Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2021

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2021
Bản đồ tóm lược mùa bão
Lần đầu hình thành 18 tháng 1
Lần cuối cùng tan Chưa kết thúc
Bão mạnh nhất Surigae – 965 hPa (mbar), 140 km/h (85 mph) (duy trì liên tục trong 10 phút)
Áp thấp nhiệt đới 4
Tổng số bão 2
Bão cuồng phong 1
Siêu bão cuồng phong 0
Số người chết 4
Thiệt hại $16.9 triệu (USD 2021)
Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương
2019, 2020, 2021, 2022, 2023

Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2021 là một sự kiện mà theo đó các xoáy thuận nhiệt đới hình thành ở vùng phía Tây Bắc của Thái Bình Dương trong năm 2021, chủ yếu từ tháng 5-12. Bài viết này chỉ đề cập đến các cơn bão hình thành trong phạm vi của Thái Bình DươngBắc Bán Cầu và từ kinh tuyến 100 đến 180 độ. Bão nhiệt đới hình thành trên toàn Tây Bắc Thái Bình Dương sẽ được đặt tên bởi Cơ quan Khí tượng Nhật Bản JMA. Áp thấp nhiệt đới được Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp JTWC theo dõi sẽ có thêm hậu tố "W" phía sau số thứ tự của chúng. Áp thấp nhiệt đới trở lên hình thành hoặc di chuyển vào khu vực mà Philippines theo dõi cũng sẽ được đặt tên bởi Cục quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines (PAGASA). Đó là lý do đôi khi một cơn bão lại có hai tên gọi khác nhau.

Dự báo mùa bão[sửa | sửa mã nguồn]

Trên toàn khu vực[sửa | sửa mã nguồn]

Trên biển Đông và đất liền Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương và Viện Khoa học KTTV & Biến đổi khí hậu chưa có những nhận định cụ thể do thời hạn dự báo còn tương đối xa. Theo một số mô hình dài hạn thì mùa bão trên biển Đông năm 2021 có thể xuất hiện xoáy thuận đầu tiền sớm hơn TBNN ở Bắc Biển Đông (khoảng tháng 4-5 năm 2021). Vẫn có khả năng xuất hiện khoảng 1 XTNĐ/nhiễu động rớt lại của mùa bão 2020 trên khu vực Giữa và Nam biển Đông trong tháng 1 và 2.2021.

Dự báo cập nhật lần tiếp theo vào tháng 3.2021.

Dòng thời gian[sửa | sửa mã nguồn]

Thang bão Nhật Bản (JMA)[sửa | sửa mã nguồn]

Thang bão Saffir Simpson[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các xoáy thuận nhiệt đới[sửa | sửa mã nguồn]

Áp thấp nhiệt đới [01][sửa | sửa mã nguồn]

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
JMA TD 1 2021-01-19 0512Z.jpg JMA TD 01 2021 track.png
Thời gian19 tháng 1 – 20 tháng 1
Cường độ cực đại<55 km/h (35 mph) (10-min)  1008 hPa (mbar)

Cấp bão (Nhật Bản): 25kts - ATNĐ.

Trong ngày 19 tháng 1, JMA báo cáo một áp thấp nhiệt đới đã phát triển về phía đông của Luzon, Philippines.[1] Tiền thân của áp thấp nhiệt đới mang mưa rào và dông rải rác cho Mindanao, PalawanVisayas vào ngày 18 tháng 1.[2] Áp thấp nhiệt đới cũng mang thời tiết mưa bão đến Luzon vào ngày 20 tháng 1. PAGASA cảnh báo người dân về khả năng xảy ra lũ quét và lở đất do lượng mưa lớn.[3] JMA đã ngừng cảnh báo lên hệ thống cùng ngày hôm đó.[4]

Bão Dujuan (Auring)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Dujuan 2021-02-19 0435Z.jpg Dujuan 2021 track.png
Thời gian16 tháng 2 – 22 tháng 2
Cường độ cực đại75 km/h (45 mph) (10-min)  996 hPa (mbar)

Cấp bão Nhật Bản: 40 kt - 996 hPa - Bão nhiệt đới

Cấp bão Hoa Kỳ: 45 kt - Bão nhiệt đới

Cấp bão Đài Loan: 20 m/s - Bão nhiệt đới

Cấp bão Philipines: 95 km/h - Bão nhiệt đới dữ dội

Cấp bão Trung Quốc: 23 m/s - 990 hPa - Bão nhiệt đới

Cấp bão Hồng Kông: 75 km/h - Bão nhiệt đới

Cấp bão Hàn Quốc: 21 m/s - Bão nhiệt đới yếu

Áp thấp nhiệt đới 03W[sửa | sửa mã nguồn]

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
JMA TD 3 2021-03-14 0454Z.jpg JMA TD 03 2021 track.png
Thời gian14 tháng 3 – 15 tháng 3
Cường độ cực đại<55 km/h (35 mph) (10-min)  1008 hPa (mbar)

Cấp bão (Nhật Bản): 25kts - ATNĐ.

Bão Surigae[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Siêu bão cuồng phong cấp 5 (SSHWS)
2021 JTWC 02W IR satellite imagery.jpg Surigae 2021 track.png
Thời gian12 tháng 4 – Đang hoạt động
Cường độ cực đại230 km/h (145 mph) (10-min)  931 hPa (mbar)

Các xoáy thuận khác[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê mùa bão[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là bảng của tất cả các cơn bão đã hình thành trong mùa bão năm 2021 ở Tây Bắc Thái Bình Dương. Nó bao gồm tên, ngày tháng, sức gió, áp suất, khu vực đổ bộ, thiệt hại và số người chết được biểu thị bằng chữ in đậm. Cái chết trong ngoặc đơn thường là bổ sung hoặc gián tiếp (một ví dụ về cái chết gián tiếp là một tai nạn giao thông), nhưng vẫn sẽ liên quan đến cơn bão đó. Thiệt hại và tử vong bao gồm tổng số người bị tai nạn, sóng hoặc lũ lụt... và tất cả các con số thiệt hại là vào năm 2021 được tính bằng USD

Tên bão Thời gian
hoạt động
Cấp độ cao nhất Sức gió
duy trì
Áp suất Khu vực tác động Tổn thất
(USD)
Số người chết Tham khảo
TD 19-20 tháng 1 Áp thấp nhiệt đới Không xác định 1008 hPa (29.77inHg) Philippines 13.2 triệu &0000000000000001.000000 3
Dujuan (Auring) 16 tháng 2 - 22 tháng 2 Bão nhiệt đới 75 km/h (45 mph) 996 hPa (29.41 inHg) Palau, Philippines 3.2 triệu 1
TD 14 tháng 3 Áp thấp nhiệt đới Không xác định 1006 hPa (29.71 inHg) Philippines &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có
Surigae (Bising) 12 tháng 2 - Chưa kết thúc Bão cuồng phong 140 km/h (85 mph) 965 hPa (28.5 inHg) Không có, Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có
Tổng tỷ số mùa bão
4 xoáy thuận nhiệt đới (Surigae mạnh nhất) 19 tháng 1 – Chưa kết thúc 140 km/h (85 mph) 965 hPa (28.5 inHg) &0000000016500000.000000$16.5 triệu &0000000000000004.0000004

Tóm Tắt mùa bão[sửa | sửa mã nguồn]

Tên quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Các xoáy thuận nhiệt đới được đặt tên theo danh sách bên dưới do Trung tâm Khí tượng Chuyên ngành Khu vực ở Tokyo, Nhật Bản, khi một xoáy thuận đạt đến cường độ bão nhiệt đới.[5] Các tên gọi do các thành viên của ESCAP/WMO Typhoon Committee đề xuất. Mỗi nước trong số 14 nước và vùng lãnh thổ thành viên đưa ra 10 tên gọi, được sử dụng theo thứ tự ABC, bằng tên tiếng Anh của quốc gia đó.[6] Sau đây là 24 tên gọi dự kiến sẽ đặt tên cho các cơn bão năm 2021 (nếu sử dụng hết sẽ tiếp tục lấy các tên bão kế tiếp trong danh sách 140 tên bão của khu vực):

  • Dujuan (2101)
  • Surigae (2102)
  • Choi-wan (chưa sử dụng)
  • Koguma (chưa sử dụng)
  • Champi (chưa sử dụng)
  • In-fa (chưa sử dụng)
  • Cempaka (chưa sử dụng)
  • Nepartak (chưa sử dụng)
  • Lupit (chưa sử dụng)
  • Mirinae (chưa sử dụng)
  • Nida (chưa sử dụng)
  • Omais (chưa sử dụng)
  • Conson (chưa sử dụng)
  • Chanthu (chưa sử dụng)
  • Dianmu (chưa sử dụng)
  • Mindulle (chưa sử dụng)
  • Lionrock (chưa sử dụng)
  • Kompasu (chưa sử dụng)
  • Namtheun (chưa sử dụng)
  • Malou (chưa sử dụng)
  • Nyatoh (chưa sử dụng)
  • Rai (chưa sử dụng)
  • Malakas (chưa sử dụng)
  • Megi (chưa sử dụng)

Tên địa phương của Philippines[sửa | sửa mã nguồn]

Khi một xoáy thuận nhiệt đới đi vào khu vực PAGASA theo dõi sẽ được đặt tên bằng danh sách tên bão riêng của họ
  • Cục quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines (PAGASA) sử dụng danh sách tên bão riêng của họ để đặt cho một xoáy thuận nhiệt đới khi nó đi vào khu vực theo dõi của họ. PAGASA đặt tên cho áp thấp nhiệt đới đã hình thành trong khu vực theo dõi của họ và những xoáy thuận nhiệt đới di chuyển vào khu vực theo dõi của họ. Nếu danh sách các tên trong năm đó bị sử dụng hết, tên sẽ được lấy từ một danh sách phụ trợ, và danh sách tên bão sẽ được đưa ra trước khi mùa bão bắt đầu. Các tên được lấy từ một danh sách các tên, được sử dụng lần cuối trong năm 2017 và được lên kế hoạch sử dụng lại trong năm 2025. Tất cả các tên đều giống nhau ngoại trừ Uwan, Verbena, thay thế tên Urduja và Vinta sau khi bị khai tử.
  • Auring (2101)
  • Bising (2102)
  • Crising (chưa sử dụng)
  • Dante (chưa sử dụng)
  • Emong (chưa sử dụng)
  • Fabian (chưa sử dụng)
  • Gorio (chưa sử dụng)
  • Huaning (chưa sử dụng)
  • Isang (chưa sử dụng)
  • Jolina (chưa sử dụng)
  • Kiko (chưa sử dụng)
  • Lannie (chưa sử dụng)
  • Maring (chưa sử dụng)
  • Nando (chưa sử dụng)
  • Odette (chưa sử dụng)
  • Paolo (chưa sử dụng)
  • Quedan (chưa sử dụng)
  • Ramil (chưa sử dụng)
  • Salome (chưa sử dụng)
  • Tino (chưa sử dụng)
  • Uwan (chưa sử dụng)
  • Verbena (chưa sử dụng)
  • Wilma (chưa sử dụng)
  • Yasmin (chưa sử dụng)
  • Zoraida (chưa sử dụng)

Danh sách phụ trợ

  • Alamid (chưa sử dụng)
  • Bruno (chưa sử dụng)
  • Conching (chưa sử dụng)
  • Dolor (chưa sử dụng)
  • Ernie (chưa sử dụng)
  • Florante (chưa sử dụng)
  • Gerardo (chưa sử dụng)
  • Hernan (chưa sử dụng)
  • Isko (chưa sử dụng)
  • Jerome (chưa sử dụng)

Số hiệu cơn bão tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Việt Nam một cơn bão được đặt số hiệu khi nó đi vào vùng thuộc phạm vi theo dõi của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương được xác định trên biển Đông phía Tây kinh tuyến 120 độ kinh Đông và phía bắc vĩ tuyến 5 độ vĩ Bắc. Số hiệu của bão được đặt theo số thứ tự xuất hiện của nó trong năm ví dụ: Bão số 1, bão số 2,...

Tính đến 01/01/2021, trên biển Đông chưa xuất hiện cơn bão và áp thấp nhiệt đới nào được nước ta công nhận.

Dưới đây là các cơn bão đã được Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương đặt số hiệu trong năm 2021 (kèm theo là vùng đổ bộ):

Chú ý
  • Nếu bão ở trên biển Đông đang hoạt động mà chưa đến đất liền thì được coi như là Chưa đổ bộ, còn nếu bão vào đất liền thì được coi như là Đổ bộ vào tỉnh nào/Khu vực nào. Tỉnh ven biển đầu tiên mà tâm bão đi qua tại Việt Nam được tính là nơi đổ bộ chính thức của bão ở nước ta.

Lưu ý

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “WWJP27 RJTD 191800”. Japan Meteorological Agency. 19 tháng 1 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2021.
  2. ^ Cristina Arayata (18 tháng 1 năm 2021). “LPA, ITCZ to bring scattered rains Monday”. pna.gov.ph. Philippine News Agency. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2021.
  3. ^ Acor Arceo (20 tháng 1 năm 2021). “Parts of Luzon rainy due to LPA off Aurora, tail-end of frontal system”. rappler.com. Rappler. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2021.
  4. ^ “Warning and Summary 201200”. Japan Meteorological Agency. 20 tháng 1 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2021.
  5. ^ Gary èPadgett. “Monthly Tropical Cyclone summary December 1999”. Australian Severe Weather. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2008.
  6. ^ “Tropical Cyclone names”. JMA. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2008.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]