tinh thần phương Đông, Việt Nam.[21][67][79]

Bà đã được truyền dạy kiến thức và kỹ thuật hội họa phương Tây từ trường học.[79] Trong những tác phẩm của mình, Lê Thị Lựu ít chú ý thiên về cái đẹp thuần túy và tính truyền thống, giống như ba người bạn Phổ – Đàm – Thứ, mà thay vào đó lại tập trung khai thác tâm lý của từng bức họa.[87] Khác với giai đoạn đầu khi các bức tranh của bà đều có lối diễn tả hình thể nhân vật vững vàng, trong những tác phẩm về sau, nữ họa sĩ lại không quá chú trọng vào hình khối.[79] Đối với màu sắc cho tranh, bà thường áp dụng bảng màu tươi sáng, ánh sáng êm dịu[14][88] với các tông màu của xanh lam, xanh lục, hồng.[89] Những cảm xúc của nữ họa sĩ gửi gắm vào đường nét và màu sắc trong tranh, được nhận xét là "mềm mại", "dịu dàng".[20][49][89]

Sáng tác tranh lụa[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu, lúc đang học ở trường Mỹ thuật, Lê Thị Lựu được dạy vẽ tranh lụa theo phong cách cổ truyền Trung Quốc, tuy nhiên cách vẽ này lại có nhược điểm bị giới hạn trong sự đơn sắc, vì lụa rất mỏng, sự phân bố màu sắc khó khăn, nên tranh của các họa sĩ tranh lụa thường có từng mảng đồng màu hoặc vài mảng màu tô đậm nhạt khác nhau.[83][90] Đến sau này, họa sĩ Vũ Cao Đàm mới trở thành người tiên phong trong việc tìm ra một cách vẽ mới cho tranh lụa có thể khắc phục những khuyết điểm cũ của lối vẽ theo Trung Quốc, theo đó thay vì căng lụa vẽ màu nước xong mới bồi lên bìa cứng, ông bồi lụa lên trước khi vẽ; điều này sẽ giúp họa sĩ có thể vẽ trên lụa và dùng nhiều màu.[91][92]

Sau khi trở lại hội họa và chuyên tâm theo đuổi tranh lụa, Lê Thị Lựu cũng làm theo kỹ thuật này của Cao Đàm. Thế nhưng, các họa phẩm bà vẽ lại hoàn toàn khác với các họa sĩ tranh lụa khi đó như Vũ Cao Đàm, Nguyễn Phan Chánh:[91] tranh lụa của Lựu thiên về cách tiếp cận phương Tây, giàu màu sắc và nhiều lớp lụa đắp dày;[49] bà tìm tòi để kết hợp giữa nghệ thuật vẽ lụa với kỹ thuật ấn tượng nhằm tạo ra một phong cách vẽ tranh lụa mới của riêng mình,[70][83] vừa có nét mềm mại, lại tự nhiên đậm tính nữ. Cũng vì cách vẽ này mà màu tranh của bà có người nhầm sang màu phấn.[85]

Thông thường, quá trình sáng tác cho một bức tranh lụa của Lê Thị Lựu bắt đầu từ khâu chọn khổ lụa, rồi sau đó sắp bút, phác trước đề tài sẽ vẽ bằng fusain trên giấy.[85] Nhiều tranh lụa của bà được vẽ trên khung nhỏ.[17] Sau khi phác họa hoàn chỉnh thì nữ họa sĩ tiếp tục phác màu. Bà phác đều các màu lên tranh để xem cân đối giữa các mảng, kế đến thì đi vào chi tiết là vẽ lại lên mặt trước của tranh.[93] Ở khâu chuẩn bị, ngoài công cụ vẽ, bà cũng sắp sẵn màu và chọn băng nhạc để nghe, rồi giở mấy trang sách mỹ thuật hòa mình vào hội họa; khi vẽ, bà say sưa đến mức quên đói và quên cả khát.[28][85] Trong những nét vẽ đầu của mình, Lê Thị Lựu thường không hài lòng và cứ vẽ rồi lại xóa. Thậm chí, có nhiều bức bà vẽ đi vẽ lại cả nhiều năm trời mới xong.[21]

Thời gian bà dành cho mỗi bức lụa là không xác định, dựa theo nguồn cảm hứng nữ họa sĩ. Một bức thường sẽ hoàn thành trong vài ngày, nhưng có bức bà lại vẽ giữa chừng rồi để dở, vài năm sau vẽ nốt. Tác phẩm vẽ nhanh nhất của Lê Thị Lựu được cho là bức lụa Em bé mồ côi, mà bà hoàn thành chỉ trong một buổi chiều.[i][85][95]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Phần lớn các tác phẩm của Lê Thị Lựu là tranh lụa, chỉ có số ít tranh sơn dầu.[96][97] Hiện nay, không thể tính được hết số lượng họa phẩm mà Lê Thị Lựu đã vẽ, bởi khi còn sống, bà không có thói quen ghi và chụp lại tranh.[97] Hầu hết tranh do bà vẽ đều nhanh chóng có người đến mua sau khi hoàn thành.[25] Tuy đã vẽ kha khá tranh, nhưng Lê Thị Lựu lại chưa từng tổ chức một triển lãm cá nhân nào cho riêng mình,[13][98] dù có nhiều hiệu tranh từ Ý, Thụy Sĩ, Syria, Mỹ (Findlay Galleries),[8]... mời, do bà không đủ sức khỏe để đáp ứng.[66] Nữ họa sĩ không vẽ nhiều.[17][79] Số tác phẩm mà Lê Thị Lựu sáng tác được ước tính rơi vào khoảng 250 đến 300 bức.[21][99] Cũng theo ông Ngô Thế Tân thì khi còn ở Việt Nam, Lê Thị Lựu chỉ vẽ chưa đến trăm bức, còn sau khi sang Pháp thì không quá 400 bức (ở Guinée khoảng mười bức).[66] Do nhiều tranh của bà được vẽ khi bà sống tại Pháp nên nhiều bức đến nay đã bị thất lạc tại các kho lưu giữ ở Pháp.[100] Số ít khác là thuộc về bộ sưu tập tư nhân và bảo tàng.[79]

Đề tài[sửa | sửa mã nguồn]

Đề tài chủ yếu trong các bức tranh của Lê Thị Lựu đã được viết gọn lại trong ba chữ "thiếu": thiếu phụ, thiếu nữ và thiếu nhi. Trong đó:[101]

  1. Thiếu phụ: là người có nhiệm vụ duy trì nòi giống, đưa những thế hệ sau nối tiếp truyền thống cùng các tiến bộ về mặt nhân bản. Là thành viên quản lý gia đình cả vật chất lẫn tinh thần.
  2. Thiếu nữ: là những người phụ nữ trẻ, mang trong mình ước mơ triển vọng về ngày mai, dự bị thiết kế cuộc đời bằng yêu thương và hạnh phúc.
  3. Thiếu nhi: là lớp mầm non tràn trề nhựa sống, có nhiệm vụ nối dõi tông đường, là sợi dây ràng buộc tình vợ chồng, nghĩa cha mẹ, đem lại ánh sáng và sưởi ấm gia đình những lúc tàn canh lạnh giá.

Bên cạnh đề tài trên, Lê Thị Lựu cũng vẽ về chủ đề ba thế hệ trong gia đình,[49] như bức Tam đại đồng đường.[78] Lựu thường ít vẽ tĩnh vật mà thay vào đó có nhiều bức bà vẽ những thành viên cấu thành một gia đình.[85] Trong các bức chân dung của thiếu phụ, thiếu nữ, nữ họa sĩ thường khắc hoạ theo khuôn thước cổ điển lúc bấy giờ: mặt trái xoan, cân đối, hài hòa.[21][44] Kể cả đối với tranh khỏa thân, bà cũng vẽ kín đáo, khác với cách vẽ lộ liễu trong tranh thiếu nữ của Jean-Auguste-Dominique Ingres. Lê Thị Lựu hầu như không vẽ tranh qua người mẫu, và các bộ mặt trong tranh đều do họa sĩ tưởng tượng ra.[101] Điểm riêng biệt với các họa sĩ đàn anh Lê Phổ, Cao Đàm, Mai Thứ là Lê Thị Lựu không vẽ tranh theo một loạt đề tài gần kề mà từng tác phẩm đơn lẻ.[87]

Chất liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm đầu vào trường cho đến 1940, Lê Thị Lựu chủ yếu áp dụng chất liệu sơn dầu trong mọi sáng tác của mình,[101] tiêu biểu là hai bức Chân dung Ông HaiThiếu nhi trong vườn chuối, và ít vẽ trên nền lụa, hay hiếm hơn là màu phấn,[j] màu nước.[k] Bà cũng vẽ tranh bằng chì đen và chì son,[102] như bức Chân dung người Guinée. Có thời gian, bà từng học cách vẽ sơn mài, trong đó để lại bức Scène de village vietnamien au crépuscule (tạm dịch: Cảnh làng quê Việt Nam lúc chạng vạng),[103] nhưng lại bị dị ứng khi sử dụng.[101] Sau này, bà đã xử lý chất liệu tổng hợp,[104][105] bên cạnh màu nước, trên tranh lụa ở các họa phẩm của bà.[106][107][108]

Các tác phẩm chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh sơn dầu[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung[sửa | sửa mã nguồn]

Bà đã bắt đầu sự nghiệp hội họa của mình từ những bức tranh sơn dầu, trong đó sở trường là về chân dung;[23] dù vậy, đến nay tranh của Lê Thị Lựu trước 1940 đều khó tìm lại, duy chỉ có bức Thiếu nữ Bắc Kỳ là bài tập ở trường mà thầy Tardieu ra cho học trò vẽ, được bà hoàn thành vào khoảng năm 1926. Một ông giám đốc hãng dệt thảm Hàng Kênh ở Hải Phòng đã mua lại tranh, và đến sau này, trùng hợp vào đúng ngày nữ họa sĩ mất, người khách hàng trên điện thoại để trả tranh lại chủ.[90] Năm 1934, trong thời gian làm giáo sư ở Sài Gòn, bà cũng vẽ một bức chân dung bằng sơn dầu cho phu nhân Thống sứ Bắc Kỳ René Robin; về sau đây được xem là bức tranh sơn dầu đầu tiên của một họa sĩ người Việt được trưng bày trên trường quốc tế.[109][110]

Khi định cư ở Pháp, Lê Thị Lựu đã sáng tác các tranh chân dung bằng sơn dầu mang phong cách, cá tính độc đáo. Hè năm 1961,[111] bà vẽ hai bức Bà cụ PyrénéesÔng cụ Pyrénées,[l] được xem là mốc đánh dấu cho sự hình thành phong cách riêng của bà, kết hợp với hội họa biểu hiện.[111][114] Cũng nhân một dịp khác, nữ họa sĩ tiếp tục hoàn thiện tác phẩm tên Phẫn nộ, vẽ một thanh niên Pháp tóc hung, râu quai nón, là chân dung người bạn của Ngô Mạnh Đức, con bà.[115] Thời gian này, Lê Thị Lựu cho ra đời bộ ba bức chân dung về cha mình, về sau nằm trong số những tranh chân dung thành công nhất, mang tên Cha tôi, trong đó miêu tả lại tâm trạng u sầu và nuối tiếc của bố sau khi quyết định sang Pháp để sống cùng người con gái đầu lòng.[m][117]

Phong cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thị Lựu rất hiếm khi vẽ tranh phong cảnh, trong đó chủ yếu các bức phong cảnh là bằng sơn dầu.[n][21] Tại Pháp, bà thường vẽ tranh phong cảnh khi đi nghỉ hè.[45][119] Trong các họa phẩm này, ngoài thể hiện tinh thần hội họa phương Tây,[79] Lê Thị Lựu cũng đem cảm xúc cùng tinh thần "Việt hóa" của mình vào tranh: như ở bức Bến Honfleur, bà đã dùng gam màu xám nhạt "êm dịu và buồn buồn" để miêu tả khung cảnh của một bến cảng sau chiến tranh;[119] hay bức Sơn thủy diễn tả cảnh thiên nhiên miền Auvergne, Pháp, bà lại dùng màu tro trong khi vào mùa hè khu vực này thường xanh mướt, khí hậu mát và nhiều ánh sáng, vì tác phẩm "đã thấm nỗi buồn của bà, đã nhuốm tâm sự của bà [...] đã được Việt hoá trong lòng tác phẩm".[120]

Tranh lụa[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi đầu theo dòng tranh lụa, Lê Thị Lựu đã có những nỗ lực nhằm thay đổi bút pháp của mình để khác biệt với lối vẽ Trung Quốc cổ xưa. Điều này có thể thấy rõ qua hai bức tranh vẽ lần lượt vào năm 1946 và 1954 Chị dạy em viết chữ nhoNhị Kiều, đặc biệt là bức Nhị Kiều khi đánh dấu thành công của bà trong việc giao hòa kỹ thuật tranh lụa và tranh màu nước,[121][122] cũng như chuyển mình sang trường phái ấn tượng, dù trường phái hậu ấn tượng đã thay thế cho trường phái ấn tượng và không còn xuất hiện nhiều trong các tác phẩm hội họa đương thời.[23][84]

Trong thời kỳ sáng tác đỉnh cao, Lê Thị Lựu cho ra đời nhiều tác phẩm hội họa "toàn bích", cụ thể như Thiếu nữ và cây đàn thập lục (vẽ 1970), Nửa chừng xuân (vẽ khoảng 1960-1962), Sơn nữ (khoảng 1980), Sơn nữ địu em (khoảng 1970-1975)...[123] Vào khoảng năm 1980, bà đã vẽ bức chân dung trên nền lụa mang tên Anh Trần bên suối, vẽ nữ điêu khắc Anh Trần nổi tiếng với tài sắc bấy giờ.[124]

Về tranh khỏa thân, Lê Thị Lựu chỉ vẽ một bức tranh và chân dung, trong đó có Thiếu nữ tắm hồ sen, ra đời khoảng 1970-1971, cho thấy người phụ nữ bán khỏa thân đang ngồi trên cầu ao sen.[45][125]

Bệnh tật và qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ thuở nhỏ, Lê Thị Lựu đã bị kém sức khỏe, đến mức lúc đó gia đình định đem cho,[o] tuy nhiên may mắn bà được một ông lang từ Quảng Yên đến chữa khỏi bằng ngoại khoa.[5] Những năm 1936-1938, khi còn đang ở Sài Gòn, Lê Thị Lựu từng mắc phải bệnh lao và phải trở ra Hà Nội chữa trị, có lúc tưởng như đã chết.[13][46] Thậm chí, có báo còn đăng bài về cái chết của bà[126] trên cả trang nhất[127] và một vài tờ báo khác mà khi đó chính bà đọc đưa tin: "Hỡi ôi, cô Lê Thị Lựu đã chết rồi".[13] Vào năm 1978, Lê Thị Lựu ngã cầu thang, cột sống bị chùn.[59] Từ năm 1979, bà mắc bệnh rối loạn nhịp tim[23] và thỉnh thoảng lên cơn đau nặng.[5][43] Trong thời gian này mắt bà cũng dần kém và không còn lái xe được nữa. Tuy vậy, đến 1986, khi này Lê Thị Lựu đã 75 tuổi, bà vẫn tiếp tục vẽ tranh bất chấp sức khỏe trở nên suy nhược.[5]

Vào ngày 30 tháng 5 năm 1988, bà nhập viện ở Antibes để bác sĩ kiểm tra lại bệnh tim. Dù được kiểm tra xong và dự kiến sẽ ra viện ngày 5 tháng 6 cùng năm, nhưng đột ngột vào tối mùng 4 tháng 6, Lê Thị Lựu bị xuất huyết não và đến ngày 6 tháng 6 năm 1988 thì mất.[5][6][21] Trong những ngày cuối cùng, bà đã có cơ hội trò chuyện với vợ chồng nhà phê bình Thụy Khuê, và chính Thụy Khuê cũng là người cùng ông Tân mặc quần áo cho cố họa sĩ sau khi qua đời.[128]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thị Lựu cùng chồng tại Bắc Ninh, ảnh năm 1935

Ngày 16 tháng 10 năm 1934, Lê Thị Lựu kết hôn với Ngô Thế Tân, một kỹ sư canh nông cùng quê Bắc Ninh.[10][36][43] Trước đó, hai người gặp gỡ khi ông còn đương là đoàn trưởng hướng đạo sinh Hùng Vương; Trần Duy Hưng, hay biệt danh "Trâu Mơ Mộng", sau này làm chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội, chính là người chắp nối mối lương duyên cho hai người.[9] Khi định cư sang Pháp, bà sinh con trai đầu lòng và duy nhất tên Ngô Mạnh Đức, ngày 1 tháng 1 năm 1941 tại Bệnh viện Saint Antoine Paris, quận 12; sau này ông cũng trở thành một kỹ sư như bố.[6][46]

Theo nhà phê bình Thụy Khuê, sự "đàn áp" từ gia đình nhà chồng chính là yếu tố ngăn cản sự nghiệp sáng tác của Lê Thị Lựu, mà theo đó bà cho rằng đây là một "thương tích sâu xa đến cuối đời [...] không bao giờ tha thứ". Ngay từ trước khi kết hôn, nữ họa sĩ đã phải chịu áp lực từ phía nhà chồng tương lai không cho phép bà tham dự triển lãm tranh năm 1933. Bởi không chịu được cách ứng xử của mẹ chồng và em chồng, Lê Thị Lựu cùng chồng xin chuyển vào Nam sinh sống. Trong thời gian trị bệnh ở Hà Nội năm 1938-1939, vì chậm có con, bà từng bị nhà chồng ép cưới vợ bé cho chồng.[36] Sau khi lập gia đình sang Pháp, Lê Thị Lựu gần như ngừng sáng tác giai đoạn từ 1933 tới 1956, sống phụ thuộc vào chồng và chịu những lời bình phẩm "chua cay" của chồng, cũng là một họa sĩ nghiệp dư, về hội họa.[36][129] Cho đến 1956, tức sau khi ông Tân chuyển công tác hai năm về Việt Nam, bà mới có cơ hội đi học lại nghề vẽ. Rồi sau khi tìm ra cách vẽ mới trên lụa và bán được tranh, bà mới được chồng "cho phép" hành nghề họa sĩ.[36] Tuy vậy, trong bài phỏng vấn duy nhất của Lê Thị Lựu trên tạp chí Mai số 35, do Mộng Trung thực hiện, đăng ngày 6 tháng 12 năm 1962, nữ họa sĩ tiết lộ lý do bà ngừng vẽ trong thời gian dài là vì bệnh tật, đi kèm sự tự ti vì thời gian dài không học nghề vẽ, và phải đến sau này, nhờ sự khuyến khích của các bạn họa sĩ thân thì bà mới trở lại với hội họa.[13] Ngô Thế Tân lại cho biết rằng: "chúng tôi đã chung sống [...] hơn nửa thế kỷ, trong sự tôn trọng lẫn nhau. Có thể nói tôi là người đã khuyến khích Lê Thị Lựu trong những thời gian kém tin tưởng về nghệ thuật, tài năng của mình".[130] Cũng theo lời kể của nhà nghiên cứu Quang Việt trong một dịp gặp mặt ông Tân, ông là người rất trân trọng các tác phẩm của vợ và còn từng dự định in tranh Lựu vẽ thành sách bán, nhưng do điều kiện tài chính nên điều này vẫn chưa làm được.[131]

Sau năm 1975, Lê Thị Lựu có dịp về Việt Nam thăm các chị em ở Hà Nội, nhưng thất vọng trước tình cảnh xã hội lúc đó.[23][131] Khi trở lại Pháp, bà được cho là đã kể lại mọi chuyện với một người bạn thân, thế rồi người này báo với giới thân cận chính quyền Việt Nam, dẫn đến việc bà bị coi là một phần tử "phản động" và không thể trở về Việt Nam được nữa.[132][133]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi nhận và đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

[Lê Thị Lựu] là nữ họa sỹ chú ý đến đời sống con người, bộc lộ được tâm trạng của họ, như chính bà trong cuộc đời bôn ba, trong chiến tranh.

Phan Cẩm Thượng, [48]

Lê Thị Lựu được xem là nữ hoạ sĩ hiện đại đầu tiên của mỹ thuật Việt Nam.[14][33][134] Cùng với Mai Trung Thứ, Lê PhổVũ Cao Đàm, Lựu cũng nằm trong bộ tứ họa sĩ Việt tại Pháp gồm Phổ – Thứ – Lựu – Đàm.[79][135][136] Bà và ba người bạn này được coi là "nhân chứng của ngôi trường đầy sức mạnh và đầy chuyển biến".[87] Riêng Lê Thị Lựu thì được ghi nhận khi bà "vừa là đại diện cho phụ nữ, vừa là đại diện tiêu biểu cho cả nền hội hoạ hiện đại Việt Nam"[34] và là "minh chứng cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện đại trong hội họa Việt".[20] Theo tuần báo La Gazette Drouot, ngoài là một nhà nữ quyền, Lê Thị Lựu còn là nhân vật quan trọng trong lịch sử của nghệ sĩ Trường Mỹ thuật Đông Dương, "để lại cho hậu thế một minh chứng về con mắt tinh tường và đặc biệt trìu mến".[89]

Theo đánh giá từ các nhà phê bình chuyên môn, Lê Thị Lựu là họa sĩ hiếm hoi của nước nhà khi "lột tả được hai sắc thái đối lập trong tranh, vừa có sự nhẹ nhàng, mềm mại, lại vừa dữ dội, bạo liệt".[137] Các bức sơn dầu của nữ họa sĩ từng được hiệu trưởng Tardieu so sánh là giống với Paul Cézanne.[49][89][101] Trong cuốn sách Hội họa Việt Nam – Một diện mạo khác xuất bản năm 2015, nhà nghiên cứu văn hóa Phan Cẩm Thượng ghi nhận Lê Thị Lựu và ba người bạn họa sĩ của bà đã hình thành nên trường phái hội họa Pháp-Việt ở Paris,[48] nhận xét tranh nữ danh họa có chất lượng kỹ thuật tốt, mang tính phản ánh xã hội đương thời và "vẻ bình dị mà vẫn phức tạp đa chiều".[87] Nét vẽ của bà cũng được đánh giá là "kết hợp giữa sự hòa hợp nhưng không kém phần sắc sảo [...] Thân phận con người toát lên trong tác phẩm rất rõ nét".[28] Lê Thị Lựu được gọi tên như "một nghệ sĩ đa diện hấp dẫn", với kỹ thuật trong tranh giúp "đưa chúng ta vào một thế giới lý tưởng nhuốm màu sang trọng, thanh bình và mềm mại".[18]

Cùng với ba họa sĩ còn lại, tác giả Nguyễn Hồng Ly của tạp chí Người dẫn đầu đã dành lời đánh giá cao phong cách hội họa của Lê Thị Lựu khi thể hiện dáng hình phụ nữ Việt Nam "hiện ra trong những khoảnh khắc lơ đãng, có chút u uẩn, cũng có chút dịu dàng, e ấp [...] với thứ ánh sáng mơn man thuần khiết, không mang sắc thái kịch tính như trong hội họa cổ điển". Người viết cho rằng các tranh của Lê Thị Lựu chứa và giữ nguyên "những nét độc đáo không thể trộn lẫn" vì sự nhất quán trong tư duy thẩm mỹ, tính nguyên bản tác phẩm và việc tranh của cả bộ tứ họa sĩ đều luôn "mang phong vị của một miền đất xa xôi [...] vô vàn dạt dào luyến nhớ về mảnh đất quê hương, giao thoa cùng mỹ cảm tinh tế của sự tài hoa xuất chúng".[79]

Giá trị tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh của Lê Thị Lựu đã được các bảo tàng, các nhà sưu tập tranh trên thế giới rất quan tâm, thường có mặt trong nhiều cuộc triển lãm, bán đấu giá... và được mua với giá rất cao.[21][79][88]

Vào những năm 1970, bức Cô gái bên bờ suối bà vẽ 1973 được một thương nhân mua trực tiếp và lưu trữ tại bộ sưu tập tư nhân, sau này đem đi bán đấu giá vào năm 2019 tại Pháp với giá 57.000 EUR (60.549 USD theo tỷ giá 2022).[138] Từ năm 1987, tức trước khi bà qua đời một năm, có một nhà môi giới nghệ thuật ở Anh đã tìm gặp Lê Thị Lựu để chọn mua họa phẩm cho bảo tàng tại Luân Đôn; một bức tranh của nữ họa sĩ sau đó được trả 40 ngàn bảng Anh.[21][88]

Sau khi qua đời, tranh của bà thường xuyên có mặt trong các phiên đấu giá của nhà Christie's, Sotheby’s,... và giá ngày càng tăng theo thời gian. Trong phiên "Nghệ thuật Đông Nam Á hiện đại và đương đại" của Sotheby’s Hong Kong, diễn ra vào ngày 1 tháng 4 năm 2018, bức Trẻ em nghịch hoa của Lê Thị Lựu đã được bán với số tiền 207.821 USD.[28][104] Năm 2019, 11 tác phẩm của bà góp mặt trong buổi bán "Nghệ thuật đương đại & thế kỷ 20" của Christie's Hong Kong, bên cạnh Lê Phổ, Mai Trung Thứ và Vũ Cao Đàm, với giá dao động từ 56.250 – 2,5 triệu HKD (khoảng 7.225 – 321.135 USD theo tỷ giá 2022).[136][139][140] Đến năm 2021, bức Ba mẹ con trên cỏ của Lê Thị Lựu tiếp tục được bán đấu giá 6,83 triệu HKD (878.000 USD theo tỷ giá 2021), cũng tại một phiên bán khác của Sotheby's.[141][142] Ngày 21 tháng 4 năm 2022, thông qua phiên đấu giá online trên Sotheby’s, tác phẩm Mẹ và con đã đấu giá thành công 573.925 USD, là mức giá cao nhất trong phiên bán "Indochine" gồm 49 tranh hiện đại, tạp chí cũ của các họa sĩ, giáo viên tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.[75][143]

Vào năm 2012, bảo tàng Cernuschi tại Paris đã tổ chức một buổi triển lãm kéo dài từ ngày 21 tháng 9 năm 2013 đến 27 tháng 1 năm 2013, chủ đề "Du fleuve Rouge au Mékong, visions du Vietnam" (tạm dịch: "Từ sông Hồng đến sông Mekong, tầm nhìn Việt Nam"), giới thiệu tác phẩm tranh nhiều họa sĩ nổi tiếng người Việt, trong đó có những họa phẩm giá trị của Lê Thị Lựu.[144] Các bức họa của bà cũng xuất hiện trong một cuộc triển lãm tổ chức tại De Sarthe Gallery Hong Kong vào tháng 7 năm 2017, đi cùng với loạt tác phẩm chính của họa sĩ người Mỹ gốc Việt Richard Streitmatter-Tran.[145][146]

Tìm kiếm và trưng bày tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Bởi một tài năng như Lê Thị Lựu phải có mặt trên quê hương, để đồng bào chiêm ngưỡng tác phẩm. Bởi một tài năng như Lê Thị Lựu, không thể như Hồ Xuân Hương, rồi đây người Việt sẽ chỉ mơ hồ, chẳng biết bà có thật hay không, bà đã sống như thế nào… Ở Pháp, nhưng ở đâu? Tại sao tác phẩm lại hoàn toàn bị thất lạc? Tại sao trong các bảo tàng từ Nam chí Bắc, không có lấy một bức tranh của Lê Thị Lựu?

Thụy Khuê, [147]

Trong khoảng thời gian viết bài tiểu luận "Lê Thị Lựu, ấn tượng hoàng hôn" năm 1988,[p] nhà phê bình Thụy Khuê đã nảy sinh ý định đưa những tác phẩm hội họa của Lê Thị Lựu về Việt Nam, nhưng khi ấy, bà cho rằng tất cả đều đã hoàn toàn thất lạc và các bảo tàng khắp Việt Nam không có lấy một bức tranh nào của nữ họa sĩ.[95][150]

Năm 1990, Thụy Khuê đảm nhận phụ trách chương trình Văn học Nghệ thuật của Đài phát thanh quốc tế Pháp (RFI).[151] Trong nỗ lực nhằm đưa tác phẩm của những họa sĩ nổi tiếng người Việt tại Pháp hồi hương, Thụy Khuê đã thực hiện một số buổi phỏng vấn với các họa sĩ trên RFI, trong đó có Ngô Thế Tân và vợ chồng Lê Phổ. Ngày 9 tháng 6 năm 1991, nhân kỷ niệm ba năm ngày mất họa sĩ Lê Thị Lựu, Thụy Khuê đăng cuộc phỏng vấn với ông Ngô Thế Tân về cuộc đời vợ mình và về ba người bạn thân Mai Trung Thứ, Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, cho chương trình.[152] Tại buổi trò chuyện, ông Tân úp mở ý định đưa tranh của Lê Thị Lựu về nước, nhưng chỉ khi "nước ta dân chủ hóa và bảo tàng có ý yêu cầu thì ngày đó sẽ tính sau". Lý do cho việc này theo ông là vì tác phẩm do Lê Thị Lựu vẽ năm 1975 Phụ nữ gặt lúa từng được tặng cho Hội Mỹ thuật Việt Nam cùng năm, trong chuyến thăm của bà về quê nhà, nhưng sau một thời gian thì mất tích.[q][101][151] Tuy vậy, chỉ ba năm sau, vào ngày 8 tháng 5 năm 1994,[153] ông Ngô Thế Tân đã trao cho vợ chồng Thụy Khuê bộ sưu tập gồm 18 bức tranh cùng hai bản sao chụp tác phẩm, và dặn Thụy Khuê rằng chỉ đưa những tranh này về khi có sự bảo đảm rằng chúng sẽ không biến mất, hoặc bị sao chép hay bán ra nước ngoài.[151] Bên cạnh bộ sưu tập trên, vợ chồng Thụy Khuê còn có một bộ sưu tập riêng khác gồm 9 họa phẩm, trong đó 8 bức là Lê Thị Lựu vẽ còn bức còn lại của ông Tân; các bức tranh trong cả hai bộ sưu tập đều được sáng tác giai đoạn 1940-1988.[153] Thụy Khuê cũng ngỏ lời thuyết phục họa sĩ Lê Phổ trong bài phỏng vấn vào năm 1993 và được ông cho biết rằng sau khi họa sĩ mất thì sẽ nhờ người nhà "biếu", "tặng" khoảng 20 đến 30 tác phẩm cho một bảo tàng ở Hà Nội.[154] Sau đó, dù trong hai cuộc phỏng vấn phát trên đài RFI ngày 12 tháng 6 năm 1994, cả Lê Phổ và ông Ngô Thế Tân đã xác nhận lại một lần nữa về ý định tặng tranh của Lê Phổ, Lê Thị Lựu và Vũ Cao Đàm[r] cho các bảo tàng tại Việt Nam,[154] tuy nhiên đến lúc này vẫn chưa có hồi đáp từ phía Bộ Văn hóa Việt Nam.[s][t][154]

Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, nơi lưu giữ những tác phẩm của Lê Thị Lựu hiện nay

Vào năm 2013, nhà sưu tập Nguyễn Bá Lân đã tổ chức triển lãm tranh Về nguồn, trưng bày tác phẩm của Lê Thị Lựu và nhiều họa sĩ khác tới công chúng Việt Nam tại Bảo tàng Đà Nẵng.[156] Đến năm 2015, nhà sưu tầm tranh Nguyễn Minh tổ chức một buổi triển lãm ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam mang tên Hội họa Việt Nam – Một diện mạo khác, có tranh của Lê Thị Lựu; đây là những họa phẩm được ông mua lại từ các nhà đấu giá nước ngoài.[157][158] 24 năm sau cuộc phỏng vấn với Lê Phổ và Ngô Thế Tân năm 1994,[3] trong một chuyến về Việt Nam tháng 11 và tháng 12 năm 2017,[95][147] nhận thấy tình hình xã hội đã thay đổi, cùng với đó là vấn đề về bảo quản di tích lịch sử và mỹ thuật có bước tiến triển lớn, vợ chồng Thụy Khuê và Lê Tất Luyện quyết định trao tặng Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh hai bộ sưu tập tranh vẽ của Lê Thị Lựu,[147] gồm bộ sưu tập của Ngô Thế Tân và của Thụy Khuê – Lê Tất Luyện, lần lượt vào hai đợt: tháng 6 năm 2018 (bộ sưu tập của Ngô Thế Tân, trao tặng nhân dịp 30 năm ngày mất Lê Thị Lựu[147]) và tháng 10 năm 2018 (bộ sưu tập của vợ chồng Thụy Khuê).[99][159] Tất cả 29 bức tranh,[7] cùng các bài thơ, bút tích, hình ảnh Lê Thị Lựu và tài liệu về cuộc đời bà với những người bạn họa sĩ, sau đó đã được trưng bày trong triển lãm Lê Thị Lựu – Ấn tượng hoàng hôn, tổ chức tại Bảo tàng Mỹ thuật nhân ngày Di sản văn hóa Việt Nam (23 tháng 11).[3][88][153] Cũng dịp này, Thụy Khuê cho ấn hành cuốn sách lấy từ tiêu đề bài viết năm 1988 của bà, tập hợp lại những buổi phỏng vấn, bài viết về Lê Thị Lựu và các học sinh cùng trường; tranh, ảnh, thơ mà chính nữ họa sĩ cùng chồng là ông Ngô Thế Tân cung cấp, thay vì viết lại số thông tin trong những tư liệu về Lê Thị Lựu, để tránh tình trạng sai lệch và mâu thuẫn giữa các nguồn.[147][160]

Triển lãm diễn ra trong vòng một tháng và sau đó các bức tranh sẽ được tiếp tục trưng bày ở một khu vực riêng từ 4-5 năm. Ông Trịnh Xuân Yên, phó giám đốc của Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố, cho biết các họa phẩm khi được trao đều ở tình trạng bảo quản rất tốt.[3][161] Thế nhưng, những tác phẩm này tính đến thời điểm diễn ra triển lãm vẫn chưa được mua bảo hiểm để tránh trường hợp như tranh sẽ bị sao chép, đánh cắp, v.v..[88]

Tháng 7 năm 2022, hãng bán đấu giá Sotheby's đã tổ chức một buổi triển lãm tranh phi thương mại đầu tiên của mình tại Việt Nam,[162] mang tên Hồn xưa bến lạ, diễn ra từ ngày 11 tháng 7 đến 14 tháng 7 tại khách sạn Park Hyatt Saigon, theo đó trưng bày 56 bức tranh vẽ của bộ tứ Phổ – Thứ – Lựu – Đàm, được xem là một trong những triển lãm tranh Đông Dương lớn nhất tại Việt Nam cả về giá trị lẫn số lượng.[163][164]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Từ năm 1964, nhà phê bình văn học Thụy Khuê đã gặp mặt Lê Thị Lựu lần đầu khi nữ họa sĩ 53 tuổi,[1][2] lúc bà về ra mắt gia đình chồng Lê Tất Luyện. Ngoài là bạn lâu năm của nhau,[3] giữa hai người còn có mối liên hệ về mặt gia đình khi chồng Lê Thị Lựu, kỹ sư Ngô Thế Tân, là em ruột ông ngoại (Ngô Thế Loan) của chồng Thụy Khuê.[2][4]
  2. ^ Theo Lê Phổ, họa sĩ Nguyễn Gia Trí đã đỗ và học khóa III cùng Lê Thị Lựu, tuy nhiên theo sách Trường Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội 1925 – 1990 xuất bản vào năm 1990, Nguyễn Gia Trí học khóa IV (1928–1933) rồi bỏ dở, sau đó mới trở lại học khóa VII (1931–1936).[16]
  3. ^ Trong danh sách các sinh viên tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, in ở cuốn Trường Đại Học Mỹ Thuật Hà Nội 1925 – 1990, Lê Thị Lựu được xếp tốt nghiệp hạng 6, hạng chót. Tuy vậy, xếp hạng này bị cả Thụy Khuê và ông Ngô Thế Tân phản đối. Để chứng minh việc nữ họa sĩ tốt nghiệp thủ khoa, ông Tân đã dẫn ra hình một bức tranh biếm họa do Lê Thị Lựu vẽ (xem bên dưới), đi kèm với đó là thông tin về con đường học vấn của bà, rằng Lê Thị Lựu đã đỗ thủ khoa trường.[16][26]
  4. ^ Bức chân dung được Phủ Toàn quyền mua, còn bức Thiếu nhi trong vườn chuối thì được một trong hai con trai của Henri de Laborde de Monpezat, một khuôn mặt lừng danh dưới thời chính quyền thuộc địa, mua.[8][30]
  5. ^ Ngoài bài báo này, Thạch Lam cũng có nhiều bài viết đề cập đến Lê Thị Lựu. Ngày 2 tháng 6 năm 1933, dưới bút hiệu Việt Sinh, ông đã đăng trên tờ Phong Hóa số 49 lời tiếc: "Lần này các bạn gái đều lấy làm lạ rằng không có tranh của cô Lê Thị Lựu. Thật là một sự đáng tiếc. Nghe đâu cô còn đang bận vẽ một bức tĩnh vật (nature morte) ở trong có nhiều hoa quả".[36][37] Trong buổi triển lãm tranh năm 1935, lúc này Lê Thị Lựu đã lấy chồng và đang sửa soạn đồ đạc để vào Nam, Thạch Lam viết trên tờ Ngày Nay số 3 ngày 20 tháng 2 năm 1935, rằng: "Chúng ta chỉ tiếc nhà nữ họa sĩ Lê Thị Lựu vắng tên trong phòng triển lãm, reo một sự thất vọng trong lòng mong ước của các bạn nữ lưu tân thời".[35][38] Rồi sang tờ Ngày Nay số 4, ra ngày 1 tháng 3 năm 1935 thì ông cho in hình Nắng xuân trên cỏ (xem hình), có mặt của Lê Thị Lựu cùng hai người bạn. Đến năm 1936, Thạch Lam đã viết một bài nữa, tiêu đề "Việc xảy ra chỉ tại chỗ cô giáo Lựu" để tường thuật lại việc bà bị một học trò nói hỗn và sau đó đi đến mức các học sinh bãi khóa để phản kháng.[15][39]
  6. ^ Trong số học trò của Lê Thị Lựu, có nhiều người là văn nhân và thi sĩ;[34][51][52] gồm cả họa sĩ Phan Kế An.[51] Ngày bà đáp tàu rời đi, có hai học trò của bà là nhà thơ Đinh HùngHuyền Kiêu đã cùng nhau viết bài thơ tựa "Kính tặng chị Lựu" để tiễn biệt cô giáo.[15]
  7. ^ Có nguồn ghi bà làm thủ quỹ Hội Văn hóa Liên hiệp Pháp cho đến sau khi Hiệp định Genéva được ký kết.[34][56][21]
  8. ^ Ngô Thế Tân đã trở lại Pháp hai năm sau đó vào 1958 do mắc bệnh lao.[64]
  9. ^ Sau này được Thụy Khuê đặt tên là Dông tố.[85][94]
  10. ^ Bà có vẽ hai bức bằng chất liệu này: Cô Vân, được vẽ vào ngày 26 tháng 11 năm 1933, lấy mẫu là con gái Nguyễn Văn VĩnhCô An, lấy mẫu từ mẹ của nữ điêu khắc Anh Trần.[98]
  11. ^ Lúc đó thường chỉ dùng khi cần ký họa.[101]
  12. ^ Theo Thụy Khuê, hai bức chân dung này là những khuôn mặt mà Lê Thị Lựu vô tình bắt gặp trong khi đang đi nghỉ hè,[112] nhưng theo nhà sưu tầm tranh Nguyễn Minh thì đây là chân dung vợ chồng người chủ nhà của Lựu bên Pháp.[113]
  13. ^ Ngoài các bức chân dung, sau khi cha mất, Lê Thị Lựu cũng viết một bài thơ không đề để tiễn biệt cha, sau này được Thụy Khuê đặt tên là Khóc cha.[116]
  14. ^ Vào khoảng 1960, Lê Thị Lựu có vẽ một bức phong cảnh bằng lụa có tên Paysage de Provence (tạm dịch: Phong cảnh Provence).[118]
  15. ^ Theo tục lệ xưa, nếu một đứa trẻ bị ốm đau trường kỳ, được cho là do đầu thai chưa đúng cửa hay chưa đủ giờ, thì phải đem nhờ người khác nuôi hộ một thời gian. Thông thường, những đứa trẻ này mang cho bên đạo Gia Tô vì họ hàng người thân từ chối làm việc này.[5]
  16. ^ Tháng 7 năm 1988, một tháng sau khi Lê Thị Lựu qua đời, Thụy Khuê đã viết một bài tóm tắt về sự nghiệp sáng tác của nữ danh họa mang tên "Lê Thị Lựu, ấn tượng hoàng hôn",[148] lần đầu in trong tập tiểu luận phê bình Sóng từ trường xuất bản năm 1998[149] và đến tháng 2 năm 2018 thì bổ sung thêm thông tin, đưa vào cuốn Lê Thị Lựu – Ấn tượng hoàng hôn.[132] Năm 1994, thời điểm nhà Thụy Khuê được Ngô Thế Tân nhờ giữ các bức tranh của Lê Thị Lựu, bà tiếp tục đốc thúc ông chắp bút viết nên một bài chi tiết về toàn bộ cuộc đời vợ mình, và đến 1995 thì hoàn thành, được Thụy Khuê đặt tên là "Cuộc đời Lê Thị Lựu". Ngoài văn bản này, ông Tân cũng trao cho vợ chồng Tất Luyện tất cả phong bì lưu trữ thư từ, sổ tay, thủ bút và các bản ghi chép từ trước đến nay của họa sĩ, hai năm trước khi ông mất ngày 25 tháng 2 năm 1997 tại Peymeinade, Pháp.[147]
  17. ^ Trên thực tế, ông Ngô Thế Tân có từng hỏi nhà nghiên cứu Quang Việt về vị trí của bức tranh. Quang Việt sau đó đã liên lạc với giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam để tìm lại trong kho lưu trữ tác phẩm trên, nhưng chỉ tìm thấy một bức đang được bảo quản dưới điều kiện tốt, có tên là Sơn nữ, đặt ra câu hỏi liệu bức Phụ nữ gặt lúa có phải là Sơn nữ. Bức tranh này cũng được cho là giống với họa phẩm có tên tương tự trong bộ sưu tập của vợ chồng bà Thụy Khuê, nhưng chỉ khác nhau phần cổ áo của cô gái và màu sắc hậu cảnh phía sau.[28]
    Theo suy luận của tác giả Quang Việt, rất có thể trong thời gian về thăm quê nhà, do quỹ thời gian eo hẹp nên thay vì vẽ tặng một bức tranh thì bà đã tặng một bức khác thay thế, tức là bức Sơn nữ hiện nay. Tính đến năm 2019, sau bài viết mới nhất xoay quanh câu chuyện trên, vấn đề này vẫn chưa được làm sáng tỏ.[131]
  18. ^ Ông Ngô Thế Tân có một số bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm do ông sở hữu, trao cho con trai là Ngô Mạnh Đức quản lý.[154]
  19. ^ Lê Phổ cho biết em trai út của ông, Lê Tuân, là bạn của Phạm Văn Đồng và còn sinh sống tại Hà Nội, đã từng gửi thư tới họa sĩ về vấn đề này, nhưng Lê Phổ lại từ chối vì cho rằng "đây không phải là việc gia đình".[155]
  20. ^ Về họa sĩ Lê Phổ, đến năm 2018, thời điểm xuất bản cuốn sách Lê Thị Lựu, Ấn tượng hoàng hôn, các bức tranh của ông vẫn chưa được gia đình trao tặng.[147]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 6.
  2. ^ a b Thụy Khuê 2018, tr. 28.
  3. ^ a b c d Mai Thụy (27 tháng 11 năm 2018). “Đón 26 tác phẩm của họa sĩ Lê Thị Lựu tại triển lãm Ấn tượng hoàng hôn”. Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  4. ^ “Đời thứ 12: Ngô Thế Loan”. ngotoc.vn. Hội đồng Ngô tộc Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  5. ^ a b c d e f g h i j k l Thụy Khuê 2018, tr. 12.
  6. ^ a b c d e f g h i j k l “Trưng bày các tác phẩm của họa sĩ Lê Thị Lựu do ông Lê Tất Luyện và bà Thụy Khuê hiến tặng”. Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  7. ^ a b c d e H.H (tháng 11 năm 2018). “Cuộc "trở về" của tài nữ hội họa Việt và những trăn trở…”. ape.gov.vn. Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  8. ^ a b c d e f g h Christie's Singapore 1999, tr. 124.
  9. ^ a b c d Thụy Khuê 2018, tr. 70.
  10. ^ a b c d e f Thụy Khuê 2018, tr. 157.
  11. ^ Phan Cẩm Thượng 2015, tr. 361.
  12. ^ a b c Thụy Khuê 2018, tr. 13.
  13. ^ a b c d e f g h i Mộng Trung (6 tháng 12 năm 1962). “Mộng Trung phỏng vấn Lê Thị Lựu”. Mai. 35.
  14. ^ a b c d Quang Việt 2008, tr. 156.
  15. ^ a b c Thụy Khuê 2018, tr. 31.
  16. ^ a b Thụy Khuê 2018, tr. 115.
  17. ^ a b c “Lê Thi Luu (1911-1988) Ecole des Beaux-Arts... - Lot 401”. Lynda Trouvé (bằng tiếng Pháp). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  18. ^ a b “Le Thi Luu (1911-1988), Mère et enfant | 黎氏秋 (1911-1988), 母與子”. Sotheby's (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  19. ^ a b c Bích Vân (26 tháng 10 năm 1933). “Cô Lê-thị-Lựu”. Phụ nữ tân văn (222). tr. 12. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  20. ^ a b c Aguttes-Reynier, Charlotte. “Lê Thi Luu”. Aguttes (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  21. ^ a b c d e f g h i j k l m n o Dương Đức (12 tháng 4 năm 2011). “Họa sĩ Lê Thị Lựu: Vượt trên những kỷ lục...”. Công an nhân dân. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  22. ^ Hữu Ngọc, Lady Borton 2004, tr. 46.
  23. ^ a b c d e f g Thụy Khuê (20 tháng 12 năm 2021). “Bộ tứ Đông Dương bên trời Âu (kỳ 4): Họa sỹ Lê Thị Lựu”. L'Officiel Việt Nam. Art Republik Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  24. ^ “Les premiers pas (The first steps)”. Christie's (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  25. ^ a b Lê Tiến Long (5 tháng 2 năm 2019). “Nữ họa sĩ Việt đầu tiên tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương”. Zing News. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  26. ^ a b Thụy Khuê 2018, tr. 13, 14.
  27. ^ Phương Lan 1984, tr. 270.
  28. ^ a b c d e f CODET Hanoi (6 tháng 5 năm 2020). “Họa sỹ Lê Thị Lựu, tranh viễn xứ tìm về quê hương”. Phụ nữ Mới. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  29. ^ a b c Minh An (18 tháng 11 năm 2018). “Di sản mỹ thuật của Lê Thị Lựu trở về cố hương”. Sài Gòn Giải Phóng. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  30. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 20, 22.
  31. ^ Schultz, Yvonne (tháng 11–12 năm 1929). “Une nouvelle école de peinture et de sculture: "L'École annamite"” [Một trường phái hội họa và điêu khắc mới, trường phái An Nam]. L'Avenir du Tonkin (bằng tiếng Pháp).Quản lý CS1: định dạng ngày tháng (liên kết) Nguồn cho phần trích dẫn cụ thể, xem (Thụy Khuê 2018, tr. 29).
  32. ^ Hữu Ngọc, Lady Borton 2004, tr. 52.
  33. ^ a b Đại sứ quán Việt Nam 1971, tr. 16.
  34. ^ a b c d e f “Nữ hoạ sĩ đầu tiên của Việt Nam”. Thông tin Phụ nữ. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. 2005.
  35. ^ a b c d Thụy Khuê 2018, tr. 30.
  36. ^ a b c d e f Thụy Khuê. “Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng; 17 – Trường Mỹ Thuật Đông Dương. Phần I: Những thành quả”. Chim Việt Cành Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  37. ^ Việt Sinh (2 tháng 6 năm 1933). “Bức tranh Vân Cẩu”. Phong Hóa (49). tr. 9. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  38. ^ “Phòng Triển-lãm 1935”. Ngày Nay (3). 20 tháng 2 năm 1935. tr. 4. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  39. ^ “Việc xảy ra chỉ tại chỗ cô giáo Lựu”. Hà Thành ngọ báo (2576). 12 tháng 4 năm 1936. tr. 1, 6. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  40. ^ “Trường Mỹ thuật Đông-Pháp”. Phong Hóa (18). 20 tháng 10 năm 1932. tr. 5. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  41. ^ a b c d e Thụy Khuê 2018, tr. 14.
  42. ^ “Bò Rừng đã về núi, nỗi buồn còn đọng lại”. Người Việt. 10 tháng 12 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  43. ^ a b c d e f “Tiểu sử Lê Thị Lựu”. Chim Việt Cành Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  44. ^ a b Minh Lê 1995, tr. 281.
  45. ^ a b c Han Lam (23 tháng 3 năm 2022). “Lê Thị Lựu, nữ họa sỹ đầu tiên của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam”. Harper's Bazaar Vietnam. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  46. ^ a b c d Thụy Khuê 2018, tr. 158.
  47. ^ Phan Kế Hoành 1978, tr. 60.
  48. ^ a b c d e f Phan Cẩm Thượng 2015, tr. 342.
  49. ^ a b c d e f g h i Hữu Ngọc, Lady Borton 2004, tr. 48.
  50. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 15.
  51. ^ a b Lý Trực Dũng 2010, tr. 46.
  52. ^ Nhiều tác giả 1998, tr. 89.
  53. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 14, 15.
  54. ^ a b c Thụy Khuê 2018, tr. 16.
  55. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 45.
  56. ^ a b “Lê Thị Lựu - nữ họa sĩ đầu tiên của Việt Nam "trở về" sau 30 năm”. Báo điện tử VOV. 7 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  57. ^ a b Thụy Khuê 2018, tr. 17, 18.
  58. ^ a b Thụy Khuê 2018, tr. 17.
  59. ^ a b c d e Thụy Khuê 2018, tr. 159.
  60. ^ Liên Châu (19 tháng 9 năm 2013). "Gia đình lớn" của người Việt ở Pháp”. Thế giới và Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  61. ^ “Phòng triển lãm hội họa còn mở cửa đến hết ngày 10-9-1946”. Kiến quốc (67). 30 tháng 8 năm 1946. tr. 2. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  62. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 16, 17.
  63. ^ a b Thụy Khuê 2018, tr. 18.
  64. ^ a b Thụy Khuê. “Những lá thư của họa sĩ Mai Thứ”. Chim Việt Cành Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  65. ^ Phan Cẩm Thượng 2015, tr. 342, 343.
  66. ^ a b c d Thụy Khuê 2018, tr. 20.
  67. ^ a b PV (8 tháng 7 năm 2022). “Nữ họa sĩ đầu tiên của hội họa hiện đại Việt Nam”. Báo điện tử VTV. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  68. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 71.
  69. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 67, 68.
  70. ^ a b Lê Thanh Trừ (1 tháng 6 năm 2009). “Tranh lụa một thời”. Hồn Việt. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  71. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 50.
  72. ^ Trần Hòa (3 tháng 7 năm 2022). “Nhà đấu giá Sotheby's lần đầu mở triển lãm tại Việt Nam”. Giáo dục Thủ đô. Giáo dục & Thời đại. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  73. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 54.
  74. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 68.
  75. ^ a b Hiểu Nhân (22 tháng 4 năm 2022). “Tranh của Lê Thị Lựu bán giá hơn 500.000 USD”. VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  76. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 60.
  77. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 59.
  78. ^ a b Thụy Khuê 2018, tr. 58.
  79. ^ a b c d e f g h i j Nguyễn Hồng Ly (tháng 2 năm 2022). “Chân dung "tứ kiệt" trời Âu” (PDF). Người dẫn đầu. 2: 51–54. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  80. ^ Quang Việt 1993, tr. 6, 7.
  81. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 40, 41, 42.
  82. ^ Hữu Ngọc, Lady Borter 2004, tr. 48.
  83. ^ a b c Hữu Ngọc, Lady Borton 2004, tr. 50.
  84. ^ a b Thụy Khuê 2018, tr. 49.
  85. ^ a b c d e f g h Thụy Khuê 2018, tr. 26.
  86. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 75.
  87. ^ a b c d Phan Cẩm Thượng 2015, tr. 343.
  88. ^ a b c d e Hoài Hương (1 tháng 12 năm 2018). “Sự "trở về" của tài nữ mỹ thuật Đông Dương...”. Sức khỏe và Đời sống. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  89. ^ a b c d “LE THI LUU (1911-1988)”. La Gazette Drouot (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  90. ^ a b Thụy Khuê 2018, tr. 35.
  91. ^ a b Thụy Khuê 2018, tr. 33.
  92. ^ Thụy Khuê (14 tháng 6 năm 2021). “Bộ tứ Đông Dương bên trời Âu (Kỳ 2): Họa sỹ Lê Phổ”. L'Officiel Vietnam. LUXUO. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  93. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 25.
  94. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 62.
  95. ^ a b c Đăng Hoàng (7 tháng 12 năm 2018). “Tranh Lê Thị Lựu - "ánh sáng Pháp, hồn dạ Việt" - và hành trình về nước”. Văn nghệ Quân đội. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  96. ^ F.A.M (21 tháng 6 năm 2019). “Lê Thị Lựu (1911 – 1988)”. Tạp chí Mỹ thuật. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  97. ^ a b Thụy Khuê 2018, tr. 78.
  98. ^ a b Thụy Khuê 2018, tr. 22.
  99. ^ a b Văn Bảy (28 tháng 11 năm 2015). “Thấy gì từ bộ tranh Lê Thị Lựu được hiến tặng?”. Thể thao & Văn hóa. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  100. ^ Mai Thụy (23 tháng 9 năm 2019). 'Thời kỳ tranh giả, tranh rởm Việt Nam bùng nổ'?”. Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  101. ^ a b c d e f g Thụy Khuê 2018, tr. 24.
  102. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 77.
  103. ^ “Scène de village vietnamien au crépuscule”. Artnet (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  104. ^ a b Văn Bảy (1 tháng 4 năm 2018). “Kỳ nữ Lê Thị Lựu tạo bất ngờ về giá bán tại Sotheby's Hong Kong”. Thể thao & Văn hóa. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  105. ^ Nguyễn Phương (23 tháng 4 năm 2022). “Tác phẩm "Mẹ và con" của Lê Thị Lựu được mua với giá hơn 13 tỷ đồng”. Báo Văn nghệ. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  106. ^ “(#274) Le Thi Luu”. Sotheby's (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  107. ^ “(#275) Le Thi Luu”. Sotheby's (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  108. ^ “Girl in a Landscape, 1963”. Artsy (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  109. ^ “Portrait de madame Gouverneur Général (Portrait of madame Governor General), 1934”. Artnet (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  110. ^ “(#592) Le Thi Luu”. Sotheby's (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  111. ^ a b Thụy Khuê 2018, tr. 40.
  112. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 41.
  113. ^ Phan Cẩm Thượng 2015, tr. 345.
  114. ^ Phan Cẩm Thượng 2015, tr. 345, 347.
  115. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 42.
  116. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 44.
  117. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 43.
  118. ^ “Paysage de Provence”. Artnet (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  119. ^ a b Thụy Khuê 2018, tr. 36.
  120. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 38.
  121. ^ Lê Tiến Long (7 tháng 3 năm 2019). “Phụ nữ Việt Nam quyến rũ như thế nào qua góc nhìn họa sĩ Đông Dương?”. Zing News. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  122. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 46.
  123. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 52, 53, 55, 56.
  124. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 57.
  125. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 61.
  126. ^ “Lượm lặt”. Công Luận báo (7460). 17 tháng 7 năm 1937. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  127. ^ Đèn-Lờ (6 tháng 8 năm 1937). “Des morts qui se portent bien” [Người chết vẫn sống khỏe]. Le Flambeau d'Annam (bằng tiếng Pháp) (20). tr. 1. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  128. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 29.
  129. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 63.
  130. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 79.
  131. ^ a b c Quang Việt (12 tháng 4 năm 2019). “Bức tranh lụa "Sơn nữ" của Lê Thị Lựu ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam”. Tạp chí Mỹ thuật. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  132. ^ a b Thụy Khuê 2018, tr. 64.
  133. ^ Thụy Khuê. “Thơ Lê Thị Lựu”. Chim Việt Cành Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  134. ^ “Nữ nghệ sĩ tạo hình Việt Nam”. daotao-vhttdl.vn. Vụ Đào tạo – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  135. ^ Văn Bảy (20 tháng 6 năm 2019). “Phổ - Thứ - Lựu - Đàm: Văn hóa Việt chinh phục thế giới”. Thể thao & Văn hóa. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  136. ^ a b Minh An (24 tháng 11 năm 2019). “Sức hút lớn của tranh Việt”. Sài Gòn Giải Phóng. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  137. ^ Tuấn Chiêu (24 tháng 11 năm 2018). “Tác phẩm của họa sĩ Lê Thị Lựu lần đầu triển lãm trong nước”. VietNamNet. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  138. ^ Dufour, Philippe (28 tháng 3 năm 2019). “Léthi Luu, une femme à l'École d'Hanoï” [Lê Thị Lựu, một nữ sinh trường Hà Nội]. La Gazette Drouot (bằng tiếng Pháp). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  139. ^ “20th Century & Contemporary Art Morning Session” [Phiên bán sáng Nghệ thuật đương đại & thế kỷ 20]. Christie's (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  140. ^ “20th Century & Contemporary Art (Morning Session)” [Nghệ thuật đương đại & thế kỷ 20 (phiên bán sáng)]. Christie's (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  141. ^ Xuân Vũ (23 tháng 10 năm 2021). “Những bức tranh Việt triệu đô được đấu giá trong năm 2021”. Lao Động. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  142. ^ “Le Thi Luu 樂氏琉 | Woman and Children 聖母與聖子”. Sotheby's (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  143. ^ H.Giang (26 tháng 4 năm 2022). “Tranh "Mẹ và con" của Lê Thị Lựu giá 13 tỉ đồng”. Người lao động. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  144. ^ “Photo exhibition on Vietnam in France” [Triển lãm ảnh về Việt Nam tại Pháp]. english.bvhttdl.gov.vn. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. 3 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  145. ^ “Departures : Intersecting Vietnamese Modern Art with R. Streitmatter-Tran” [Khởi hành : Giao thoa nghệ thuật Việt Nam hiện đại với R. Streitmatter-Tran]. De Sarthe Gallery (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  146. ^ Hạnh Nguyên (17 tháng 7 năm 2017). “Sự chuyển hóa của Richard Streitmatter- Tran”. Tuổi Trẻ cuối tuần. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  147. ^ a b c d e f g Thụy Khuê 2018, tr. 10.
  148. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 7.
  149. ^ Thụy Khuê. “Sóng từ trường”. Chim Việt Cành Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  150. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 7, 8.
  151. ^ a b c Thụy Khuê 2018, tr. 8.
  152. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 69.
  153. ^ a b c Thái Lộc (23 tháng 11 năm 2018). “Xem tranh tại triển lãm Lê Thị Lựu - Ấn tượng hoàng hôn”. Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  154. ^ a b c d Thụy Khuê 2018, tr. 9.
  155. ^ Thụy Khuê 2018, tr. 108.
  156. ^ T.T.S (23 tháng 11 năm 2013). “Độc đáo bộ sưu tập tác phẩm mỹ thuật Về nguồn”. Công an Thành phố Đà Nẵng. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  157. ^ Lê Thiết Cương (18 tháng 10 năm 2015). “Một diện mạo khác của hội họa”. Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  158. ^ Thư Hoàng (31 tháng 7 năm 2016). “Nhọc nhằn những cuộc hồi hương”. Đại Đoàn Kết. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  159. ^ Thùy Trang (12 tháng 11 năm 2018). “Sự hồi hương của bộ sưu tập tranh quý hiếm”. Báo Văn hóa. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  160. ^ “Lê Thị Lựu – Ấn tượng hoàng hôn”. nxbhcm.com.vn. Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  161. ^ Thanh Xuân (26 tháng 11 năm 2018). “Ngắm 26 bức tranh đắt giá, trở về cố hương của nữ danh họa Lê Thị Lựu”. An ninh Thủ đô. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  162. ^ Lan Khanh (20 tháng 7 năm 2022). “Từ triển lãm Hồn xưa bến lạ đến tương lai của nghệ thuật Việt Nam”. Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  163. ^ Mai Thụy (7 tháng 7 năm 2022). “Phổ - Thứ - Lựu - Đàm 'tề tựu' trong cuộc triển lãm tranh Đông Dương lớn”. Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.
  164. ^ Tuấn Chiêu (12 tháng 7 năm 2022). “Lần đầu triển lãm tranh triệu đô của 'Bộ tứ Đông Dương' tại Việt Nam”. VietNamNet. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2022.

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]