Lừa vằn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chi Ngựa
Thời điểm hóa thạch: 1.8–0Ma
Pleistocene sớm đến nay
Zero Spots.jpg
Một con lừa văn còn non
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Perissodactyla
Họ (familia) Equidae
Gray, 1821
Chi (genus) Equus

Lừa vằn (Zebroid) là một loài động vật hình thành do sự lai tạo giữa hai loại ngựa vằnlừa, đây là một trong số những loài thú lai giữa lừa và ngựa, chứ không phải là giống lai duy nhất.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Lừa vằn có màu lông của loài lừa, nhưng lại mang những vằn màu đen đặc trưng của ngựa vằn. Quá trình lai tạo giữa một con ngựa vằn đực với một con lừa cái tạo ra một loài thú lai sẽ có tên gọi là Zonkey (lừa vằn), nếu lai tạo giữa một con lừa đực và một con ngựa vằn cái thì con cái của chúng sẽ được gọi là Zedonk. Một chú ngựa Zebroid chính là thành quả của việc lai tạo ngựa vằn với bất kỳ giống ngựa bình thường nào khác. Hầu như mọi trường hợp lai đều cho ra ngựa con có đốm vằn chiếm phần lớn. Thậm chí, con lai chỉ có kích thước chỉ bằng một con khỉ mà thôi, tuy nhiên trường hợp này hiếm xảy ra hơn.

Đây là một trong những loài thú lai tạp hiếm có trên thế giới. Nó được xác định không có khả năng tự sinh sản như những loài khác, mà cần tới sự trợ giúp từ nhiều yếu tố khác. Lừa vằn có lịch sử lai tạo từ lâu và được nhà bác học Charles Darwin ghi chú trong các tác phẩm của mình. Một chú Zebroid đầu tiên chào đời vào thế kỷ 19, chúng rất khác lạ vì màu lông của nó, xen lẫn những vùng vằn đen của ngựa vằn là mảng da trắng muốt.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]