Mehmet Topal

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Mehmet Topal
Mehmet Topal 2013 1.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Mehmet Topal
Ngày sinh 3 tháng 3, 1986 (33 tuổi)
Nơi sinh Malatya, Thổ Nhĩ Kỳ
Chiều cao 1,87 m (6 ft 1 12 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Fenerbahçe
Số áo 5
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1999–2002 Malatyaspor
2002–2004 Dardanelspor
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2004–2006 Dardanelspor 41 (4)
2006–2010 Galatasaray 82 (2)
2010–2012 Valencia 43 (1)
2012– Fenerbahçe 187 (15)
Đội tuyển quốc gia
2006–2007 U-21 Thổ Nhĩ Kỳ 13 (1)
2008– Thổ Nhĩ Kỳ 80 (2)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 11 tháng 9 năm 2018
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 17 tháng 11 năm 2018

Mehmet Topal (sinh ngày 3 tháng 3 năm 1986) là một cầu thủ người Thổ Nhĩ Kỳ hiện đang chơi cho CLB Fenerbahçe. Vị trí của anh là Tiền vệ phòng ngự và anh mang số áo 14. Anh ký hợp đồng vào tháng 9 năm 2006 từ Çanakkale Dardanelspor cùng ngày Galatasaray cũng ký 1 hợp đồng với Junichi Inamoto. Anh chỉ ra sân thỉnh thoảng vài lần trong mùa giải đầu tiên để cố gắng tạo ra một tự điều chỉnh cho câu lạc bộ mới.

Có một sự thay đổi tình cờ in sâu trong đội hình chính của Galatasaray bởi 1 điều kiện xương chậu tồi tệ hiếm có đã làm tuyển thủ Thụy Điển Tobias Linderoth chấn thương, đối với tiền vệ phòng ngự 22 tuổi là một việc may mắn. Vì thế, Linderoth bị loại vào tháng 10, anh đã thúc giục huấn luyện viên người Đức Karl-Heinz Feldkamp chọn cầu thủ 22 tuổi là sự lựa chọn số 1. Đó là một thí nghiệm thành công, dù Topal đã rất biết ơn cầu thủ người Thụy Điển, đã nói: "Anh ấy đã giúp tôi nhiều, Cho tôi biết những khoảng trống mà tôi có thể cải thiện và làm thế nào làm được điều đó. Đáng buồn là, tôi đạt được thay đổi này qua chấn thương của anh ấy nhưng tôi muốn anh ấy bình phục trong thời gian ngắn nhất có thể."

Có khả năng chơi tốt ở cả vị trí tiền vệ trung tâm lẫn tiền vệ cánh phải, Topal có thể sử dụng cả hai chân, bình tĩnh dưới những sức ép và có 1 đóng góp mãnh liệt từ khoảng cách.

Anh được đặt biệt danh là Örümcek (Nhện) bởi khả năng dùng đôi chân dài để kéo bóng hoặc cắt những dường chuyền.

Vào tháng 4 năm 2008 anh gia hạn hợp đồng với Galatasaray thêm 5 năm cho tới 31 tháng 5 năm 2013.

Anh đã đoạt chức vô địch Giải vô địch bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ 2007-08 với Galatasaray và được gọi vào đội tuyển Thổ Nhĩ Kỳ dự hai kỳ EURO 2008EURO 2016.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 20 tháng 5 năm 2018[1][2]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia Châu Âu Tổng cộng
Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng
Dardanelspor 2004–05 9 1 - - - - 9 1
2005–06 30 3 1 0 - - 31 3
Tổng cộng 39 4 1 0 0 0 40 4
Galatasaray
2006–07 11 0 2 0 4 0 17 0
2007–08 26 1 8 1 5 0 39 2
2008–09 21 1 5 0 6 0 32 1
2009–10 24 0 4 0 8 1 36 1
Tổng cộng 82 2 19 1 23 1 124 4
Valencia
2010–11 23 1 1 0 5 0 29 1
2011–12 20 0 1 0 9 2 30 2
Tổng cộng 43 1 2 0 14 2 59 3
Fenerbahçe
2012–13 27 3 8 1 16 0 51 4
2013–14 27 3 1 0 3 0 31 3
2014–15 33 2 8 2 0 0 41 4
2015–16 33 1 7 0 13 2 53 3
2016–17 29 4 5 0 11 0 45 4
2017–18 29 2 8 1 4 0 41 3
Tổng cộng 178 15 37 4 47 2 263 21
Tổng cộng sự nghiệp 349 22 59 5 84 5 485 32

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 17 tháng 11 năm 2018[3]
Thổ Nhĩ Kỳ
Năm Số lần ra sân Số bàn thắng
2008 11 0
2009 2 0
2010 3 0
2011 6 0
2012 10 0
2013 8 0
2014 6 0
2015 8 0
2016 13 1
2017 6 0
2018 7 1
Tổng cộng 80 2

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 29 tháng 5 năm 2016 Antalya Arena, Antalya, Thổ Nhĩ Kỳ  Montenegro 1–0 1–0 Giao hữu
2 23 tháng 3 năm 2017 Antalya Arena, Antalya, Thổ Nhĩ Kỳ  Cộng hòa Ireland 1–0 1–0 Giao hữu

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Mehmet Topal” (bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ). Mackolik. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2012. 
  2. ^ “M. Topal”. Soccerway. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  3. ^ “Mehmet Topal”. European Football. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2015.