Angkor Wat

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Angkor Wat
អង្គរវត្ត
Front side of main complex
Tên
Tên khác Nokor Wat (tiếng Khmer: នគរវត្ត)
Tên chính xác Prasat Angkor Wat
Vị trí địa lý
Tọa độ 13°24′45″B 103°52′0″Đ / 13,4125°B 103,86667°Đ / 13.41250; 103.86667Tọa độ: 13°24′45″B 103°52′0″Đ / 13,4125°B 103,86667°Đ / 13.41250; 103.86667
Quốc gia Campuchia
Vị trí Angkor, Xiêm Riệp, Campuchia
Kiến trúc
Kiểu dáng kiến trúc Khmer
Lịch sử và sự quản lý
Ngày xây dựng thế kỷ thứ 12
Người xây dựng bắt đầu bởi Suryavarman II hoàn thành bởi Jayavarman VII
Tên chính thức: Angkor
Loại: Văn hóa
Tiêu chuẩn: i, ii, iii, iv
Công nhận: 1992 (khóa họp thứ 16)
# tham chiếu: 668
Khu vực: Châu Á và Thái Bình Dương

Angkor Wat (tiếng Khmer: អង្គរវត្ត) là một quần thể đền đài tại Campuchia và là di tích tôn giáo lớn nhất thế giới. Ban đầu nó được xây dựng như một đền thờ Ấn Độ giáo dành của Đế quốc Khmer, và dần dần chuyển thành đền thờ Phật giáo vào cuối thế kỷ 12.[1] Vua Khmer Suryavarman II xây dựng Angkor Wat vào đầu thế kỷ 12 tại Yaśodharapura (tiếng Khmer: យសោធរបុរៈ, Angkor ngày nay), thủ đô của Đế quốc Khmer như là đền thờ và lăng mộ của ông. Khác với truyền thống theo theo đạo Shaiva (thờ thần Shiva) của các vị vua tiền nhiệm, Angkor Wat thờ thần Vishnu. Được bảo tồn tốt nhất trong khu vực, Angkor Wat là ngôi đền duy nhất vẫn giữ được vị trí trung tâm tôn giáo. Ngôi đền là đỉnh cao của phong cách kiến trúc Khmer. Nó đã trở thành biểu tượng của đất nước Campuchia,[2] xuất hiện trên quốc kỳ và là điểm thu hút du khách hàng đầu đất nước.

Angkor Wat là sự kết hợp của hai nét cơ bản của kiến trúc Khmer: kiến trúc đền-núi cùng với những dãy hành lang dài và nhỏ hẹp. Kiến trúc này tượng trưng cho Núi Meru, quê hương của các vị thần trong truyền thuyết Ấn Độ giáo: nằm giữa một con hào và lớp tường bao dài 3.6km (2.2 dặm) là khu chính điện ba tầng với kiến trúc hình chữ nhật, kết nối với nhau bởi những dãy hành lang sâu thẳm. Trung tâm của ngôi đền là tổ hợp 5 tháp với một tháp trung tâm và bốn tháp tại bốn góc hình vuông. Không giống những ngôi đền theo phong cách Angkor khác, Angkor quay mặt về phía Tây và vẫn chưa có cách giải thích thống nhất về ý nghĩa của điều này. Ngôi đền được ngưỡng mộ bởi vẻ hùng vĩ và hài hòa của kiến trúc, sự phong phú của nghệ thuật điêu khắc và số lượng lớn các vị thần được trang hoàng trên những bức tường đá.

Tên hiện đại của ngôi đền, Angkor Wat, nghĩa là "Thành phố Đền" hay "Thành phố của những ngôi Đền" trong tiếng Khmer; Angkor, nghĩa là "thành phố" hay "thủ đô", là từ nokor (នគរ), được bắt nguồn từ từ tiếng Phạn nagara (नगर), trong tiếng bản xứ.[3] Wat nghĩa là "sân đền" trong tiếng Khmer (tiếng Phạn: वाट "khoảng đất").[4]


Wikipedia Khmae.PNG
Bài viết này có chứa các ký tự Khmer. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các chữ Khmer.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Suryavarman II, người bắt đầu xây dựng Angkor Wat

Angkor Wat nằm cách thị trấn Xiêm Riệp 5.5 km (3.4 dặm) về phía bắc và chếch về phía đông nam của kinh đô cũ, với trung tâm là đền Baphuon. Đây là một khu vực có nhiều kiến trúc cổ quan trọng và là cực nam của cụm di tích chính Angkor.

Truyền thuyết kể rằng Angkor Wat được xây dựng theo lệnh của Indra để làm cung điện cho con trai Precha Ket Mealea.[5] Theo nhà ngoại giao Chu Đạt Quan (thế kỷ 13), một số người tin rằng ngôi đền được xây dựng chỉ trong một đêm bởi một kiến trúc sư nhà Trời.[6]

Việc thiết kế và xây dựng được tiến hành vào nửa đầu thế kỷ 12 dưới thời vua Suryavarman II (trị vì từ năm 1113 - 1150). Thờ thần Vishnu, ngôi đền được coi như thủ đô và đền thờ của nhà vua. Do không tìm thấy tấm bia nền móng cũng như bất kỳ bản khắc nào nhắc đến ngôi đền vào thời đó, tên ban đầu của nó vẫn là một dấu hỏi, nhưng nó có thể đã được gọi là "Varah Vishnu-lok", theo tên của vị thần được thờ. Công việc có vẻ như đã kết thúc sau khi nhà vua băng hà không lâu, dựa vào một số bức điêu khắc vẫn còn dang dở.[7] Năm 1177, 27 năm sau cái chết của Suryavarman II, Angkor bị tàn phá bởi người Chăm Pa, kẻ thù truyền kiếp của người Khmer.[8] Sau đó vua Jayavarman VII đã phục hưng đế quốc và thành lập một thủ đô và đền thờ mới (Angkor ThomBayon) cách Angkor Wat vài kilo mét về phía bắc.

Đến cuối thế kỷ 12, Angkor Wat từ một trung tâm tín ngưỡng Ấn Độ giáo dần chuyển sang Phật giáo và tiếp tục cho đến ngày nay.[1] Không giống nhiều ngôi đền Angkor khác, tuy Angkor Wat một phần bị quên lãng từ sau thế kỷ 16, nó không bao giờ hoàn toàn bị bỏ hoang, một phần nhờ con hào bao xung quanh đã bảo vệ ngôi đền khỏi sự lâm xấn của rừng rậm.[9]

Một trong những người châu Âu đầu tiên đặt chân đến Angkor là António da Madalena, một nhà sư người Bồ Đào Nha đến đây vào năm 1586 và nói rằng "nó là một kiến trúc phi thường mà không giấy bút nào tả xiết, đặc biệt là bởi nó không giống bất kỳ công trình nào khác trên thế giới. Nó có những tòa tháp, lối trang trí và tất cả sự tinh xảo mà con người có thể tưởng tượng nổi."[10] Giữa thế kỷ 19, nhà tự nhiên học và thám hiểm người Pháp Henri Mouhot đã đến đây và giúp phương Tây biết đến Angkor Wat nhiều hơn bằng các ghi chép của mình. Trong đó ông viết:

"Một trong những ngôi đền đó-một đối thủ của đền Solomon, và được dựng lên bởi một số Michelangelo thời cổ đại-có thể có một chỗ đứng trang trọng bên cạnh những công trình đẹp nhất của chúng ta. Nó vĩ đại hơn tất cả những gì người Hy Lạp hay La Mã để lại cho chúng ta, và thể hiện một sự tương phản đáng buồn cho tình trạng man rợ mà đất nước đang dính vào."[11]

Mouhot, cũng giống như những người phương Tây khác, khó tin rằng người Khmer có thể xây dựng được ngôi đền và đã ngỡ rằng nó được xây dựng cùng thời với thành Rome. Lịch sử thực sự của Angkor Wat chỉ được ráp nối lại với nhau bởi các bằng chứng nghệ thuật và bút tích được thu thập trong quá trình dọn dẹp và phục dựng trên cả khu vực Angkor. Không có nhà ở hoặc dấu vết gì của việc định cư như đồ dùng nấu ăn, vũ khí hoặc trang phục thường thấy tại các địa điểm cổ đại. Thay vào đó là các bằng chứng của một di tích lịch sử. [12]

Mặt trước của Angkor Wat, một bức vẽ của Henri Mouhot
Angkor Wat năm 1870, chụp bởi Émile Gsell
Bưu thiếp của Pháp về Angkor Wat năm 1911

Cần nhiều công sức để phục dựng Angkor Wat vào thế kỷ 20, phần lớn là để loại bỏ đất đá và cây cối bị tích tụ.[13] Công việc này bị gián đoạn bởi nội chiến và thời kỳ Khmer Đỏ kiểm soát đất nước trong những năm 1970 và 1980, nhưng ngoài nạn trộm cắp và sự xuống cấp của những bực tượng hậu Angkor, không có thiệt hại nào đáng kể được ghi nhận.[14]

Ngôi đền là một biểu tượng mạnh mẽ của Campuchia và là niềm tự hào tổ quốc to lớn đã có ảnh hưởng đến mối quan hệ ngoại giao của Campuchia với Pháp, Hoa Kỳ và người láng giềng Thái Lan. Hình ảnh Angkor Wat đã xuất hiện trên quốc kỳ Campuchia ngay từ khi nó mới được ra mắt vào năm 1863.[15] Tuy nhiên, từ một góc độ lịch sử và văn hóa lớn hơn, trong quá khứ Angkor Wat không phải là một biểu tượng quốc gia độc đáo và đã xuất hiện trong quá trình hình thành nên di sản thuộc sản Pháp về văn hóa—chính trị. Ngôi đền được giới thiệu tại triển lãm thuộc địa Pháp và thế giới tại Paris và Marseilles vào giữa những năm 1889 và 1937.[16] Vẻ đẹp của Angkor Wat cũng xuất hiện trong bảo tàng thạch cao của Louis Delaporte với tên gọi bảo tàng Đông Duơng (musée Indo-chinois) từng nằm trong Cung điện Trocadéro tại Paris từ năm 1880 cho đến giữa thập niên 1920.[17]

Di sản nghệ thuật tuyệt vời của Angkor Wat và các di tích Khmer khác trong khu vực Angkor đã trực tiếp dẫn đến sự bảo hộ của Pháp đối với Campuchia như một thuộc địa vào ngày 11 tháng 8 năm 1863 và sự xâm lược Xiêm La nhằm nắm quyền kiểm soát khu di tích. Điều này nhanh chóng dẫn đến việc Campuchia đòi lại những vùng đất phía tây bắc đã nằm trong quyền kiểm soát của người Xiêm (Thái) từ năm 1351 (Manich Jumsai 2001) hay theo các nguồn khác là năm 1431.[18] Campuchia giành độc lập vào ngày 9 tháng 11 năm 1953 và sở hữu Angkor Wat từ đó đến nay. Có thể nói rằng từ thời kỳ thuộc địa cho đến khi được đề cử làm Di sản Thế giới năm 1992, ngôi đền Angkor Wat đã có một vai trò quan trọng trong việc hình thành khái niệm di sản văn hóa hiện đại cũng như sự toàn cầu hóa di sản văn hóa.[19]

Kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Hình tượng nữ thần Apsara tại đền

Khu Angkor Wat có chu vi gần 6 km và diện tích khoảng 200 ha, nơi cao nhất là đỉnh tháp của ngôi đền chính, có độ cao 65m. Angkor Wat là đền núi duy nhất ở Campuchia có lối vào chính ở hướng tây, hướng Mặt Trời lặn.

Cách bố cục này gây cảm giác ức chế cho người đi vào đền, bởi hình ảnh khu đền đồ sộ nổi bật trên ánh sáng chói lòa của Mặt Trời. Khu đền gồm 4 tầng nền, càng lên cao càng thu nhỏ lại, mô phỏng hình ảnh "núi vũ trụ Mêru" của người Ấn Độ. Vị thần linh được thờ ở đây là thần Viśnu. Khu đền chính bao gồm 398 gian phòng với nghệ thuật chạm khắc đá trên trần phòng, hành lang, các lan can... thể hiện sức mạnh phi thường và bàn tay điêu luyện của người Khmer cổ đại. Chính phủ Campuchia đã cho tiến hành phục chế, tu bổ khu di tích và ngày nay, quần thể này là địa điểm thu hút hàng trăm du khách từ khắp nơi trên thế giới.

Xung quanh ngôi đền, có hào rãnh bao bọc; bên ngoài bức tường có nhiều hồ chứa nước, sự thiết kế của ngôi đền này rất cân đối và xinh đẹp, có quy mô to lớn, khu vực nằm trong vòng tường, rộng tới 83610m².

Trung tâm của thánh điện là một tòa tháp cao 61m. Muốn đi tới đó phải qua mấy cửa, một bậc thềm cao và một sân rộng. Chung quanh tòa tháp thấp hơn, đó là dấu hiệu đặc trưng của toàn bộ kiến trúc.

Với những phù điêu phong phú, nhiều màu sắc để trang trí, hoàn toàn tương xứng với sự thiết kế cân đối và nghiêm trang. Trên những bức phù điêu đá này, đã miêu tả những cảnh tượng trong sử thi Ấn Độ. Rất nhiều thần linh nam và nữ vui vẻ nhảy múa với nhau trong tư thế trêu chọc. Qua một hành lang phù điêu nối tiếp nhau, chạy dài đến mấy trăm thước Anh, đã thể hiện nhiều nhân vật chân thật trong lịch sử của Campuchia. Hình tượng được mọi người yêu thích và thường xuất hiện trên phù điêu, chính là vị nữ thần nhảy múa của Campuchia.

Angkor Wat ngày nay[sửa | sửa mã nguồn]

Phục dựng và bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Đoạn phim ngắn của World Monuments Fund về việc phục dựng Angkor Wat

Việc phục dựng Angkor Wat bắt đầu từ khi Viện Viễn Đông Bác cổ (École Française d’Extrême-Orient - EFEO) thành lập chương trình Phục dựng Angkor (Conversation d'Angkor) vào năm 1908. Cho đến lúc đó, các hoạt động tại khu vực chủ yếu là thăm dò.[20][21] Chương trình chịu trách nhiệm về các hoạt động nghiên cứu, bảo tồn và phục dựng tại Angkor cho đến đầu những năm 1970[22] và phần lớn việc phục dựng được thực hiện vào những năm 1960.[23] Tuy nhiên, các hoạt động này đã bị dừng lại vào thời Khmer Đỏ.[24] Từ năm 1986 đến năm 1992, tổ chức Nghiên cứu Khảo cổ Ấn Độ (Archaeological Survey of India) tiến hành công việc phục dựng ngôi đền,[25] cho dù đã có những ý kiến tranh cãi về việc sử dụng hóa chất gây ảnh hưởng đến bề mặt đá.[26][27]

Năm 1992, sau lời kêu gọi giúp đỡ của Quốc vương Norodom Sihanouk, Angkor Wat được cho vào danh sách di sản thế giới bị đe dọa của UNESCO (sau đó đã được gạch tên vào năm 2004) và di sản thế giới cùng với lời kêu cứu của UNESCO đến cộng đồng quốc tế.[28][29] Năm 1994, các phân vùng đã được thiết lập để bảo vệ khu vực Angkor.[30] Cơ quan quản lý APSARA được thành lập năm 1995 nhằm bảo vệ và quản lý khu vực, và một điều luật đã được thông qua năm 1996 nhằm bảo vệ các di sản tại Campuchia.[31][32] Một số quốc gia như Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc đã tham gia vào các dự án bảo tồn Angkor Wat. Tổ chức Dự án Bảo tồn Apsara Đức đang làm công tác bảo vệ các hoa văn và họa tiết điêu khắc đá khỏi hư hại. Khảo sát của công ty cho thấy khoảng 20 phần trăm các họa tiết đang trong tình trạng tồi tệ, chủ yếu bởi sự xói mòn tự nhiên và sư xuống cấp của đá, nhưng một phần cũng do các cố gắng phục dựng trước đó.[33] Các công việc khác bao gồm sửa chữa các phần bị sụp đổ của cấu trúc, và đề phòng sự sụp đổ thêm: mặt phía tây của tầng trên đã được củng cố thêm bằng giàn giáo từ năm 2002,[34] trong khi một đội từ Nhật Bản đã hoàn thiện việc phục dựng thư viện phía bắc của khoảng đất phía ngoài năm 2005.[35] Quỹ Di tích Thế giới (World Monuments Fund) bắt đầu công việc phục dựng hành lang Churning of Sea of Milk năm 2008 sau một vài năm nghiên cứu tình trạng. Dự án khôi phục hệ thống mái truyền thống của người Khmer và loại bỏ xi măng được dùng trong các lần phục dựng trước khiến muối thấm vào sau các bức điêu khắc đá, làm phai màu và gây hư hại các bề mặt điêu khắc.

Chiếc đầu được phục dựng của một naga trên đường dẫn vào Angkor Wat. Đường dẫn được khôi phục đầu tiên bởi người Pháp vào những năm 1960.

Màng vi sinh vật sinh học đã tìm thấy đá sa thạch đang xuống cấp tại Angkor Wat, Preah Khan, và Bayon và Tây Prasat ở Angkor. Sự mất nước và vi khuẩn lam dạng sợi chống bức xạ có thể sản xuất các axit hữu cơ phân hủy đá. Một loại nấm tối dạng sợi đã được tìm thấy trong các mẫu vật trong và ngoài Preah Khan, trong khi tảo Trentepohlia chỉ được tìm thấy trong các mẫu vật lấy từ đá hồng bên ngoài Preah Khan.[36] Các bản sao cũng đã được thực hiện để thay thế một số các điêu khắc bị mất hoặc hư hỏng.[37]

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Từ những năm 1990, Angkor Wat đã trở thành một địa điểm du lịch lớn. Năm 1993, chỉ có 7,650 du khách đến đây; đến năm 2004, số liệu chính phủ đã cho thấy đã có 561,000 du khách nước ngoài đến tỉnh Xiêm Riệp, chiếm xấp xỉ 50% lượng du khách nước ngoài đến Campuchia. Đến năm 2007 con số này là trên một triệu, và trên hai triệu vào năm 2012. Phần lớn mọi người đến thăm Angkor Wat với trên 2 triệu du khách nước ngoài năm 2013. Khu di tích được quản lý bởi tập đoàn tư nhân SOKIMEX, tổ chức đã thuê lại Angkor Wat từ Chính phủ Campuchia. Các dòng khách du lịch không gây ra thiệt hại nào đáng kể, trừ một số bức graffti; các bức điêu khắc đá và bề mặt sàn được bảo vệ bởi dây thừng và mặt gỗ. Du lịch cũng mang về một nguồn thu khác cho công tác bảo trì—cho đến năm 2000, khoảng 28% nguồn thu từ bán vé tại khu vực Angkor được sử dụng cho ngôi đền—cho dù phần lớn công việc được tiến hành bởi các đội được tài trợ bởi các chính phủ nước ngoài chứ không phải các nhà chức trách Campuchia.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Ashley M. Richter (8 tháng 9 năm 2009). “Recycling Monuments: The Hinduism/Buddhism Switch at Angkor”. CyArk. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2015. 
  2. ^ “Government ::Cambodia”. CIA World Factbook. 
  3. ^ Chuon Nath Khmer Dictionary (1966, Buddhist Institute, Phnom Penh)
  4. ^ Cambodian-English Dictionary by Robert K. Headley, Kylin Chhor, Lam Kheng Lim, Lim Hak Kheang, and Chen Chun (1977, Catholic University Press)
  5. ^ J. Hackin; Clayment Huart; Raymonde Linossier; Raymonde Linossier; H. de Wilman Grabowska; Charles-Henri Marchal; Henri Maspero; Serge Eliseev (1932). Asiatic Mythology:A Detailed Description and Explanation of the Mythologies of All the Great Nations of Asia. tr. 194. 
  6. ^ daguan Zhou (2007). A Record of Cambodia: The Land and Its People. Translated by Peter Harris. Silkworm Books. 
  7. ^ “Angkor Wat, 1113–1150”. The Huntington Archive of Buddhist and Related Art. College of the Arts, The Ohio State University. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2008. 
  8. ^ Coedès, George (1968). Trong Walter F. Vella. The Indianized States of Southeast Asia. trans.Susan Brown Cowing. University of Hawaii Press. tr. 164. ISBN 978-0-8248-0368-1. 
  9. ^ Glaize, The Monuments of the Angkor Group p. 59.
  10. ^ Higham, The Civilization of Angkor pp. 1–2.
  11. ^ Quoted in Brief Presentation by Venerable Vodano Sophan Seng
  12. ^ Time Life Lost Civilizations series: Southeast Asia: A Past Regained (1995). p.67–99
  13. ^ Glaize p. 59.
  14. ^ APSARA authority, The Modern Period: The war
  15. ^ Flags of the World, Cambodian Flag History
  16. ^ Falser, Michael (2011). Krishna and the Plaster Cast. Translating the Cambodian Temple of Angkor Wat in the French Colonial Period.
  17. ^ Falser, Michael (2013). From Gaillon to Sanchi, from Vézelay to Angkor Wat. The Musée Indo-Chinois in Paris: A Transcultural Perspective on Architectural Museums..
  18. ^ Cambodge: The Cultivation of a Nation, 1860–1945 by Penny Edwards. 2007. ISBN 978-0-8248-2923-0
  19. ^ Falser, Michael: Clearing the Path towards Civilization - 150 Years of "Saving Angkor". In: Michael Falser (ed.) Cultural Heritage as Civilizing Mission. From Decay to Recovery. Springer: Heidelberg, New York, pp. 279-346.
  20. ^ “Considerations for the Conservation and Presentation of the. Historic City of Angkor”. World Monuments Fund. tr. 65. 
  21. ^ “The Siem Reap Centre, Cambodia”. EFEO. 
  22. ^ “The Modern Period: The creation of the Angkor Conservation”. APSARA Authority. 
  23. ^ Cambodia. Lonely Planet. 2010. tr. 157. ISBN 978-1741794571. 
  24. ^ Kapila D. Silva, Neel Kamal Chapagain biên tập (2013). Asian Heritage Management: Contexts, Concerns, and Prospects. Routledge. tr. 220–221. ISBN 978-0415520546. 
  25. ^ “Activities Abroad#Cambodia”. Archaeological Survey of India. 
  26. ^ Phillip Shenon (21 tháng 6 năm 1992). “Washing Buddha's Face”. New York Times. 
  27. ^ Kapila D. Silva, Neel Kamal Chapagain biên tập (2013). Asian Heritage Management: Contexts, Concerns, and Prospects. Routledge. tr. 223. ISBN 978-0415520546. 
  28. ^ Michael Falser (biên tập). Cultural Heritage as Civilizing Mission: From Decay to Recovery. Springer International. tr. 253. ISBN 9783319136387. 
  29. ^ Albert Mumma, Susan Smith. Poverty Alleviation and Environmental Law. ElgarOnline. tr. 290. ISBN 978-1781003299. 
  30. ^ “Royal Decree establishing Protected Cultural Zones”. APSARA. 
  31. ^ Yorke M. Rowan, Uzi Baram (2004). Marketing Heritage: Archaeology and the Consumption of the Past. AltaMira Press. tr. 123. ISBN 978-0759103429. 
  32. ^ Hing Thoraxy. “Achievement of "APSARA”. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2001. 
  33. ^ German Apsara Conservation Project, Conservation, Risk Map, p. 2.
  34. ^ “Infrastructures in Angkor Park”. Yashodhara no. 6: January – June 2002. APSARA Authority. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2008. 
  35. ^ “The Completion of the Restoration Work of the Northern Library of Angkor Wat”. APSARA Authority. 3 tháng 6 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2008. 
  36. ^ Gaylarde CC; Rodríguez CH; Navarro-Noya YE; Ortega-Morales BO (tháng 2 năm 2012). “Microbial biofilms on the sandstone monuments of the Angkor Wat Complex, Cambodia”. Current Microbiology 64 (2): 85–92. doi:10.1007/s00284-011-0034-y. PMID 22006074. 
  37. ^ Guy De Launey (21 tháng 8 năm 2012). “Restoring ancient monuments at Cambodia's Angkor Wat”. BBC. 
  • Michael Freeman, Claude Jacques, Ancient Angkor, Thames & Hudson Ltd, London,trang 12 xuất bản năm 1999.
  • Vương Hồng Sển, Hơn nửa đời hư, Nhà xuất bản trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2003
  • Maurice Glaise, A guide to the Angkor monuments, (translated from French)
  • Jacque Lange, "Angkor, La resurrection du temple montagne", Paris Match no. 2851, 8-19 tháng 1 năm 2004
  • Eleanor Mannikka, Angkor Wat, Time, space and kingship, Allen & Unwin, 1997
  • Michael Freeman, Roger Warner, Angkor, The hidden glories, David Larken book, 1990
  • Jared Diamond, Collapse: How societies choose to fail or succeed, Penguin books, 2005
  • Charles Higham, The civilization of Angkor, University of California Press, 2002
  • George Coedes, The Indianized states of Southeast Asia, East West Center Press, University of Hawaii, 1968
  • Ugo Zoppi et al, The contribution of C14 AMS dating to the greater Angkor archeological project, Poster presented at the AMS-9 conference in Nagoya, September 9-13, 2002
  • Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 1993
  • Phan Vĩnh Thống, Dịch thuật VN-Khmer, Công ty Thai Lai 2009

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]